THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC THẾ GIỚI

Trần Đình Sử

Thơ Hồ Xuân Hương đã được nói đến rất nhiều, lần này khó mà nói được  điều gì mới. Bài này chỉ gợi lên một vài khía cạnh nào đó thôi.

Nói đến thơ Hồ Xuân Hương (1772 – 1822), nhiều người nghĩ ngay đến loại thơ truyền tụng có tính sắc dục của bà. Có người nói đến “36 cái nõn nường”, hay “hoài niệm phồn thực”. Thực ra thơ Hồ Xuân Hương rất đa dạng, nhiều loại, mà thơ truyền tụng chỉ là một loại trong đó. Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương kí rõ ràng là thơ trữ tình đặc sắc cả chữ Hán và chữ Nôm, theo dự đoán của Hoàng Xuân Hãn là thơ tuyển bà làm lúc đã có tuổi, còn thơ truyền tụng có thể là thơ làm lúc còn trẻ, đùa vui hồn nhiên cùng bạn hữu, được truyền tụng, cuối cùng lại là dòng thơ chính làm nên sức sống và tên tuổi vang dội của bà. Có người hoài nghị thơ tryền tụng do người khác làm rồi gán cho bà, nhưng sự thật, không phải ai cũng có một tài thơ xuất chúng để có thế sáng tạo ra những bài thơ bất hủ như vậy được, nếu không phải do bàn tay của một thiên tài. Chúng “thể hiện một tư tưởng nhân văn/ nhân bản mang tính nhân loại sâu sắc với hạt nhân là đấu tranh đòi quyền sống cho con người”, “một quan niệm văn hóa và thẩm mỹ độc đáo chưa từng có về các nhu cầu cơ bản của con người như tính dục, đời sống bản năng, trần tục” dưới chế dộ phong kiến với tư tưởng nho giáo kiềm tỏa nặng nề, “ca ngợi nồng nhiệt sự sống, sự lạc quan, yêu đời” (Theo Nghị quyết của Unesco ngày 23- 11- 2021).

Tư tưởng nhân văn mang tầm nhân loại này dĩ nhiên không chỉ một mình Hồ Xuân Hương có, mà đã có tự ngàn xưa. Tư tưởng cổ xưa nhất của Trung Quốc là “quý thân”, xem thân thể là cái quý giá nhất. Mạnh Tử từ cổ xưa đã khẳng định: “Hiếu sắc là cái dục của con người”, “Thích ăn và hiếu sắc là bản tính của con người”. Đến Tuân Tử thì đối lập Thân và Tâm, Tâm sai khiến Thân, chủ trương tu Thân, đưa thân thể vào khuôn phép, những gì phi lễ thì không được nghe, không được nhìn, thậm chí phụ nữ phải bó chân, bó ngực.  Ở phương Tây theo Nietzsche, triết học đã xuyên tạc quan hệ thân thể và tâm hồn, đã đến lúc nói ngược lại, thân thể quy định tâm hồn. Và trong thực tế, đặc biệt là trong văn học, nghệ thuật, cảm quan thân thể được tự nhiên khẳng định, dần dần chiếm ưu thế, và trong xu hướng đó, chúng ta ngày càng thêm hiểu giá trị văn học của thơ Hồ Xuân Hương.

Trong văn học nhân loại có một dòng văn học mang yếu tố sắc dục. Thời phong kiến Trung Quốc gọi là “dâm thư”. Mao Thuẫn gọi là văn học “tính dục”, nhưng không ổn. Có người gọi là văn học “diễm tình”, hiện đang lưu hành. Có người nói văn học học “có yếu tố sắc dục”. Chúng tôi tạm theo cách gọi đó. Văn học đó truyền thống phương Tây gọi là “erotica”, “Erotic Poetry”, từ này có khi dịch thành diễm tình, có khi dịch thành khiêu dâm. Diễm tình, Erotic là một thứ tình yêu nam nữ diễn ra do mê đắm sắc đẹp, và rời khỏi quan niệm chính thống, đạo đức. Nó có bốn đặc điểm: 1. Sức hút nam nữ theo thiên tính tự nhiên, không bị quy phạm ràng buộc; 2.Nó hướng về hình thức đẹp và tình cảm tinh thần; 3.Cái đẹp là sức hút duy nhất và kèm theo nỗi buồn; 4. Được thể hiện trong hình thức ngôn từ đẹp. Ở phương Tây nó thể hiện trong các tác phẩm từ Biến hình đến truyện Mười ngày và nhiều tác phẩm khác. Đến văn học hiện đại thì chỉ cần nhắc đên tên các tác phẩm như Moll Franders của Defoe, Nana của Zola, Lady Chatterleys lover của D. H. Lawrence, Những cặp vợ chồng của Henry Miller, L’amant Marguerite Duras, Tiếng chim hót trong bụi mận gai của Colleen McCullough, Đời nhẹ khôn kham của Milan Kundera, Hạt cơ bản của Michel Houellebecq, Rừng Nauy của Haruki Murakami, Lolita của Vladimir Nabokov…thì đủ biết. Theo cách nói của D. H. Lawrence nói: “Kì thực, tính dục và cái đẹp là đồng nhất, giống như ngọn lửa và lửa vậy. Nếu anh ghét tính dục thì cũng có nghĩa anh ghét cái đẹp, Nếu anh yêu cái đẹp sống động, thì anh sẽ kính trọng tình dục.”

Văn học Trung Quốc có truyền thống văn học sắc dục rất lâu đời. Có thể tính từ Du tiên khốc đời Đường của Trương Văn Thành viết theo lối biền ngẫu, sau có Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú của Bạch Hành Giản, em ruột Bạch Cư Dị, kể cuộc hành lạc của 13 loại người, từ kẻ tân hôn cho đến vua chúa; đến đời Minh Thanh thì cực thịnh mà ai cũng biết Kim Bình MaiHồng lâu mộng. Một tài liệu thống kê cho thấy Trung Quốc đã có khoảng 112 tác phẩm loại này. Đặc điểm chung là đề cập đến các bộ phận gợi cảm của thân thể và hoạt động tính giao nam nữ. Ví dụ tác phẩm Hội Chân kí của Nguyên Chẩn đời Đường đã miêu tả nguyên một cuộc: “Chòng ghẹo, lúc đầu chống. Đắm đuối ngầm đồng lòng. Cúi đầu bóng ve động, Trở bước bụi ngọc rung. Quay mặt tuyết hoa chảy, Lên giường ôm gối chăn. Uyên ương vươn cổ múa. Phỉ thúy vui trong lồng. Mày xanh thẹn khẽ nhíu, Môi hồng ấm hòa chung. Khí thanh nhị lan ngát, Da mịn thịt đầy dâng, Bất lực tay khôn đẩy, Nồng nàn khẽ khom lưng, Mồ hôi lấm tấm sáng, Tóc rối xanh bềnh bồng. Vui thú vừa gặp mặt, Chốc đà hết năm canh.” Văn chương tình dục Trung Quốc là thứ trái cấm đối với nho giáo. Học giả Trung Quốc Lâm Thìn nghiên cứu tổng kết miêu tả yếu tố sắc dục ở 17 điểm như sau: 1. Tả sinh thực khí; 2. Tả quá trình tính giao; 3.Tả phương pháp; 4. Tả các tư thế; 5. Tả tiếng nói, âm thanh; 6. Kể các thuật chiến đấu; 7. Kể các dụng cụ; 8.Kể các thuộc kích thích; 9. Kể các thủ đoạn lừa, ép; 10. Kể tâm lí tình dục; 11. Kể về tổ chức đời sống tình dục; 12. Đồng tính; 13. Nhiều người giao hợp; 14.Kể việc nhìn trộm; 15. Kể truyền kinh nghiệm; 16. Các phương thức khác; 17. Thuật lấy âm bổ dương. Văn chương tính dục Trung Quốc thiên về tả thực. Thơ Trung Quốc hiện đại vẫn có rất nhiều bài miêu tả rất chân thực và xúc động.

Trong văn học Ấn Độ cổ đại “diễm tình” là “vị” (rasa) hàng đầu trong tám “vị” của văn học. Ở đây tính linh thiêng và tính thế tục hòa nhập làm một, thể hiện trong tranh, tượng ở các đền đài và trong văn học. Trong tập Biển thơ Sūrasāgara của Suradasa, rất tiêu biểu cho thơ vừa tràn đầy ái dục (rati), vừa rất kiền thành. Họ tin vào thần đêm đen (thần Krishna màu đen). Ví dụ bài 634: “Ngắm chàng đen khắp thân thể, Cười ôm chặt nàng vào lòng, Hai hàm răng cắn đôi môi, Tay nâng cằm lên ngắm, Hai chiếc mũi dán vào nhau, Hai mắt như dán chặt, Lúc đó người tình nhìn xuống ngực, lúc đó như muốn dằng ra.”[1] Tình dục không không chỉ là bản năng con người, mà còn là niềm tin tôn giáo. Ta có thể nhìn thấy bức ảnh/tượng thần Shiva ôm thần nữ trong tư thế giao hợp kéo dài cả triệu năm. Trong sách Ánh sáng của thơ của Mammata (thế kỉ XI) có nêu hai bài thơ: “Thấy trong nhà vắng vẻ, Cô dâu ngồi dậy liền, Ngắm chồng nàng đang ngủ, Không biết chàng giả vờ. Nàng hôn chồng thắm thiết, Thấy lông chàng dựng lên, Nàng thẹn vội cúi đầu, Chàng hôn nàng thật lâu.” “Người đẹp ơi, Dù em không mang yếm, Thì em cũng đẹp rồi. Người tình vừa nói, vừa chạm nút áo nàng. Bạn gái ngồi bên cạnh, e thẹn cười với nhau, Mỗi người tìm một cớ, Rồi tản mác đi đâu.” Văn học Ấn Độ rất công khai, dạn dĩ.

Văn học Nhật Bản “Diễm” là một trong mười phạm trù thẩm mĩ của họ, như Chân ngôn, Khả tiếu, Ai liên, Vật ai liên, Dư tình, U huyền, Hữu tâm, Tịch, Ý khí. Diễm tình biểu hiện đầy đủ nhất từ trong Truyện chàng Ghenji. Người Nhật yêu thân thể và hưởng thụ thân thể một cách nghệ thuật. Vì vậy thơ, tiểu thuyết về diễm tình Nhật Bản rất phong phú, chẳng hạn tiểu thuyết của Isunari Kawabata và Haruki Murakami.

Văn học Việt Nam có yếu tố sắc dục có lẽ bắt đầu với truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh  Nam chích quái với truyện có cội nguồn truyền thuyết Krishna, thần đêm đen của Ấn Độ có thể tiếp nhận qua con đường Chămpa. Hà Ô Lôi toàn thân đen nhánh. Chủ yếu miêu tả về thú thanh sắc và sức lôi cuốn của nó với câu tuyên ngôn: “Chết về thanh sắc cam là chết, Chết việc ốm đau cơm gạo nào”. Săc dục gắn liền với cái đẹp, với tiếng hát hay làm mê đắm lòng người. Tuy có cội nguồn Ấn Độ nhưng lại có Lã Động Tân, đậm màu sắc Đạo giáo. Truyền kì mạn lục là tác phẩm thứ hai đánh dấu yếu tố sắc dục trong văn học Việt Nam, có thể là ảnh hưởng từ Trung Quốc qua tác phẩm của  Cù Hựu đời Nguyên. Tuy người kể chuyện thường đem đạo đức nho giáo mà phê phán, song bản thân câu chuyện và sự miêu tả thì lại khêu gợi niềm hứng thú sắc dục. Ví dụ như bài thơ của nàng Liễu: “Mồ hôi dâm dấp áo là, Mày xanh đôi nét tà tà như chau, Gió xuân xin nhẹ nhàng nhau, Thân non mềm chịu được đâu phũ phàng.” Trước đó trong Thánh Tông di thảo cũng có truyện Duyên lạ xứ hoa có chút miêu tả. Phần lớn truyện mang tình chất phê phán đạo đức nho giáo.

Phải sang thế kỉ XVIII, khi văn học Việt nam có sự thức tỉnh về “chữ thân” (thân thể) thì văn học có yếu tố sắc dục mới xuất hiện rầm rộ. Tôi cho rằng đây là sắc dục bản địa. Yếu tô sắc dục khá đậm trong Truyện Song Tinh, trong Truyện Hoa tiên, trong Cung oán ngâm khúc, thấp thoáng trong Chinh phụ ngâm. Trong Truyện Kiều cũng có hình ảnh đậm (Xem bài viết của tôi Tình dục trong Truyện Kiều).

Thơ Hồ Xuân Hương tạo thành hiện tượng đột xuất của giai đoạn thứ ba trong việc biểu hiện nội dung sắc dục trong truyện Nôm và thơ Nôm. Song chỉ trong thơ Hồ Xuân Hương nó mới được biểu hiện nổi bật. Thơ bà có nhiều loại từ vịnh vật, vịnh người, vịnh cảnh, vịnh sinh hoạt hầu hết đều có tính song quan, hai nghĩa.  Một nghĩa là khách thể văn học, phong cảnh, sinh hoạt, đồ vật, nghĩa hàm ẩn là thân thể phụ nữ, sinh thưc khí, tình dục. So với 17 điểm miêu tả mà học giả Trung Quốc Lâm Thìn đã nêu ở trên, thì mức độ miêu tả của Hồ Xuân Hương rất thấp, chỉ có ba điểm, mà lại rất mờ, chủ yếu là khêu gợi, chứ không bao giờ hoàn toàn tả thực, không đi quá ranh giới thẩm mĩ. Nếu trong văn học dân gian có cách đố tục giảng thanh thì thơ bà ngược lại, đố thanh mà giảng có phần tục, mà xét cho cùng cũng không có gì là tục, bởi nó là phần của thân thể và hoạt động sống bình thường của con người.

Nói về thưởng thức vẻ đẹp thân thể người phụ nữ, các học giả Trung Quốc từ Lâm Ngữ Đường đến Giang Hiểu Nguyên đều xác nhận rằng người Trung Quốc thiếu truyền thống thưởng thức ấy. Ông Cừu Thập Châu đời Minh nổi tiếng vẽ phụ nữ khỏa thân mà bộ ngực phụ nữ trong tranh của ông trông như làm bằng những củ khoai tây, không hề có chút gợi cảm. Quan niệm “nam nữ chi đại phòng” càng ngăn cản người ta ngắm nhìn vẻ đẹp khỏa thân của phái nữ. Trong các tiểu thuyết chi có motiv xem tắm là được sử dụng nhiều, mà cách miêu tả thường chỉ là: “xương nhỏ, thịt đầy”, “vai nhỏ da mịn”, “tay nhỏ, ngón mềm như lá xanh mới nhú”, “cổ như con thiên ngưu”, “tóc dài đen nhánh cổ cao dựng”, “mắt sáng mày xanh”…Chỉ có Dương Thận trong sách Tạp sự mật tân (đời Minh) là miêu tả theo lối tả thực thân thể phụ nữ từ đầu đến chân, cụ thể đến mỗi thứ dài mấy phân, mây tấc, như tiêu chí hoa hậu, nhưng lại có cảm tưởng như là tả theo cách giải phẩu học, mất hết hứng thú. Không bằng một câu của Nguyễn Du “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.

Bức lõa thể của Xuân Hương là Thiếu nữ (1) là một bức tranh đẹp một cách tinh khôi, tao nhã. “Lược trúc biếng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long. Đôi gò bồng đảo hương còn ngậm, Môt lạch đào nguyên suối chửa thông”[2].

Thứ hai là miêu tả cơ quan tính dục và hoạt động tính dục. Trong văn chương Việt Nam có lẽ Hồ Xuân Hương mới có công khai miêu tả các nội dung này. Trong bài Tranh Tố Nữ bà trách người thợ vẽ khéo vô tình, không vẽ “cái thú vui kia”, phải xem như một quan niệm mới, và thơ của bà công khai khêu gợi thú vui ấy. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã nêu rõ các các biểu trưng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương trong sách Hoài niệm phồn thực. Song phồn thực chỉ là cái lớp mẫu cổ xa xưa mà thôi. Đặc sắc của yếu tố sắc dục trong thơ Hồ Xuân Hương không hề mang dấu vết của đạo giáo, âm dương trong văn hóa tính dục Trung Quốc, mà thuần túy một niềm vui tự nhiên, hồn hậu, mang tính bản năng. Thơ của bà cũng không mang yếu tố nho giáo, xem tính dục như là dâm uế, tục tĩu. Đạo đức phong kiến xem dâm là cái đứng hàng đầu trong muôn cái ác (vạn ác dâm vi thủ). Hàm ý chữ dâm rất rộng – quan hệ tính dục không chính đáng đã đành, mà luyến ái tự do, các quan hệ xác thịt cũng đều bị coi là dâm đãng. Thậm chí ham muốn khoái cảm không nhằm sinh con đẻ cái cũng là dâm. Quan hệ vợ chồng, nếu vi phạm cấm kị (ví dụ vào ngày rằm, mồng một) cũng là dâm. Chữ dâm còn chỉ các thơ văn, tranh ảnh về đề tài tính dục, ví như dâm thư, dâm họa, dâm kịch. Có ý thích nam, nữ là đã dâm rồi, gọi là dâm ý.  Khái niệm “dâm ý “ được các nhà đạo học Minh Thanh nói nhiều. Trong Liêu Trai chí dị có truyện Tiếng người trong con ngươi, nhân vât Phương Đống vì thấy người đẹp, ngắm không rời mắt, mà bị trừng phạt mù mắt. Tác phẩm văn học như Tây sương kí, Hồng lâu mộng của Tàu, Chinh phụ, Cung oán, Truyện Kiều, Hoa tiên, Song tinh… cũng đều thuộc loại dâm ý hết. Nhà lí luận Chu Đông Nhuận gọi dâm ý là tính dục cao cấp, bằng tư tưởng, ngôn ngữ. Trong sách Bảng công tội thập giới thì nói đến dung mạo phụ nữ là một tội, thấy ngươì đẹp mà quyến luyến là là một tội, nằm mơ là một tội, nhớ lại giấc mơ là năm tội, làm sách kể lại chuyện ấy là vô lượng tội. Dĩ nhiên các nhà văn xưa nay đều coi thường quan niệm hũ bại phản tự nhiên ấy. Các nhà đạo học Trung Quốc xem Hồng lâu mộng là đứng đầu về dâm ý. Thơ Hồ Xuân Hương đương nhiên thuộc loại đứng đầu bảng dâm ý ở Việt Nam, nhưng không phải dâm ý theo nghĩa phủ định, mà theo ý nghĩa khẳng định niềm sinh thú tự nhiên, nhân bản ở đời. Nói cách khác cái quan niệm xem thơ họ Hồ là dâm, tục chỉ là quan niệm đạo học phong kiến hủ bại không hơn không kém, ngày nay không ai thèm đếm xỉa.

     Cái mẫu gốc phồn thực thì không mới, mà cách biểu hiện thì rất mới lạ. Ví dụ bài Thiếu nữ ngủ ngày là một bức tranh lỏa thể sáng tạo. Xưa nay chưa ai từng gọi “đôi gò bồng đảo” hay “lạch đào nguyên”, mà Hồ Xuân Hương vừa gọi lên là thành hình ảnh đầy mới mẻ ai cũng hiểu và thích thú chấp nhận theo cái nghĩa là cõi tiên xa xôi, niềm mơ ước bổng nhiên hiện ra trước mắt.Bài Bánh trôi nước, vừa cái hình ảnh bầu ngực người phụ nữ cũng là hình ảnh thân thể, cuộc đời chìm nổi và nỗi lòng của họ.

Đặc sắc nghệ thuật của thơ Hồ Xuân Hương dù là vịnh người, vịnh vật, vịnh phong cảnh, vịnh hoạt động làm ăn, vịnh cảnh gia đình, đều là vừa ẩn dụ, vừa biểu tượng, vừa có chút tả thực. Ví như bài Quả mít. Những từ như da nó xù xì, múi nó dày, đóng cọc, măn mó, nhựa ra tay…đều có ý tả thực. Bài nào cũng có chữ tả thực. Ví như Đèo Ba dội, Kẽm trống với những từ như lun phún, đầm đìa, rộng thùng, nỗi bưng bồng. Những động tác giàu khêu gợi.  Nói là thơ bà có tính chất câu đố, không phải đố tục giảng thanh, mà ngược lại đố thanh mà giảng tục. Và cũng không nhằm đánh đố, bởi thơ bà có tính chất công khai, vừa kín vừa hở, vừa gợi. Trong bài Cái quạt : “Chành ra ba góc da còn thiếu, Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.”, những da, thịt cho ta thấy không phải là cái quạt. So với thơ ca Trung Quôc cùng loại thì thơ Hồ Xuân Hương kín đáo và thẩm mĩ thú vị hơn nhiều. Chẳng hạn nếu đem so sánh bài Đánh cờ mà Phùng Mộng Long đời Minh sưu tầm với bài Dệt cửi của  Hồ Xuân Hương thì thơ Hồ Xuân Hương hay hơn hẳn. Bài của Phùng Mộng Long chép như sau: “Khi buồn chán đem cờ ra đánh, Chàng làm sĩ tượng gánh vác việc nhà, Tiểu tốt một lòng tiến tới, không biết cúi đầu, Đi xe cho thẳng không lệch như mã, Nếu ai quấy rối tình ta, thì ta liền cho pháo một quả.” Hay bài Trêu nhau: “Anh chặn em ngoài cửa, Cắn vào hai má em thơm. Hai tay cởi giải lụa hương, Anh ơi chờ cho một chút, Em sợ có người tới kia. Chờ họ đi khuất cái đã, Rồi thì  tùy anh muốn cởi.” Bài Gọi Mai Hương như sau: “Ốm tương tư khiến hồn vía phiêu diêu, Nửa đêm thức dậy gọi Mai Hương. Em ơi, lên giường vác chân cho chị, Mai Hương bảo chị tôi thật lẩn thẩn, Thiếu cái ấy em là sao cho đặng?” Phùng Mộng Long phê: Bài này tục quá, nhưng do tục nên mới đáng ghi. Nhưng bài tục như thế hầu như không có gì là chất thơ cả. Nói chung thơ trong tập Quải nhi chi của Phùng Mộng Long thiên hẳn về tính dục thô tục và không có chất thơ. Thơ ca Trung Quốc tuy rất phong phú và giàu có, song không có được nhà thơ nữ độc đáo và tài hoa như Hồ Xuân Hương.

    Điều khác biệt của Hồ Xuân hương là thơ có yếu tố sắc dục của bà chỉ là một bộ phận trong thơ truyền tụng, và luôn luôn đậm đà chất thơ. Đứng trước cảnh vật thi sĩ luôn luôn tỏ ra sự ngạc nhiên trước sự lạ lùng, biến hóa của tạo hóa. Chất thơ trong bài khiến người ta ngắm nghía, thể nghiệm và rút ra một điều cảm thán, cảm xúc, một suy nghĩ gì đấy, khi thì vui, lúc lại buồn, đặc biệt là buồn, khi lại khẳng định, khi thì phê phán. Điều này tuyệt đối không được lầm lẫn.

    Thơ của bà không chuyên về một phương diện nhục cảm, mà trước hết bà là một nhà thơ trữ tình với cái tôi cô đơn, số phận thiệt thòi, khát khao hạnh phúc. Bà  còn có những bài nói về cuộc sống gia đình, số phận người làm lẽ, chế nhạo kẻ dốt nát, những bài thơ khóc chồng, những bài thơ bỡn cợt, những bài thơ thù tạc, đối đáp với các bạn trai. Ở trong loại thơ này ta thấy một nhà thơ kiêu hãnh, không hề có mặc cảm thua lép của người phụ nữ dưới chế độ trọng nam khinh nữ. Đây là điều rất hiếm có trong tất cả các nhà thơ nữ thời trung đại Việt Nam. Dưới thời trung đại người phụ nữ không chồng mà chữa bị khinh bỉ và chịu phạt nặng nề như thế nào, mà đối với Xuân Hương, trong bài Không chồng mà chửa thì bà ngẩng cao đầu thách thức : “Quản bao miệng thế lời chênh lệch. Không có, nhưng mà có mới ngoan.” Chữ “ngoan” đây phải hiểu theo nghĩa ngược lại, tức là ngoan cố, ngoan cường. Lời xưng “đây” với “đó” trong bài Đề đền Sầm Nghi Đống cũng cho thấy ý thức bình đẳng nam nữ rất cao. Trong các bài Chùa Quán sứ, Động hương tích, Hang Thánh hóa, Hang Cắc cớ… không chỉ có nội dung khêu gợi sắc dục, mà còn có ý châm biếm, giễu cợt các đấng tu hành giả tạo: “Quán sứ sao mà khách vắng teo, Hỏi thăm sự cụ đáo nơi neo?” hoặc Động Hương tích thì : “Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Rõ khéo trời già khéo dở dom.” Đặc biệt bà ghét loại sư hổ mang. Trong bài thơ Sư hổ mang bà đã lạ hóa bằng cách vật hóa nhân vật, biến các biểu hiện của nhân vật thành vô nghĩa. Bài thơ còn nhại các việc làm và cái giọng tụng kinh niệm phật bề ngoài rất thần tình: “Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe, Giòng hì, giọng hỉ, giọng hi ha”, “Tu lâu có lẽ lên sư cụ, Ngất nghễu tòa sen nọ đó mà”.  Đã yêu thế tục thì tất thấy tu hành diệt dục là một cái gì trái với bản tính tự nhiên của con người. Chỗ này Hồ Xuân Hương gặp gỡ với Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Bài Đá ông chồng bà chồng thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với hóa công: “Khéo khéo bày trò Tạo hóa công, Ông chồng đã vậy lại bà chồng.Từng trên tuyết điểm phơ đầu bạc, Thớt dưới sương pha đượm má hồng. Gan nghĩa giải ra cùng nhật nguyệt, Khối tình cọ mãi với non sông. Đá kia còn biết xuân già dặn, Chả trách người ta lúc trẻ trung.” Hầu như tất cả các bài thơ về hang động bà đều khen tài tạo hóa tức là khen cái tự nhiên, mà tự nhiên là đẹp. Với tư tưởng tự nhiên ấy, Hồ Xuân Hương xem Người vô âm nữ là là một lỗi của tạo hóa.

   Cuối cùng không thể bỏ qua thơ tự tình của bà. Qua các bài thơ như Tự tình III của bà, ta thấy nỗi cô đơn của người nữ khi thời gian vô tình trôi qua. Đặc biệt là các bài thơ viết cho các bạn tình và bạn thơ gồm Mai Sơn phủ, Tốn Phong, Trần Quang Tĩnh, Trần Phục Hiển, Trần Ngọc Quán, trong đó có nguyễn Du. Bài thơ trình Nguyễn Du thật tình tứ và nhớ nhung sâu nặng: “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung, Mượn ai tới đấy gửi cho cùng, Chữ tình chốc đã ba năm vẹn, Giấc mộng rồi ra nửa khắc không, Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập, Phấn son càng tủi phận long đong. Biết còn mấy chút sương siu mấy, Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.” Nguyễn Du trong năm bài Mộng thấy hái sen đã thể hiện mối tình với tài nữ Thăng Long rất cảm động, nhất là ông đã nhắc đến ngó sen với “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. Cả hai tình đều rất thắm thiết.

   Hồ Xuân Hương là nhà thơ đa tài, thơ Hán đã hay mà thơ Nôm càng hay, có phần lấn lướt thơ chữ Hán. Bà có thể làm  rất nhiều loại thơ khác nhau, mà thơ nào cũng điêu luyện, đọc lên rung động cả tâm hồn. Riêng loại thơ diễm tình (erotic) có truyền thống lâu đời trong thơ thế giới, nhưng vẫn có nét riêng không lẫn, thể hiện  cá tính của nhà thơ Việt Nam.

Hà Nội, 22-7-2022.

Tài liệu tham khảo:

1.Đỗ Lai Thúy, Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, 627 tr.

2. Giang Hiểu Nguyên, Nước Trung Quôc dươi sức căng của tính dục, Nxb Nhân dân Thượng Hải, 1995, 531 tr.

3.Lưu Đạt Lâm, Văn hóa tình dục Trung Quốc cổ xưa, Nxb Nhân dân Ninh Hạ, 2 tập, 1993, 1041 tr.

4. Mao Thuẩn, Phó tăng Hanh, Sự miêu tả tính dục trong tiểu thuyết Trung Quốc cổ xưa, Nxb Bách Hoa, Thiên Tân, 1993, 442 tr.

5. Phùng Mộng Long bình Quải nhi chi. Trong sách Phẩm thư tứ tuyệt, Nxb Từ thư Hồ bắc, 1995, 455 tr.

6. Hoàng Xuân Hãn Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, trong sách La Sơn Yên Hồ hoàng Xuân Hãn, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 867 – 970,

7. Nguyễn Lộc, Hồ Xuân Hương Thơ tuyển và lời bình, Nxb Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1986, 57 tr.


[1] Vương Tịnh, Từ ái dục đến li dục – bàn về triết học tôn giáo trong thơ diễm tình của Sūrasāgara. Interdisciplinary Studies of Literature / Vol.2, No.2, June 2018.

[2] Các trích dẫn thơ Hồ Xuân Hương trong bài này lấy theo bản của Nguyễn Lộc, Hồ Xuân Hương – thơ tuyển và bình, Trương Đại học Tổng hợp, Ha Nội, 1986.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s