BÀN VỀ TỪ THẤU CẢM TRONG ĐỀ THI NGỮ VĂN 2017

BÀN VỀ TỪ THẤU CẢM TRONG ĐỀ THI MÔN VĂN 2017

1.Trong đề thi môn ngữ văn Quốc gia năm 2017 xuất hiện một từ không có trong từ điển tiếng Việt (2004), nhưng đã có trong từ điển đó trong bản in từ năm 2011, 2015 tại trang 1457và được giải thích là “thấu hiểu và cảm thông,  một cách sâu sắc.”. Cách giải thích của nhà từ điển giống như là cách giải thích bằng chiết tự theo lối dân gian, có vẻ không đáng tin cậy. Cách giải thích đó không dựa vào lịch sử tiếng Việt. Theo Từ điển chữ Nôm dẫn giải của Nguyễn uang Hồng, giải thích từ thấu là “Thấm sâu, chạm đến tận cùng”, (Tập 2, trang 1778), ví như câu “Xin chàng thấu hết tấm lòng tương tư” (Chinh phụ ngâm) hoặc  “Tấm lòng đã thấu đến trời, Bán mình là hiếu cứu người là nhân” (Truyện Kiều). Như thế nếu xem thấu hiểu, thấu cảm là sự phát triển của từ “thấu” trong tiếng Việt thì khi giải thích từ thấu hiểu hay thấu cảm thì nên giải thích là hiểu (cảm) “đến tận cùng” đối tượng của nó.

2.Tôi không biết tác giả đoạn trích trong đề văn hiểu từ “thấu cảm” theo nghĩa nào, dịch từ tiếng nào ra tiếng Việt. Theo gợi ý của đáp án. “Theo tác giả, thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ, là sự hiểu biết thấu đáo trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ và tất cả xảy ra mà không sự phán xét” (Câu này có lỗi diễn đạt) thì đó là áp đặt cho học sinh phải hiểu theo tác giả một cách máy móc. Vậy là trong thấu cảm con người không có cái tôi nữa hay sao? Trong khi đó nếu dùng đúng theo tiêng Việt, trong trường hợp này nên dùng từ đồng cảm, thì trong đó vừa có mình, vừa có người khác, đúng hơn. Lại nữa, tại sao lại không có phán xét? Nếu có thì không thấu cảm hay sao? Rồi “thấu cảm” thì làm sao mà “hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó” được? Muốn được thế thì phải tìm hiểu, điều tra dài ngày mới mong có kết quả được. Mà lúc đó thì phải gọi là “thấu hiểu”, chứ không phải chỉ “thấu cảm”! Đáp án lại đồng nhất thấu hiểu với thấu cảm, coi hai từ như đồng nghĩa. Trong khi đó tác giả xem “thấu cảm” là hoạt động xảy ra như trong chốc lát trực giác, thế là mâu thuẫn. Tôi cho rằng người làm đáp án đã bắt học sinh chấp nhận tuỳ tiện  một khái niệm tù mù, trôi nổi, thiếu khoa học.

Hiểu theo tiếng Việt như trên thì không nên xem thấu hiểu là “nhìn thế giới bằng con mắt của người khác” hay “đặt mình vào hoàn cảnh của người khác” theo nghĩa của tiếng nước ngoài. Chỉ cần nói hiểu (cảm) chạm đến tận cùng đối tượng là đủ, không cần phải xảy ra trong chốc lát, không phán xét, , dung co mắt của người khác…

3.Có người giiải thích từ “thấu cảm” đây là dịch từ “empathy” trong tiếng Anh, là một thuật ngữ trong tâm lí mĩ học. Theo tôi biết thì từ này vốn tiếng Đức là Einfuhlung, do hai cha con người Đức là Theodore và Robert Vischer đặt ra  để chỉ hiện tượng cảm nhận thẩm mĩ của con người đối với thế giới vô sinh, khi người ta cảm thấy cây cối, đồ vật, mây, gió cũng vật vả, quay cuồng, bay lượn, gầm thét giống như là thế giới hữu sinh. Một nhà tâm lí học thực dụng Mĩ dịch ra tiếng Anh là Empathy. Nghiã là khi quan sát thế giới bên ngoài, con người đặt mình vào cảnh huống của sự vật, xem các sự vật vốn không có sự sống xem như là có sự sống, làm như chúng cũng có cảm xúc, cảm giác, tình cảm như con người. Đây là điều rất nguyên thuỷ và đã thể hiện rất nhiều trong các ẩn dụ, không có gì mới lạ. Thực chất của nó là suy bụng ta ra bụng người. Nhưng nó là khái niệm quan trọng để giải thích cơ chế cảm thụ thẩm mĩ, khi ta đứng trước một phong cảnh, một kiến trúc hay bức tượng. Dịch từ Empathy này như thế nào? Nhà mĩ học Trung Quốc là Chu Quang Tiềm dịch thành tiếng Trung là “Di tình”, nghĩa là đem chuyển cái tình cảm của con người cho sự vật mà nó quan sát. Ông Chu cũng gợi ý có thể dịch thành “nhập cảm”, hoặc “cảm nhập”, “ngoại xạ” (tức là bắn ra ngoài), hoặc “cảm ngộ”, (Ở Việt Nam ông Phương Lựu lúc đầu dịch là di tình, sau lại dịch là chuyển cảm), tất cả đều không ra ngoài phạm vi ý niệm đem cảm xúc của con người mà gán (chuyển) cho sự vật vô sinh. Như thế Empathy không thể dịch thành đồng cảm được, bởi như thế thì đối tượng cũng phải là vật hữu sinh.  Trong trường hợp tác giả nói đây nó không phải là Empathy, mà chỉ là đồng cảm. Trong bài lại không nói gì về quan hệ giữa người và sự vật vô sinh, cho nên dùng từ thấu cảm (Empathy) vào đây không  đúng ngữ cảnh.  Theo tôi đúng nhất vẫn là từ Đồng cảm. Nhưng người ta cứ muốn mới lạ cho nên sinh sự.

Tóm lại trong trường hợp đề thi ngữ văn, hiểu theo tiếng Việt hay theo tiếng Anh, tiếng Đức đều không đúng. Cách hiểu của tác giả có mâu thuẫn. Xét về mặt sư phạm cũng không chuẩn.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tưởng nhớ Tzvetan Todorov

TƯỞNG NHƠ TZVETAN TODOROV

Trần Đình Sử

Tzvetan Todorov là nhà nghiên cứu văn học người Pháp gốc Bulgaria. Ông là nhà nghiên cứu văn học theo hướng cấu trúc chủ nghĩa nổi tiếng từ những năm 1960.

Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1939. Từ bé ông đã rất thông tuệ, từ bôn, năm tuổi đã đọc Những người khốn khổ, Oliver Twits, và một số tỉêu thuyết Nga. Cha ông từng làm giám đốc thư viện quốc gia Bulgaria, đảng viên cộng sản, sau mất chức, làm giáo sư đại học, cuối cùng ra đảng, trở thành người theo tư tưởng tự do. Môi trường đó ảnh hưởng đến tư tưởng của Todorov từ nhỏ. Khi còn học trung học ở Bulgaria, ông rất chán khi nói về văn học chỉ được nói nội dung, mà không được nói về hình thức. Điều này khiến ông ác cảm với chủ nghĩa toàn trị. Năm 1963 ông trốn sang Pháp, rồi định cư ở đấy, học đại học Paris. Ông kết bạn với G. Genette rồi trở thành bạn thân. Ông tham gia lớp học do Roland Barthes chủ trì và trở thành học trò của Barthes.

Không khí tự tự do của Pháp khiến ông rất thích, song lại thấy tự do quá. Các nhà nghiên cứu Pháp hầu như không có lí luận văn học. Ông dịch một tuyển tập các bài viết của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga, dấy lên hững thú về lí thuyết. Ông là một trong các nhà phê bình cấu trúc chủ nghĩa nổi tiếng, là người đặt nền móng cho  bộ môn Tự sự học, người giới thiệu và nghiên cứu M. Bakhtin vào Pháp. Ông cũng là người muốn uốn nắn lại khuynh hướng hình thức chủ nghĩa trong giáo dục văn học ở nhà trường Pháp.

Ông viết rất nhiều: Thi pháp học, Thi pháp văn xuôi, Ngữ pháp câu chuyện mười ngày, Nghiên cứu kí hiệu học, Lí thuyết về biểu tượng, Về khái niệm văn học, Chủ nghĩa đối thoại của Bakhtin, Chủ nghĩa cấu trúc là thế nào, Dẫn luận văn chương kì ảo, Phê bình của phê bình, Văn chương lâm nguy, Chinh phục châu Mĩ, Chúng ta va người khác, Đối mặt với cực đoan, Vườn hoa không hoàn mĩ, Trách nhiệm vói niềm vui.

Trong cuốn sách Một người sống tha hương, ông chỉ ra ba đặc điểm chủ chủ nghĩa toàn trị: 1. Lập một ý thức hệ làm công cụ thống trị toàn dân. Cái ý thức hệ này khoong có nội dung tín niệm gì, mà chỉ là công cụ có thể  đổi thay them bớt tuỳ tiện. 2. Dùng biện pháp đe doạ, khủng bố, bắt bớ để khống chế truyền thong, bóp nghẹt tự do ngôn luận. 3 Xoá bỏ xã hộidân sự, đưa cuộc sống riêng tư vào hệ thống chính trị, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của mỗi người. Để phát huy chức năng của ý thức hệ nhà nước toàn trị hư cấu ra những kẻ thù, hư cấu các tín ngưỡng, lí luận dối trá che đậy sự vô đạo đức và  tham lam vô độ. Trong xã hội đè cao bọn tố giác, bọn phê bình giả dối, kiểm duyệt báo chí khắc nghiệt.

Ông mất ngày 7 tháng 2 năm 2017 tại Paris. Các báo ở Việt Nam hầu như không đưa tin. Tình cờ mà tôi biết được. Xin viết mấy gìong này để tưởng niệm ông.

Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2017..

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT VÀ NGÔN TỪ THI CA

Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca – một đóng góp mới về thi học Việt Nam

(Đọc công trình nghiên cứu mới của GS. TSKH Nguyễn Quang Hồng và TS. Phan Diễm Phương, Nxb Đại học Quốc gia, 2017)

  1. TS. Trần Đình Sử

Thơ ca Việt Nam có truyền thống lâu đời và lời bàn về thơ đã có từ xưa (xem Từ trong di sản, 1981), sách vở nghiên cứu về thơ Việt Nam kể từ đầu thế kỉ XX cũng có không ít.  Song lí thuyết về thi học trên bình diện ngữ âm,  thì có thể nói đây là công trình đầu tiên, bởi các nhà làm sách trước đây phần nhiều mô tả thi luật theo kinh nghiệm truyền thống. Chẳng hạn như sách Khảo luận về thơ của Lam Giang (1957, 1994), Thi pháp thơ Đường của Quách Tấn (1997), v.v.  GS. TSKH Nguyễn Quang Hồng trước hết là một chuyên gia hàng đầu về loại hình học ngữ âm và ngữ âm học tiếng Việt (xem : Âm tiết và Loại hình ngôn ngữ, 1994 / 2002 / 2012). Ông muốn nhìn từ cơ chế đơn tiết (monosyllabism) của ngữ âm tiếng Việt kết hợp với những tri thức cần thiết về lý luận văn học và văn học sử Việt Nam để xây dựng một lí thuyết về thi học, mà trọng tâm là thi luật học Việt Nam, đồng thời kết hợp giải quyết một số vấn đề của thi loại học và thi thẩm học. Đây là chuyên luận được tác giả ấp ủ và thực hành giảng dạy đúng 40 năm nay, bây giờ mới có điều kiện viết thành sách. Với định hướng như trên, chuyên luận chia thành 3 phần: (1) Ngôn từ thi ca Việt : Những góc nhìn cần thiết (3 chương đầu), trình bày những lí thuyết cơ sở của chuyên luận. (2) Ngôn từ thi ca Việt: Những thể thức cơ bản (gồm 7 chương) trình bày thi luật học thi ca tiếng Việt thông qua mô tả chi tiết âm luật của các thể thơ chính. (3) Ngôn từ thi ca Việt : Những khía cạnh mỹ cảm (3 chương cuối) là phần nghiêng về “thi thẩm học”, trình bày lý thuyết và phân tích cụ thể về những khía cạnh mỹ cảm của âm điệu thi ca tiếng Việt .

Phần “thi luật học” mở đầu bằng một chương nói về biểu thức ngữ âm trong tục ngữ Việt. Tục ngữ là một thể loại ngôn từ thi ca, chứ không phải là một thể thức thi ca, song được khảo sát kỹ về cơ chế liên kết ngữ âm và qua đó có thể nhận thấy được các nhân tố cơ bản (vần điệu và đăng đối) tạo nên âm luật của các thể thơ tiếng Việt. Chương pháp thi ca là một chương hoàn toàn mới, viết về sự vận dụng âm luật thi ca Việt để tạo nên những bài thơ cụ thể, chủ yếu là phép biến cách và phá cách cùng phép phối xen các thể thơ. Chương pháp trong thi học Trung Hoa là chỉ tổ chức bài thơ, nó phân biệt với tự pháp, cú pháp của thơ. Ở đây tác giả hiểu một cách bao quát, trỏ việc vận dụng những thể thức thi ca một cách đơn nhất hoặc lâm thời, phối xen với nhau hoặc bỏ qua thể thơ,  trực tiếp lựa chọn những cấu trúc nhịp điệu thích hợp,  để tạo tác nên một tác phẩm thi ca cụ thể. Chương pháp đơn thể bao gồm biến cách, sử dụng phá cách, chương pháp phối thể sử dụng nhiều thể thức phối xen. Chương pháp cũng có thể được xem xét với thể loại (như ca dao) hoặc trong so sánh thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả. Quan niệm này phù hợp với thơ hiện đại. Cũng hoàn toàn mới mẻ là các chương viết về thể thơ Hát nói, Tám tiếng, Đường luật Việt ngữ. Còn lại, tuy một số thể thức đã viết trước đây như Lục bát và Song thất lục bát (xem sách của Phan Diễm Phương: Lục bát và song thất lục bát, 1998), song đã được tác giả bổ sung các bằng chứng và phân tích kĩ lưỡng về các mặt nguồn gốc, sự phát sinh lịch sử, thể thức (kể cả thường thể với biến cách và phá cách), và sức sống của mỗi thể thức. Tất cả các chương ở phần này đều được tác giả viết với một phong cách nghiên cứu nhuần nhuyễn, công phu và có nhiều điểm mới mẻ, so với các công trình cùng loại thì chúng vẫn tỏ ra hơn hẳn về nhiều phương diện.

Tuy vậy, điều hấp dẫn hơn cả là lí thuyết thi ca, được thuyết trình chủ yếu ở Phần (1) và Phần (2) gồm 3 chương đầu và 3 chương cuối. Tác giả bắt đầu chuyên luận với vấn đề “chức năng thi ca” của ngôn từ mà nhà ngữ học Mĩ gốc Nga Roman Jakobson đã nêu từ  năm 1958. Nhưng tác giả biết cách diễn giải để làm mới và dễ hiểu đối với độc giả Việt Nam. Vạch ra mô hình giao tiếp 6 thành phần gồm người gửi, người nhận, thông điệp, bối cảnh, tiếp xúc, tín mã, nhà lí luận nêu ra chức năng thi ca của thông điệp (ngôn từ) như sau: “Chức năng thi ca đem nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” và “vấn đề cơ bản của thi ca là sự song hành (parallelism)”. Từ đó tác giả chuyên luận rút ra “ngôn từ thi ca luôn đề lên hàng đầu sự chia cắt ngôn từ thành các về tương đương và ở từng vị trí  trên các vế ấy người ta  thực hiện sự lựa chọn  những gì đồng nhất hoặc khác biệt, tạo nên sự láy lại hoặc đối lại  giữa các vế tương đương”. Đó là cơ sở lí thuyết của toàn chuyên luận. Thơ ca phải kiến tạo thành các vế tương đương, ngữ âm trong các vế có chức năng liên kếtchức năng gợi tả. Đây là hai chức năng cơ bản nhất, được Nguyễn Quang Hồng đề xuất làm cơ sở để xử lí các vấn đề khác trên phương diện âm thanh của thơ ca. Ở đây có vấn đề “ý nghĩa ngữ âm” của ngôn từ thi ca trong chức năng gợi tả. Thi ca dân tộc nào cũng phụ thuộc vào hệ thống ngữ âm của tiếng nói dân tộc đó và cả phương pháp mô tả hệ ngữ âm ấy. Tác giả đã cho thấy sự khác biệt thi ca âm tiết và thi ca âm vị, chức năng liên kết của nhịp và vần, chức năng gợi tả của âm tiết và các yếu tố trong âm tiết, đặc trưng điệu tính của ngôn ngữ tiếng Việt có tính đơn lập và âm tiết tính, có thanh điệu. Tác giả đã nêu nhiều ví dụ thú vị và thuyết phục để người đọc làm quen với các vấn đề có vẻ khô khan đó. Ông cho thấy những ai phân tích âm điệu thơ Việt theo lối Tây, nghĩa là lối âm vị, chỉ thấy các nguyên âm, phụ âm, mà không thấy âm tiết, thì không tránh khỏi những nhầm lẫn tai hại. Ngay bậc thầy thẩm âm thi ca như Xuân Diệu cũng có khi lầm. Trong chương 3 tác giả phân biệt thể loạithể thức thơ, đồng thời liệt kê ra các thể thức thơ tiếng Việt. Các thể thơ quen thuộc được phân tích chuyên sâu. Và các thể loại thơ ca tiếng Việt được hình dung hoàn toàn khác với tập quán truyền thống. Phạm vi thể thức bao gồm các thể thơ “đếm tiếng” như hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng, năm tiếng, sáu tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, lục bát, song thất lục bát, các thể thức phối xen, các thể thức hiện đại như thơ tân hình thức, thơ không vần, thơ tự do đều được đề cập. Phạm vi thể loại thi ca ở đây được quan niệm rộng hơn nhiều phạm vi của thơ ca chính hiệu, nó bao gồm cả tục ngữ, ca dao, vè, chèo, câu đối, phú, văn biền ngẫu, thơ diễn ca, thơ tuyên truyền, quảng cáo… đều thuộc phạm vi ngôn từ thi ca. Điều này mới nghe ắt hẳn bạn đọc có vẻ ngỡ ngàng, nhất là những ai quen đối lập thơ ca với vè, với văn biền ngẫu, cho là sĩ nhục thơ chính hiệu. Nhưng ở tất cả thể loại có nguyên tắc tổ chức nội dung và có phạm vi hành chức khác nhau, các thể thức thơ ca đều có khả năng đem đến cho chúng một vẻ đẹp của ngôn ngữ, thể hiện trước hết ở chức năng liên kết ngữ âm trong ngôn từ.  Đây là một quan điểm đúng và mới mẻ. Hiểu điều này mới thấy ngày nay chất văn, chất thơ thấm đượm trong nhiều lĩnh vực hoạt động giao tiếp. Tất nhiên thơ chính hiệu sẽ có các thuộc tính khác nữa xét về nội dung và hình thức của chúng.

Chương về tiết tấu và nhịp điệu, khắc phục tình trạng còn mù mờ chưa phân biệt về khái niệm trong nhiều tài liệu, tác giả đưa ra định nghĩa về hai khái niệm đó, thấy trước ranh giới mong manh, nhưng vẫn có dấu hiệu khu biệt. Nhịp điệu gắn với nhịp chẵn, nhịp lẻ, nhịp trắc, nhịp bằng… thiên về chức năng liên kết; tiết tấu là âm hưởng được tạo nên bởi sự biến chuyển của cấu trúc âm điệu của dòng thơ hay bài thơ, thiên về chức năng gợi tả. Chương sách đã phân tích với nhiều ví dụ sinh động nói về chức năng gợi tả của tiết tấu qua nhiều hiện tượng thơ. Về nhạc điệu, chuyên luận cũng có định nghĩa về khái niệm nhạc điệu như là sự hoà phối âm điệu tạo nên hình tượng âm nhạc của thơ, nâng cao khả năng gợi tả tình ý. Chương cuối cùng nêu các hình thức trình diễn ngôn từ thi ca Việt. Mặc dù hình thức trình diễn thi ca đã quen thuộc lắm, song đây là lần đầu có chương trình bày về vấn đề này với những lời bàn có tính lí thuyết, có ý nghĩa thực tiễn đối với nhà trường và sinh hoạt thi ca trong xã hội. Các hình thức được bàn gồm hình thức diễn đọc (đọc to và đọc diễn cẩm), hình thức diễn ngâm (ngâm lối truyền thống và ngâm lối cách tân), hình thức hát xướng (theo làn điệu dân ca hay theo hình thức phổ nhạc do nhạc sĩ thực hiện).

Tôi đánh giá cao công trình chuyên luận này ở giá trị lí thuyết và thực tiễn của nó. Tác giả có ý thức xây dựng một hệ thống thuật ngữ và khái niệm mới, chặt chẽ về thi học ngôn từ thi ca Việt Nam, làm giàu cho lí thuyết thi ca Việt Nam. Cả ba phần đều gắn bó trong một quan niệm nhất quán, gợi ra một bộ khung lí thuyết về thi luật và thưởng thức âm điệu, nhạc tính của thi ca Việt. Sự khu biệt chức năng lien kết với chức năng gợi tả, sự khu biệt thể thức thi ca và thể loại thi ca v.v. sẽ có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt. Đặc biệt trong việc phê bình, phân tích thơ, cũng như giảng dạy học thơ trong nhà trường, hiện vẫn là một lĩnh vực phó cho sự cảm thụ chủ quan, thiếu một lí thuyết có hiệu lực. Công trình này sẽ có tác dụng bổ khuyết chỗ trống ấy và giúp các giáo viên các cấp có cơ sở để xử lí các hiện tượng âm điệu trong thơ. Nguyễn Quang Hồng và Phan Diễm Phương không chỉ là hai nhà nghiên cứu khoa học ngữ văn nghiêm túc, chuyên sâu, mà còn là những người rất nhạy bén với vẻ đẹp của thi ca, tinh tế trong thẩm định tiết tấu, nhạc điệu, vần điệu. Bên cạnh hệ thống lí luận chặt chẽ là các dẫn liệu được lựa chọn công phu, phân tích thấu đáo, do đó công trình đọc rất hấp dẫn và thú vị. Chuyện luận không chỉ là một đóng góp mới trong lĩnh vực lí thuyết thơ ca ở Việt Nam, mà còn có thể được sử dụng làm giáo trình về thơ ca Việt Nam để dạy chuyên đề cho sinh viên hoặc học viên cao học. Những sách này chúng ta vẫn đang rất thiếu.

Đ

Hà Nội,  ngày 5 tháng 4  năm 2017

TĐS

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Diễn từ nhận giải của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh ngày 24 – 3 – 2017

DIỄN TỪ NHẬN GIẢI VĂN HOÁ PHAN CHÂU TRINH, HẠNG MỤC NGHIÊN CỨU CỦA QUỸ VĂN HOÁ PHAN CHU TRINH

Trần Đình Sử

Thưa các vị trong bàn điều hành Quỹ,

Thưa quý vị trong Hội đồng khoa học của Quỹ,

Thưa quý vị quan khách,

Hôm nay, tôi vô cùng xúc động và vinh dự được nhận Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh ở hạng mục nghiên cứu của của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh vì những đóng góp to lớn và lâu dài trong lĩnh vực văn học. Sự kiện này  thể hiện sự gặp gỡ tri âm giữa các hoạt động nghiên cứu của tôi với phương hướng  bồi bổ dân trí, chấn hưng dân khí nhằm canh tân Đất nước theo gương nhà chí sĩ lỗi lạc của dân tộc Phan Châu Trinh, mà các nhà lãnh đạo Quỹ chủ trương. Nhân dịp này tôi xin phép bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với  quý vị chủ trương Quỹ và quý vị trong Hội đồng khoa học của Quỹ, những người đã hào hiệp dành cho tôi vinh dự to lớn này.

Kính thưa quý vị,

Nhân đây, cho phép tôi được chia sẻ đôi điều về hoạt động nghiên cứu của mình.  Tôi là một giảng viên đại học, bắt đầu giảng dạy bộ môn lí luận văn học ở đại học sư phạm từ giữa những năm sáu mươi thế kỉ trước. Trong khi dạy, tôi dần dần nhận thấy tính chất công thức, sơ lược của lí thuyết theo quan điểm mĩ học Mác – Lênin thời ấy, chủ yếu dạy về quan điểm triết học và chính trị, không giúp nhiều cho người học thấy được đặc trưng, sự phong phú, vẻ đẹp cũng như giá trị văn hoá của sáng tác văn học. Nhờ tự học tiếng Nga và đọc các sách báo Nga hồi ấy, tôi thấy giới trí thức Liên xô vào thời “tan băng” đã có một bộ phận đi tìm những con đường tiếp cận mới, trong đó có thi pháp học. Các sách về phương diện này trước đó bị ngăn cấm, lúc bấy giờ đã lần lượt được in lại. Trên các tạp chí khoa học luôn có mục thi pháp, đăng tải các lí thuyết và tìm tòi mới. Do nghiên cứu lí thuyết bị cầm đoán, các nhà khoa học Nga đi vào nghiên cứu, phân tích tác phẩm, theo hướng thi pháp văn học với các tên tuổi lớn như M. Bakhtin, D. Li khachev, V. Shklovski, V. Girmunski…, cùng các nhà nghiên cứu trẻ ở Viện văn học thế giới như G. Gachev, Ju. Borev, P. Palievski và các tác giả khác. Thi pháp học nhấn mạnh đến nguyên tắc sáng tạo văn học  như lạ hoá và hư cấu, tạo ra một chỉnh thể có tính kí hiệu. Nó nghiên cứu thi pháp như hệ thống các phương thức, phương tiện tạo nên tác phẩm nghệ thuật, khẳng định tính quan niệm, tính chủ thể của sáng tác, nhận rõ sự khác biệt giữa hình tượng nghệ thuật với các hình ảnh sao chép giản đơn từ thực tế, từ đó chỉ ra nội dung, tính sáng tạo và cá tính của nghệ sĩ. Như thế thi pháp học góp phần khắc phục quan niệm phản ánh giản đơn và xã hội học dung tục, xác nhận tính chủ thể của nhà văn.  Và nhờ thế, thi pháp học được đón nhận rộng rãi.

Nhưng thi pháp hoàn toàn không phải là lĩnh vực của hình thức văn học thuần tuý như một số người nghĩ, mà nó còn là lĩnh vực của văn hoá văn học, của hình thức tư duy thẩm mĩ, một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nghiên cứu thi pháp chính là nghiên cứu văn hoá sáng tạo của văn học. Chỉ đến một giai đoạn nào đó của sự phát triển thì mới xuất hiện các hình thức nghệ thuật nào đó. Trên thế giới người ta đã ghi nhận thi pháp của các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, riêng Việt Nam thì chưa. Tôi mong góp phần rất nhỏ bé nói về thi pháp Việt Nam.

Thi pháp học là một hướng nghiên cứu mở, nó có thể dung nạp nhiều cách tiếp cận khác nhau như chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học, phân tâm học, kí hiệu học, nữ quyền luận, diễn ngôn học, xã hội học…Do đó mở rộng nghiên cứu các lí thuyết đó thì nghiên cứu thi pháp càng có thêm hiệu quả. Sau năm 90, song song với quá trình hội nhập thế giới, chúng ta tiếp thu thêm nhiều lí thuyết của phương Tây, việc ứng dụng thi pháp học đã đi vào chiều sâu. Nhiều công trình có thể không nêu tên thi pháp song thi pháp với tư cách là hệ  thao tác nghiên cứu vẫn không bao giờ vắng mặt.

Nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam không tránh khỏi phải đối mặt với những định kiến lâu đời. Nào là “chủ nghĩa hình thức”, nào là “sùng ngoại”, nào là “xa rời bản sắc dân tộc” vân vân. Nhưng chúng tôi đề cao tính quan niệm của sáng tác, cho nên khó bề quy kết là chủ nghĩa hình thức, còn sùng  ngoại ngày nay, trong ý nghĩa đúng đắn, chính là sùng tiến bộ, sùng văn minh, sùng khoa học, cũng không thể bác bỏ. Chúng tôi lại dùng lí thuyết hiện đại để nghiên cứu văn học, văn hoá nước nhà, không thể nói là xa rời thực tiễn văn học Việt Nam được.  Vì thế thi pháp học là hướng nghiên cứu không thể bị phủ định.

Bên cạnh dạy học lí luận văn học ở đại học, chúng tôi còn biên soạn chương trình và sách giáo khoa môn ngữ văn trung học phổ thông, trong đó chủ yếu là làm văn và đọc hiểu văn học.  Chúng tôi nhận thấy cần thay đổi  lối giảng văn cũ kĩ chủ yếu là dạy đọc chép. Trong đọc văn, chúng tôi khắc phục cách hiểu môn văn hẹp hòi chỉ là đọc các áng văn, thơ.  Chúng tôi đề xuất cách hiểu văn nghĩa rộng, ngoài văn thơ là chính, học sinh còn đọc các văn bản có tính chất văn hiến, như cáo, chiếu, biểu, hịch, văn tế, các trích đoạn lịch sử, bình sử, các văn bản truyền bá khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, văn bản báo chí. Bằng cách đó học sinh biết tiếp cận với các loại văn bản có nội hàm văn hoá của dân tộc để sau khi tốt nghiệp học sinh không xa lạ với văn hoá nước nhà và khoa học hiện đại. Chỉ tiếc là bộ môn giáo học pháp trong nhà trường còn quá cũ kĩ, chưa đáp ứng tư tưởng mới và chương trình còn nặng nề, chưa thuận lợi cho học sinh tiếp nhận. Để khắc phục sự cũ kĩ này, chúng tôi đã giới thiệu những cách tiếp cận mới như đọc hiểu văn học, các hình thức làm văn mới như biểu cảm, văn thuyết minh, nguyên tắc dạy học mới trên cơ sở nguyên lí lấy học sinh làm trung tâm, phát triển cá tính của học sinh. Theo chúng tôi, dạy học văn học trong nhà trường không thể  xa rời với văn hoá đọc.

Trong đời sống văn học hôm nay, chúng ta ngày càng hiểu rõ hơn, lí luận văn học chính thống một thời ở Việt Nam đã bị chính trị hoá, ít tính chất học thuật. Sự đổi mới lí thuyết văn học tuy đã có từ những năm 80, song thực ra chỉ mới bắt đầu. Hành trình này còn gian nan, thể hiện ở chỗ các giáo trình lí luận văn học ở bậc đại học hiện nay, mặc dù được chúng tôi bổ sung, sửa sang từ giữa những năm 80, đưa vào nhiều nôi dung mới,  song hình hài lí luận Liên Xô ngày trước vẫn còn nguyên. Phải có một sự thay đổi căn bản nữa thì mới có được một chương trình lí luận văn học bậc đại học thực sự khoa học, hiện đại, hấp thu được các tinh hoa lí thuyết của nhân loại ngày nay, và đào tạo các thế hệ sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ bắt kịp trình độ của các nước tiên tiến. Đó là một công việc rất khó khăn, đòi hỏi không chi rất nhiều tri thức chuyên môn hiện đại, mà còn đói hỏi hiểu biết văn hoá rộng. Chính vì thế mà chúng tôi ngày càng tìm hiểu thêm nhiều lĩnh vực tri thức mà ngày trước  và cho đến nay vẫn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam, như lí thuyết tiếp nhận, diễn ngôn, kí hiệu học, hiện tượng luận,.. Dĩ nhiên là sự nghiệp này còn để ngỏ dành cho thế hệ trẻ.

Kính thưa quý vị. Trên đây là mấy điều chia sẻ về hoạt động nghiên cứu và suy nghĩ của chúng tôi, những điều đã làm được và chưa làm được,  với tư cách là một giảng viên, một nhà nghiên cứu văn học và văn hoá. Chúng tôi vui mừng vì hoạt động ấy đã có sức lan toả và đã được các vị trong Hội đồng khoa học của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh biết đến và tỏ lòng khích lệ. Sự quan tâm của Quỹ là một sự động viên mạnh mẽ không chỉ cho chúng tôi, mà còn cho bao nhiêu nhà khoa học khác. Chúng tôi một lần nữa bày tỏ lòng tri ân, cảm tạ đối với Hội đồng khoa học của gỉải, của Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh đã đem đến cho tôi niềm vinh dự,  coi đây như là khích lệ chung cho tất cả những ai góp phần đổi mới lí thuyết văn học và dạy học ngữ văn của nước nhà.

Xin đa tạ quý vị.

 

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM

 

 

GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM

Trần Đình Sử

Về khái niệm giá trị văn hoá của văn học

Văn hoá

Khái niệm văn hoá ngày nay đã rất phổ biến, tuy vậy khi bàn về giá trị văn hoá của văn học thiết nghĩ cũng cần nhắc lại đôi nét về khái niệm văn hoá, bởi nó sẽ soi sáng giá trị văn hoá của văn học. Định nghĩa văn hoá đến nay đã có hàng trăm, các tác giả nổi tiếng của trường phái nhân văn như Dilthey, Casirrer, Arnold, T. Eliot…đến trường phái thực chứng như Taylor, Malinowski, Boas, Kroeber, Benedict, Durkheim…gần gủi nhau trong mấy nội hàm cơ bản sau đây. Văn hoá theo nghĩa rộng là tổng hoà mọi sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, trong đó thể hiện đời sống vật chất, tinh thần, các loại tư tưởng, phương thức tư duy, hình thức biểu đạt, mô hình hành động, thái độ ứng xử làm cho một cộng đồng dân tộc này phân biệt với các dân tộc khác; văn hoá thể hiện năng lực chế ngự thiên nhiên, phương thức tổ chức xã hội cùng chế độ điển chương dùng để phát triển nhân cách con người và phân chia hưởng thụ thành quả xã hội. Văn hoá nghĩa hẹp là quan niệm tư tưởng và quan niệm giá trị. Xét về cấu trúc thì văn hoá bao gồm tầng nền tảng là toàn bộ cơ sở vật chất, cái “tự nhiên thứ hai” của con người do con người sáng tạo ra bằng sức lao động. Tầng thứ hai là cung cách ăn ở, mặc, đi lại, nói năng, hôn thú, lễ nghi, phong tục. Tầng thứ ba gồm tư tưởng chính trị, tôn giáo, pháp luật, tổ chức nhà nước và tầng trên cùng, là các sáng tác văn học, nghệ thuật, triết học, biểu hiện tâm hồn, tài nghệ, sức sáng tạo của con người. Toàn bộ văn hoá thể hiện trong hệ thống kí hiệu, biểu tượng, ngôn ngữ của con người thấm nhuần ý thức về giá trị. Văn hoá không chỉ là cái phân biệt con người với con vật mà còn là cái tiêu biểu nhất cho một dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Nhiều người định nghĩa văn hoá nhấn mạnh đến yếu tố sản xuất công cụ, ngôn ngữ, tư duy, vui chơi, bắt chước, kí ức…để phân biệt con người với con vật, nhưng Ch. Darwin đã chứng minh về các mặt ấy con người và con vật đều có cái chung, duy chỉ có ý thức về giá trị, định hướng giá trị trong cuộc sống là đặc điểm nổi bật nhất phân biệt con vật và con người.

Giá trị văn hoá

Dù cho đến nay có nhiều quan niệm về giá trị, như thế nào thì giá trị là phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của con người ( tách khỏi động vật) và phát triển cùng đời sống con người như là một chủng loại có văn hoá. Tuân Tử nói: “Nước lửa có khí nhưng không có sinh, thảo mộc có sinh mà vô tri, cầm thú có tri mà vô lễ nghĩa. Con người có khí, có sinh, có tri, có lễ nghĩa đó là loài quý nhất.” Giá trị văn hoá về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất, tinh thần của bản thân mình, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị của mình. Dưới ánh sáng của giá trị con người thấy cuộc sống đáng quý và có ý nghĩa. Giá trị văn hoá thể hiện trong cách ứng xử của con người qua các quan hệ người với tự nhiện, người với cộng đồng xã hội, người với người khác, người với bản thân mình. Chân, giả, thiện, ác, đẹp, xấu, lành, dữ, cao quý, tầm thường, linh thiêng, phàm tục…chính là các giá trị thể hiện của con người trong các quan hệ ấy. Thiếu các giá trị văn hoá soi đường con người chẳng khác con vật.

 

Giá trị văn hoá không chỉ thể hiện ở hình thức kí hiệu, biểu tượng. E. Cassirer đã nói đến con người là động vật biết sử dụng kí hiệu, thể hiện từ trong thần thoại cho đến các hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ, kí hiệu mà con người lưu giữ được kí ức, kinh nghiệm, có quan niệm thời gian, không gian, cộng đồng và nói chung, có kí ức, thế giới nội tại, tâm hồn….Kí hiệu một mặt là công cụ, phương tiện giúp con người lưu giữ, truyền đạt mọi thông tin, nhưng mặt khác, nó không phải chỉ là công cụ mà khi dùng xong, đạt mục đích người ta có thể vứt đi, ngược lại, nó chính là sự tồn tại của bản thân con người. Kí hiệu là chiếc cầu nối con người với thế giới, là hiểu biết, ý thức, tư duy của con người, nói như Heidegger là “ngôi nhà của hữu thể”. Không có kí hiệu thì không có khái niệm, không có tư duy, không có cả bản thân con người như là động vật có văn hoá nữa. Bản thân kí hiệu là phương diện quan trọng của giá trị văn hoá.

Giá trị văn hoá có tính nhân loại và đồng thời có tính khu vực, tính dân tộc, phụ thuộc vào điều kiện sinh hoạt. Văn hoá nào cũng phục vụ cho con người trong các nhu cầu ăn, uống, thở, bài tiết, giao cấu, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, cưới xin, ma chay, sinh đẻ, chữa bệnh, sản xuất, tích trữ, tự vệ, chống thú dữ và kẻ thù, lưu giữ thông tin…Đó là nền tảng của tính nhân loại. Nhưng đồng thời con người thực hiện các nhu cầu trên theo những phương thức, phương tiện, nghi thức, chất liệu rất khác nhau lại làm nên tính khu vực và tính dân tộc.  Có thể nói địa vực nào văn hoá ấy.

Giá trị văn hoá tuy có ý nghĩa lâu dài nhưng vẫn là một phạm trù có tính lịch sử, không phải là vĩnh viễn. Theo sự phát triển của xã hội, có những giá trị văn hoá lỗi thời sẽ mất đi, có những giá trị mới phù hợp với tiến bộ nảy sinh. Khi một thời đại mới xuất hiện nảy sinh cuộc tái kiến tạo văn hoá mới, đấu tranh chống các giá trị văn hoá lỗi thời diễn ra. Có thể nói thời đại nào văn hoá ấy.

Giá trị văn hoá là cả một hệ thống được phân tầng. Có những giá trị văn hoá nằm ở tầng sâu, bền vững, lâu dài, như đạo lí, tín ngưỡng, phong tục, ngôn ngữ. Có những giá trị nằm ở bề mặt nhanh chóng đổi thay như thời trang, mốt.

    Giá trị văn hoá của văn học

Văn học là hình thái ý thức xã hội có chức năng kết tinh giá trị văn hóa tinh thần của con người. Xét theo nghĩa hẹp của văn hoá là sự thể hiện tư tưởng và giá trị thì văn học gần với triết học, là những hình thái ý thức xã hội thể hiện tư tưởng, lí tưởng, sự quan tâm đến giá trị tối cao, tốt ráo của con người. Xét theo đặc trưng thì văn học là sự thể hiện đời sống con người dưới hình thức hình tượng cụ thể cảm tính, sinh động, không lặp lại, không phải bằng khái niệm trừu tượng, làm cho ý nghĩa, giá trị văn hoá của văn học biểu hiện dưới hình thái tiềm tại, phụ thuộc vào sự cảm thụ, lí giải, cắt nghĩa của người đọc thì giá trị văn hoá của văn học sẽ có sự thay đổi theo thế hệ người đọc. Giá trị văn hoá của văn học thể hiện trong cả quá trình tồn tại của nó. Nhìn từ lịch trình cũng như quỹ đạo phát triển của văn hoá nhân loại, bản chất của văn học là sự đi tìm các tư tưởng và giá trị, văn học xưa nay chưa bao giờ khư khư giữ lấy một thước đo giá trị nào cả. Cho nên trong toàn bộ công cuộc xây dựng giá trị người văn học trước sau đều đảm nhận chức năng sinh thành, phán đoán, truyền bá, biến đổi, tiêu huỷ và đổi mới các giá trị văn hoá.

Giá trị văn hoá của văn học thể hiện ở việc phản ánh các hệ thống giá trị về con người, cuộc xung đột của các giá trị người nhằm khẳng định hệ thống giá trị người phù hợp với xu thế thời đại. Chức năng của văn học được phân hoá thành các phương diện cụ thể như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ, chức năng giải trí, chức năng giao tiếp. Các chức năng trên có giá trị tổ chức đời sống xã hội và cá nhân, hình thành các quy phạm, các chuẩn mực của hành vi con người.

Giá trị nhận thức là giá trị khám phá chân lí, phát hiện sự thật, giá trị hoạt động cảm xúc, tình cảm, lí tính con người. Giá trị nhận thức chủ yếu thể hiện ở triết học, khoa học, nhưng văn học cũng có. Đối với văn học nghệ thuật giá trị nhận thức thể hiện ở nhận thức nhân sinh và xã hội, nhận thức quan hệ giữa người và người, người và tự nhiên, người với chính mình; nhận thức nhân sinh bao gồm từ phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán, lễ nghi, vũ khí, vật dụng, kĩ thuật chế tác, phương thức tư duy, tinh thần, tư tưởng, tình cảm, nghị lực, ý chí. Giá trị tình cảm là giá trị thẩm mĩ, thoả mãn, làm phong phú và mở rộng không gian đời sống tình cảm của con người, gắn liền với cảm xúc của cơ thể, những điều mà ngũ quan và toàn bộ thân thể cảm thấy. Giá trị quy phạm là các tư tưởng hướng dẫn hành vi con người trong các quan hệ người với người, người với thiên nhiên, người với bản thân nó. Giá trị quy phạm thể hiện ở chuẩn mực luân lí, đạo đức, cái thiện, cái đẹp. Con người sống giữa xã hội, thiên nhiên, chạy theo mục đích, lợi ích của mình thì cũng phải tính đến mục đích, lợi ích của cá nhân và tập thể khác, nghĩ đến mọi vật vô tri vô giác trên đời. Văn học có chức năng đi tìm các mối quan hệ đó, đề nghị những quy phạm hành vi cho một cuộc sống bền vững, lâu dài cho mọi người, chỉ ra những hạn chế, xác lập những tiêu chuẩn giữa thiện, ác, thị phi, nên và không nên, hợp lí và không hợp lí thể hiện trong các biểu hiện đa dạng, cụ thể nhất của dời sống con người.

Giá trị tổ chức là các tư tưởng gắn kết con người thành những cộng đồng bền chặt nhằm tự bảo vệ và phát triển.  Giá trị tổ chức của văn học thể hiện ở chỗ nó có sức mạnh tập hợp, kêu gọi mọi người liên kết nhau thành một khối, giúp cho họ hiểu nhau, đồng cảm nhau trong hành trình tiến hoá.

Các sáng tác cụ thể tuỳ lúc mà có thể thiên về chức năng này hoặc chức năng kia, làm cho giá trị văn hoá của văn học cũng thiên về từng phương diện. Văn học còn có chức năng đổi mới tư duy, thăm dò các hình thức mới, thể loại mới và khả năng biểu đạt mới cho văn học. Các tác phẩm tiền phong thường thực hiện chức năng này và có giá trị đổi mới văn hoá nghệ thuật của bản thân văn học.

Về hình thức nghệ thuật giá trị văn hoá thể hiện ở hình thức biểu hiện: ngôn ngữ, nghệ thuật, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ. Văn học mỗi dân tộc có hệ thống thể loại văn học, hệ thống thi pháp, hệ thống biểu tượng đặc trưng. Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể nhận thấy giá trị văn hoá của nó thể hiện ở hai phương diện đó.

Với các giá trị trên văn học có giá trị sử dụng như là sản phẩm văn hoá. Giá trị ấy gắn liền với ngữ cảnh lịch sử, thời đại, xã hội. Một khi có giá trị sử dụng văn hoá trong ngữ cảnh thì nó sẽ có giá trị hàng hoá trong điều kiện kinh tế thị trường.

Khái niệm giá trị văn hoá tuy thống nhất với giá trị văn học, song xét về ngoại diên giá trị văn hoá rộng hơn giá trị văn học. Một tác phẩm giá trị văn học không cao vẫn có giá trị văn hoá về mặt này mặt khác. Không phải bất cứ sản phẩm nào được gọi là văn học cũng có giá trị đích thực của văn học. Khái niệm giá trị văn hoá rộng hơn, còn giá trị văn học hẹp hơn, chuyên biệt hơn, tuy nhiên phải có giá trị văn học cao thì ở đây mới nói đến chuyện giá trị văn hoá nhiều mặt của nó được. Chẳng hạn ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá dân tộc, nhưng phải là tác phẩm văn học xuất chúng thì phẩm chất của ngôn ngữ dân tộc mới được thể hiện đầy đủ và sáng tạo, khi đó mới nói đến giá trị văn hoá ngôn ngữ của nó. Giá trị văn hoá của văn học, ngoài giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ còn bao gồm các phương diện xã hội học, sử học, chính trị học, đạo đức học, triết học, tôn giáo, ngôn ngữ…Giá trị văn hoá của văn học biểu hiện qua lăng kính của văn học sẽ là vũ trụ quan, nhân sinh quan, lí tưởng xã hội, lí tưởng nhân sinh, lí tưởng thẩm mĩ, quan niệm về con người, về văn học, ngôn ngữ…

Giá trị văn hoá của văn học phải kết tinh thành giá trị văn học. Do đó giá trị văn hoá của văn học thể hiện trước hết ở các sáng tác của các nhà văn hàng đầu như Homere, Tolstoi, Hugo, Balzac, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lí Bạch, Nam Cao, Nguyên Hồng…Vì vậy đi tìm giá trị văn hoá của văn học trước hết tập trung vào các tác gia và tác phẩm có ý nghĩa kết tinh và ý nghĩa thời đại.

Thừa nhận vai trò sáng tạo của cá nhân thiên tài, xuất chúng dẫn đến một tính chất đặc thù của giá trị văn hoá trong văn học. Đó là tính chất hai mặt. Một mặt giá trị văn hoá trong văn học, cũng như trong sáng tác nghệ thuật (hội hoạ, âm nhạc…nói chung) có giá trị được nhìn nhận dưới góc độ cá tính tác giả, có giá trị nhìn nhận của xã hội. Các giá trị đó tiềm tại trong tác phẩm, đến một thời điểm nào đó, do ngữ cảnh xã hội, lịch sử mới được phát hiện ra. Có những tác phẩm mà giá trị đương thời chưa được xã hội thừa nhận hoặc bài xích, phải một thời gian sau nó mới được sáng tỏ, đón nhận, lúc đó giá trị tiềm ẩn mới chuyển hoá thành giá trị thực tế. Do đó nghiên cứu giá trị văn hoá của văn học bản thân là một hành động lịch sử, phản ánh quan điểm của thời điểm nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là nghiên cứu giá trị văn hoá của văn học hôm nay là thời điểm có ý nghĩa nhất, khi mà nhu cầu khám phá giá trị văn hoá đang đặt ra bức thiết nhất, vào thời điểm văn hoá dân tộc buộc phải cọ xát dữ dội nhất trong quá trình giao lưu rộng mở chưa từng có. Giá trị văn hoá xét trong bối cảnh lịch sử quá khứ và cả trong viễn cảnh tương lai của dân tộc và nhân loại.

Trên vấn đề giá trị văn hoá của văn học còn có mối quan hệ giữa giá trị văn hoá dân tộc và giá trị văn hoá quốc tế. Giá trị văn hoá dân tộc có nhiều lí do mà rất khác nhau, trong đó giá trị nào đi gần với nhu cầu giải phóng tính người, cảm quan người, lí tưởng có tính người thì càng có điều kiện được thế giới thừa nhận. Ví dụ hội hoạ về vẻ đẹp cơ thể được phương Tây tôn sùng, nhưng ở phương Đông có nơi lại bị cấm kị. Giá trị văn hoá dân tộc được thừa nhận bởi cộng đồng quốc tế, trở thành giá trị quốc tế. Song song với sự giao lưu, các giá trị văn hoá dân tộc dần dần trở thành giá trị văn hoá nhân loại. Sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế càng cho ta vững tin vào giá trị văn hoá dân tộc.

Giá trị văn hoá có mặt tương đối, mọi văn hoá đều bình đẳng trong tính độc đáo, không phân biệt cao thấp; nhưng mặt khác, so với tiến hoá, sự giải phóng con người, thoả mãn con người thì văn hoá có thể phân biệt trình độ cao thấp, có sự học hỏi lẫn nhau để xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho con người. Giao lưu các giá trị văn hoá là phương diện không thể thiếu.

Văn học là sản phẩm của lịch sử, giá trị của văn học cũng là có tính lịch sử, vì thế phải xét trong bối cảnh lịch sử. Theo chúng tôi, về giá trị văn hoá của văn học chúng ta có thể chia ra giá trị của cả nền văn học, giá trị của thời kì văn học, của giai đoạn văn học, tác gia văn học và giá trị văn hoá của tác phẩm văn học kiệt xuất. Toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam, theo quan niệm phổ biến hiện nay, được chia làm hai thời kì lớn: Văn học trung đại (thế kỉ X – XIX) và văn học hiện đại (thể kỉ XX). Mỗi thời kì lại chia ra các giai đoạn nhỏ. Văn học trung đại Việt Nam, theo quan niệm phổ biến hiện nay là thời kì văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ thế kỉ XIX, được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn thế kỉ X – XIV, Giai đoạn thế kỉ XV – XVII, Giai đoạn thế kỉ XVIII,  Giai đoạn thế kỉ XIX. Thời kì văn học hiện đại chia ra làm hai giai đoạn lớn: đầu thế kỉ XX đến 1945 và từ 1945 đến nay. Mỗi giai đoạn này lại chia ra làm mấy giai đoạn nhỏ, như giai đoạn giao thời (1900 – 1930), giai đoạn tập đại thành !932 – 1945, giai đoạn văn học cách mạng (1945 – 1985), giai đoạn văn học thời kì Đổi mới (1986 – 2000). Trong giai đoạn văn học 1954 – 1975 còn có bộ phận văn học vùng chưa giải phóng và từ sau 1975 có văn học Việt Nam hải ngoại.

  1. Giá trị văn hoá của văn học Việt Nam
  2. Nhìn chung giá trị văn hóa của văn học Việt Nam.
  3. a) Là một bộ phận của văn hoá Việt Nam, văn học Việt Nam xét từ cội nguồn dân gian chắc chắn xuất hiện từ thời viễn cổ. Văn học viết đánh dấu sự xuất hiện văn hoá thành văn của người Việt Nam, lúc đầu là văn hoá chữ Hán, tiếp sau đó là văn hoá chữ Nôm, một văn tự dân tộc được tạo tác theo hình mẫu chữ ô vuông của chữ Hán, tồn tại dưới dạng song ngữ cho đến hết thời trung đại. Văn hoá nào ngôn ngữ ấy, do đó dưới hình thái chữ Hán, ngôn ngữ của dân tộc khác, dĩ nhiên giá trị văn hoá của văn học Việt Nam chưa được thể hiện trọn vẹn, mặc dù chữ Hán đọc theo âm Hán Việt là một đặc sản Việt Nam. Cảm giác thiếu hụt trong sự tự biểu hiện thúc đẩy việc sáng tạo chữ Nôm. Chữ Nôm là một giá trị văn tự đặc sắc, thể hiện sự ý thức ngữ âm tiếng Việt và năng lực cải biến một thứ chữ vốn của nước khác thành thứ chữ của mình. Nhưng dưới hình thái chữ ô vuông, tuy có phần phù hợp với tính đơn lập của ngữ âm Việt, nhưng mặt khác lại khẳng định sự lệ thuộc sâu sắc vào văn hoá Hán. Và do chữ Hán là phương tiện chính thống cho nên chữ Nôm không được quan tâm chuẩn hoá thành văn tự quốc gia. Mặc dù vậy sự hình thành chữ Nôm là một cuộc cách mạng của văn hoá Việt. mở ra chân trời mới cho văn hoá Việt. Từ cuối thế kỉ XIX, đặc biệt là từ đầu thế kỉ XX văn học Việt Nam chuyển sang hình thái chữ quốc ngữ, được chế tác theo hình mẫu chữ cái La tinh, bởi các cố đạo phương Tây và thầy dòng Việt Nam. Đó lại cũng là một cuộc cách mạng nữa làm cho văn hoá Việt Nam được phát triển độc lập hoàn toàn.
  4. b) Văn học Việt Nam đánh dấu sự phát triển cao, toàn diện, phong phú của ý thức của dân tộc và đời sống tinh thần của người Việt và gắn liền với đời sống lịch sử của người Việt. Trong điều kiện các nghệ thuật khác như âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc ít có điều kiện để phát triển quy mô hoành tráng như nhiều dân tộc láng giềng, thì có thể nói văn học Việt Nam là “đài kỉ niệm hoành tráng nhất” của văn hoá Việt Nam chạy dài suốt mười thế kỉ.
  5. c) Văn học Việt Nam có nội hàm rộng và biến đổi theo thời gian. Trong thời trung đại “văn học”, theo quan niệm của người đương thời, được gọi là “văn chương”. Khái niệm văn học, văn chương chưa phân hoá, “văn sử, triết bất phân”, đều chỉ chung toàn bộ sáng tạo văn hiến. Đây là đặc điểm của văn học Trung Quốc và cả văn học phương Tây, thể hiện ý thức có tính loại hình của nhân loại. Trong bài báo Công dụng của văn chương Phan Bội Châu hiểu văn chương bao gồm tất cả mọi tác phẩm bằng ngôn từ, như kinh bổn, triết lí, lịch sử, thi văn, từ phú…Các nhà khoa học ngày nay chia văn học trung đại thành các loại: văn học chức năng hành chính (cáo,chiếu, hịch, biểu, tấu, sớ…), văn học chức năng lễ nghi (văn tế, , trướng, kệ, văn bia…), văn học ghệ thuật (thi, phú, truyện truyền kì…). Cái chung của các loại văn học nói trên là nghệ thuật ngôn tù, ngôn từ trau chuốt, cho nên bài cáo, bài hịch, tờ biểu đều có tính nghệ thuật. Chỉ sang đầu thế kỉ XX hai chữ văn học mới có ý nghĩa hiện đại, tức là văn học nghệ thuật, sáng tạo hình tượng, tách ra, phân biệt với lịch sử, hành chính, chính luận. Tuy vậy, xét qua các công trình như Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, thì nội dung hai chữ “văn học”, “văn” cũng hãy còn rất rộng, bao gồm cả sử, triết, kinh sách, khảo cứu…Rồi sau này trong phong trào văn học cách mạng, văn học bao gồm cả những tác phẩm tuyên truyền nữa. Dù như vậy, “văn học” thời nào vẫn có cái lõi vững chắc là các tác phẩm văn học nghệ thuật.
  6. d) Với nội dung như thế văn chương là sự biểu hiện trình độ văn hoá tinh thần của một dân tộc cao hay thấp. Văn chương Việt Nam thời trung đại đã làm cho các bậc tiền bối của chúng ta tự hào khi so sánh với Trung Quốc. Điều Lệ ngôn trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn viết: “Nước Việt ta gây dựng văn minh không kém gì Trung Quốc. Lê Tiên Hoàng tiễn sứ Tống một bài từ của Lý Giác uyển chuyển đẹp tươi có thể vốc được…” Ngô Thì Nhậm trong bài Tựa sách Hoàng công thi tập nói thơ của Hoàng công “sánh vai cùng Khuất, Tống, ngang hàng với Trần Tạ”[1]. Chưa bàn đến sự chính xác của những đánh giá cụ thể, cũng thầy giá trị văn bản đều được xét trên bình diện văn hoá, lòng tự hào về văn hoá. Cho đến nay văn học Việt Nam đã được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế, có những tên tuổi lớn được vinh dự mang tên danh nhân văn hoá thế giới như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Nhiều tác gia văn học Việt Nam được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới, được tổ chức thành những tủ sách về Việt Nam như ở Nga thời xô viết.
  7. e) Văn học Việt Nam – nhịp cầu nối liền Việt Nam và thế giới. Trong lịch sử văn họcViệt Nam đóng vai trò sứ giả văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ngày nay văn học chữ Hán Việt Nam là một bộ phận trong kho tàng văn học chữ Hán ở Đông Á, tác phẩm ưu tú của văn học chữ Nôm như Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh đã được dịch thành hàng chục thứ tiếng trên thế giới. Văn học Việt Nam đã được dịch thành nhiều thứ tiếng trên thế giới, ví dụ như thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyến Đình Chiểu, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh…

 

 2.Giá trị văn hoá của văn học Việt Nam thời trung đại

Thời trung đại Việt Nam, theo quan niệm phổ biến hiện nay là thời kì văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ thế kỉ XIX, được chia làm 4 giai đoạn như đã nói trên.

  1. Giai đoạn thế kỉ X – XIV
  2. Giai đoạn thế kỉ XV – XVII
  3. Giai đoạn thế kỉ XVIII
  4. Giai đoạn thế kỉ XIX

2.1.Giá trị văn hoá của văn học giai đoạn thế kỉ X – XIV.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử bi thương và anh hùng, văn hoá Việt Nam là văn hoá khẳng định tính độc lập tự chủ của dân tộc. Giai đoạn này ứng với thời đại Lý Trần, là giai đoạn hình thành, đặt nền móng phát triển cho toàn bộ văn học viết Việt Nam về sau, trước hết là văn học chữ Hán, tiếp đó là văn học chữ Nôm. Về chữ Hán, văn học Việt Nam lúc này đã có hầu hết các thể loại văn hành chính quan phương như chiếu, biểu, hịch, luận, di chúc, lộ bố, các thể loại tự sự như sử ký, bình sử, truyện, chí, văn bia, minh, tựa, bạt, các thể văn thuyết lí phật giáo như (Khoá hư ) lục, phổ thuyết (sắc thân), luận, văn, ngữ lục, hành trạng, kệ, thực lục, chích quái lục, các thể loại từ , phú, thi (thơ), ca, sấm kí. Người Việt tiếp thu các thể loại Hán một lúc cùng với chữ Hán, với hệ thông tu từ học vốn có của chữ Hán, cùng với các điển cố có trong sử sách Hán. Chữ Hán gắn với văn hoá Hán, và việc tiếp nhận ngôn ngữ và thể loại Hán gắn với văn hoá, lịch sử, triết học Hán. Điều đó có lợi cho nhu cầu quản lí quốc gia buổi đầu để thống nhất chủ trương, pháp luật… Nhưng điều đó cũng trở ngại cho sự hình thành và phát triển của văn hoá Việt, một mặt, nó đóng khung trong một lớp người biết chữ Hán, không phải phổ biến trong toàn dân, mặt khác nó trở ngại cho việc thể hiện tâm tình và tư tưởng Việt. Do đó sự tạo lập chữ Nôm, thứ chữ ghi âm tiếng Việt là một điều tất yếu không thể tránh khỏi. Chữ Nôm hình thành sớm nhất được tìm thấy qua văn bản Nôm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (Di văn chùa Dâu) vào thời nhà Lý, thể kỉ XII, sang nhà Trần còn lưu lại mấy bài phú Nôm, như Cư trần lạc đạo phú của Trần Khâm vào cuối thế kỉ XIII, các chứng tích khác về chữ Nôm nghi đã bị quân xâm lược Trung Quốc tiêu huỷ hoặc đem về  lưu ở thư viện Cố cung. Việc xuất hiện văn Nôm từ khoảng thế kỉ XII đến giữa thế kỉ XV, lúc Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập, chứng tỏ người Việt Nam bắt đầu sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc gần như đồng thời với các nền văn học Ý (Dante, thế kỉ XIII – XIV ), Anh (Chaucer, thể kỉ XIV), sớm hơn văn học Đức (với Opitz Martin, Grimmelhauzen, thế kỉ XVI – XVII).

Đây là giai đoạn văn học thể hiện sự trỗi dậy của ý thức dân tộc biểu hiện qua việc viết lịch sử dân tộc qua Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử lược (khuyết danh ), các sách Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục , Tổ gia thực lục, Thiền uyển tập anh đều đều đặt nền tảng cho quốc sử và lịch sử phật giáo Việt Nam. Ngoài sử lí. còn có Dư địa chí, một thứ sách địa lí văn hoá lịch sử tổng hợp của Nguyễn Trãi. Giai đoạn này văn học Việt Nam chưa phát triển loại hình văn học hư cấu, chỉ chủ yếu là thực lục, sử học, mà đã ghi lại được biết bao chân dung nhân vật truyền thuyết và lịch sử Việt Nam để cho ta tự hào, chẳng hạn Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Nam Đế, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Hồ Quý Ly, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Biểu…Họ là biểu tượng của con người Đại Việt, tinh thần Đại Việt.  Các thiền sư Việt Nam cũng có một dòng phái truyền thừa qua nhiều đời, có tông phái riêng cũng đánh dấu một tinh thần độc lập tự cường cả trong lĩnh vực tôn giáo.

Một bài thơ khuyết danh Nam quốc sơn hà Nam Đế cư tương truyền của Lý Thường Kiệt, Bài Quốc Tộ của nhà sư Pháp Thuận, một bài Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, một bài hịch Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Trần Hưng Đạo cùng các truyền thuyết trong Lĩnh Nam chích quái lục, Việt Điện U linh tập, các bộ lịch sử Đại Việt đã khắc hoạ khá hoàn chỉnh lịch sử và tinh thần, phong tục dân tộc Đại Việt. Đó là những áng văn đầu nguồn, ghi chép và đánh dấu sự tích hình thành của  văn hoá Đại Việt mà sẽ ảnh hưởng lâu dài với đời sau.

Khi nói tới giá trị văn hoá của văn học cần lưu ý tới giá trị của văn học viết, ghi lại bằng văn tự. Một khi các truyền thuyết con Rồng cháu Tiên, SơnTinh thuỷ Tinh, Phù Đổng thiên vương, Mai An Tiêm, truyện trầu cau… có nguồn gốc dân gian đã được ghi bằng văn tự thì nó sẽ phát huy giá trị của sản phẩm bằng văn tự, tức giá trị của văn học. Nó cộng hưởng với văn học dân gian phát huy giá trị sùng bái anh hùng đánh giặc của Phù Đổng, văn hoá của Lạc Long Quân, Âu Cơ, đề cao vai trò thiên nhiên cao hơn ơn Vua thể hiện trong câu trả lời của An Tiêm vốn là lí do mà chàng bị đi đày và chàng đã đúng.

Giá trị văn hoá Phật giáo thể hiện trong văn học thiền phái thời Lí Trần  một mặt khẳng định trình độ tư duy lí tính trực giác rất cao trong nhận thức vũ trụ, nhân sinh; mặt khác khẳng định trung tâm Tây thiên, đối trọng với quan niệm Trung nguyên, Trung Hoa là trung tâm. Thơ văn Thiền gia còn mang lai không chỉ các thể loại văn học có giá trị như thơ kệ, kệ, truyền đăng lục, ngữ lục, công án, kể hạnh, văn thuyết lí, thực lục và đăc biệt mang lại cho người Việt lối tư duy trực giác trong thi văn, tạo thành một dòng thơ văn thiền mang bản sắc dân tộc. Tiêu biểu cho thơ thiền Việt Nam là thơ cuả Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Trần Tung, đạt đến phá chấp, vô uý, kết hợp xuất thế và nhập thế, vừa tu hành vừa vừa trị nước. Tư tưởng phật giáo, Thiền Tông đem lại lí tưởng sống từ bi, hỉ xả, vô uý, nhịp sống hoà cùng thiên nhiên, giúp con người an nhiên trước mọi biến đổi của xã hội, lịch sử và đời người.

Ảnh hưởng văn học Hán với nhu cầu quản lí quốc gia dã dẫn đến di thực hầu như toàn bộ các thể văn hành chính như chiếu, biểu, tấu, khải, hịch, luận, bi, minh, kí, tự, bạt, sử, bình sử, chích quái lục, mà một số trong số đó đã trở thành tác phẩm bất hủ như Dụ chư tì tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn, Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ những tác phẩm bất hủ trong kho tàng văn hiến dân tộc. Các thể loại phú, thơ ca gồm nhiều thể luật thi và cổ phong, từ…làm nên sự phong phú của thi ca.

Toàn bộ văn học thời lập quốc này đánh dấu sự lựa chọn văn hoá của người Việt trong bối cảnh chính trị xã hội đương thời. Đó là sự lựa chọn truyền thống văn học Hán mà phương hướng này còn ảnh hưởng lâu dài suốt cả thời trung đại và tiếp sau nữa. Với sự hình thành văn học chữ Hán chữ Nôm văn hoá Việt Nam nghiêng hẳn về phía văn hoá và văn học Hán, thuộc vùng văn hoá chữ Hán.

2.2. Giá trị văn hoá của văn học giai đoạn thế kỉ XV – XVII.

Giai đoạn văn học này ứng với ba thế kỉ với các sự kiện lớn: nhà Hồ cướp ngôi, quân Minh xâm lược, nhà Lê đại định, rồi suy tàn, nhà Mạc lên thay, đất nước chia làm Đàng trong, Đàng ngoài. Tiếp tục phát triển các giá trị văn hoá giai đoạn trước và sáng tạo thêm nhiều giá trị văn hoá mới là đặc điểm tiêu biểu.

Cuộc kháng chiến chông quân Minh xâm lược, một đội quan tàn bạo bậc nhất mang tính chất diệt chủng về văn hoá lịch sử đã làm phát triển dòng văn học yêu nước, thể hiện sâu sắc ý thức dân tộc, chí khí anh hùng, tố cáo tội ác diệt chủng của giặc Minh, tư tưởng quân sự “công tâm”, dụ hàng quân giặc, ngợi ca chiến công của dân tộc như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo  của Nguyễn Trãi,  thể hiện khí phách anh hùng của những người chẳng may ở vào tình thế  hiểm nghèo như thơ của Nguyễn Biểu, Đặng Dung. Hồ Nguyên Trừng, người bị giặc Minh bắt về Trung Quốc, biết được chính sách đốt sạch, huỷ sạch của nhà Minh, thân ở tha hương đã kể về những bậc hiền nhân đất Việt (Nam Giao) để gửi lòng yêu nước trong Nam ông mộng lục, nhắc đến đức độ của Trần Nghệ Tông, tính cách cứng cỏi của Văn Trinh Chu An, y đức của Phạm Bân…

Cùng với tư tưởng yêu nước là tư tưởng nho gia được Hồ Quý Li truyền bá và được tiếp tục với Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông với lí tưởng vua sáng tôi hiền, vận dụng đức trị kết hợp với pháp trị. Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông với nhị thập bát tú là biểu tượng của nền văn học nho gia đã trở thành nền văn học quan phương, không còn mang tính chất tự phát.

Sang thế kỉ XVI có thêm dòng văn học ẩn dật, nhàn tản, tự do tự tại, tiêu biểu là thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngoài ra còn có Phùng KhắcKhoan…

Văn học chữ Hán có giá trị mới là thể loại truyền kì qua tác phẩm thiên cổ kì bút Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ,  Thánh Tông di thảo phần lớn là sáng tác của Lê Thánh Tông có ý nghĩa trong vùng Đông Á. Bên cạnh đó là các thể kí, lục, phả làm giàu thêm thể loại tự sự trung đại.

Văn học Nôm nở rộ các thể loại mới là thể đường luật pha lục ngôn, thể lục bát, song thất lục bát, thể hát nói, truyện thơ, các bộ sử ca bằng lục bát, song thất lục bát, tiêu bểu như Thiên Nam ngữ lục dài trên 8000 câu, có các tác phẩm phú nôm với vốn từ vựng rất phong phú, các thể loại ngợi ca như vãn. Thơ đường luật pha lục ngôn là một cố gắng phá cách, đa dạng hoá nhịp điệu thơ. Các tập sử ca có vai trò như các sử thi muộn của dân tộc Việt.

Giá trị văn hoá nổi bất của thơ văn thời kì này phải kể về tác phẩm của Nguyễn Trãi, người được Unesco tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới. Văn chương Nguyễn Trãi kết tinh tư tưởng nho phật đạo vào lí tưởng sống yêu nước, trọng đạo đức, yêu chuộng hoà bình, yêu chuộng con người và thiên nhiên, giản dị mà phóng khoáng, thực tế mà mộng mơ. Khát vọng lớn của ông là dân giàu, nước mạnh, trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hờn, vẫn là một lí tưởng có tính vĩnh cữu.

Thơ văn trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một giá trị văn hoá lớn thể hiện ở thể thơ triết lí, giàu chất trí tuệ, thể hiện tư tưởng ghét chiến tranh, yêu hoà bình, yêu thiên nhiên, lí tưởng sống tự do tự tại, không ham danh lợi.

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đánh dấu sự xuất hiện văn xuôi tự sự nghệ thuật hư cấu Việt Nam đạt trình độ khu vực Đông Á, có giá trị nhân bản sâu sắc bên cạnh gía trị phê phán xã hội, thời cuộc mạnh mẽ.

Nhìn chung cả giai đoạn văn học thế kỉ XV – XVII có thể coi là tương đương với giai đoạn “văn học cổ điển” coi trọng các giá trị lí tính, đề cao đạo lí kinh điển có ý nghĩa cộng đồng. Giai đoạn này cuộc sống trần thế của con người chưa được các nhà văn tập trung thể hiện.

2.3. Giá trị văn hoá của văn học giai đoạn thế kỉ XVIII

Thế kỉ XVIII là thế kỉ nhà Lê suy tàn, nội chiến liên miên, đất nước chia cắt, nhân dân khốn khổ. Vua Quang Trung chớp nhoáng đánh thắng giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước nhưng thời gian ngắn ngủi, chưa kịp có tác động lớn đến toàn bộ đời sống văn hoá. Văn học thế kỉ XVIII nổi bật với tư tưởng nhân văn, lên án chiển tranh, phê phán cuộc sống xã xỉ của vua chúa, khẳng định quyền sống của con người, đặc biệt là cuộc sống trần thế.

Giá trị nổi bật của văn học thế kỉ XVIII là xuất hiện hàng loạt truyện Nôm dài hơi hữu danh và khuyết danh, khẳng định tình yêu đôi lứa, khát vọng hưởng hạnh phúc hoà bình, tiêu biểu là Truyện Song tinh, Truyện hoa tiên, Sơ Kính tân trang, Truyện Phan Trần, Nhị độ mai, Thạch Sanh, Phạm Tải Ngọc Hoa...dài từ 1000 dòng đến 3,4 nghìn dòng. Đồng thời xuất hiện thể loại ngâm khúc, một loại trường ca trữ tình dài hơi của người Việt, khoảng 600 – 1000 dòng, như Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Ai tư vãn...biểu hiện niềm thương tiếc tuổi xuân, sắc đẹp, lên án đấng chí tôn bạc bẻo, lên án chiến tranh thù địch với hạnh phúc cá nhân, thương xót người anh hùng, thương thân goá bụa.

Các thể loại tự sự và trữ tình dài hơi là một giá trị văn hoá mới của văn học dân tộc, thể hiện năng lực chiếm lĩnh đời sống, xây dựng cốt truyền, sử dụng ngôn ngữ. Tiếng Việt đạt đến mức điêu luyện cổ điển, có thể nói là ngôn ngữ văn học nghệ thuật đích thực, làm khuôn mẫu cho đời sau. Truyện thơ và khúc ngâm thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX đều chỉ là mô phỏng các tác phẩm cổ điển thời kì này. Thể loại văn học mới đòi hỏi vận dụng và sáng tạo nhiều phép tu từ văn chương mới mà các thể loại văn học ngắn không đáp ứng được.

Thơ nôm của Phan Huy Ích, Phạm Thái, của các chúa Trịnh như Trịnh Sâm, Trịnh Doanh, đặc biệt là thơ của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương đã đạt đến trình độ cổ điển.

Với sự xuất hiện của dòng văn học chữ Nôm gồm các thể loại thơ nôm đường luật, ngâm khúc và truyện Nôm văn học Việt Nam vừa phân hoá hai dòng văn học bình dân và bác học, và phần nào có sự kết hợp văn học bác học và văn học bình dân. Văn học bình dân này, nói theo thuật ngữ hôm nay chính là văn học đại chúng, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ, giải trí mua vui của đông đảo quần chúng. Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương chính là văn học bình dân, văn học đại chúng của thời đại, một phạm trù quan trong của văn học mà đời sau nhiều khi bỏ quên.

Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán với Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Hoan châu kí (khuyết danh), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)…đánh dấu bước phát triển mới của tiểu thuyết văn xuôi chữ Hán với dung lượng lớn từ 8 hồi đến 17 hồi. Cùng với tiểu thuyết chương hồi, văn kí sự, tuỳ bút (vẫn thuộc loại ghi chép) đạt đến trình độ cổ điển như Thượng kinh kí sự  của Hải Thượng Lãn Ông, Vũ trung tuý bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án ( viết chung với Phạm Đình Hổ). Truyện truyền kì vẫn tiếp tục với Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm… Đặc sắc của tiểu thuyết chữ Hán là diễn nghĩa lịch sử theo truyền thống tiểu thuyết Trung Hoa nhưng quy mô nhỏ hơn, nhưng vì là tiểu thuyết nên đã xây dựng nhân vật với nhiều chi tiết cụ thể, điển hình có tính lịch sử, có sức hấp dẫn. Trong thể kí sự cũng thể hiện tài quan sát, tái hiện các chi tiết sự việc có tính lịch sử, điển hình mà không một cuốn lịch sử nào có thể ghi lại được.

Trong sự đa dạng của các hình thức văn học nói trên các hình thức văn học chữ Hán như tiểu thuyết chương hồi tuy là mới mẻ đối với Việt Nam vẫn  chưa vượt ra khỏi khuôn khổ Trung Quốc, song các thể loại ngâm khúc, hát nói, truyện Nôm đã trở thành những thể loại văn học dân tộc độc đáo thời trung đại. Tiểu thuyết Nam triều công nghiệp diễn chí thể hiện tư tưởng yêu hoà bình, chống nội chiến, huynh đệ tương tàn.

Giá trị văn hoá mới mẻ nhất của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII là tinh thần nhân văn, khẳng định quyền sống, nhu cầu hưởng hạnh phúc của con người, tinh thần đấu tranh chống mọi áp bức, bất công, thái độ khoan dung đối với những thân phận bất hạnh, ý thức phê phán đối với các tư tưởng nho giáo đã lỗi thời, chống ngu trung, ngu hiếu trong quan hệ đối với phụ nữ. Những người khổ đau bất hạnh tìm thấy trong văn học tiếng nói đồng tình, tiếng kêu đồng cảm của tình người, tính người, Tinh thần này nhiều mặt đã vượt ra ngoài tính chất bảo thủ, thiếu nhân văn của ý thức hệ phong kiến. Chẳng hạn như việc coi tướng giặc Từ Hải là anh hùng, coi gái đĩ Thuý Kiều là bậc nữ lưu hào kiệt, văn tế thập loại chúng sinh chiêu hồn, thông cảm với tất cả mọi kiếp người đau khổ bất hạnh, coi thơ Hồ Xuân Hương là tiếng thơ lành mạnh, táo bạo… thể hiện tinh thần dân chủ, nhân đạo, vừa thương thân vừa thương người rất độc đáo trong tâm thức người Việt. Một tinh thần mới mẻ mà sau này nhà nho yêu nước Ngô Đức Kế đầu thế kỉ XX vẫn còn tiếp tục bài xích.

Giá trị văn hoá nổi bật thứ hai là sự giàu đẹp của tiếng Việt thể hiện qua các tác phẩm truyện Nôm và khúc ngâm, thơ đường luật. Lúc này chúng ta tuy vẫn chưa có văn xuôi tiếng Việt, nhưng qua các tuyệt tác thế kỉ XVIII ngôn ngữ thơ Việt đã thể hiện được phẩm chất giàu đẹp, uyển chuyển, có khả năng biểu đạt mọi cung bậc của tình cảm, cảm xúc của con người. Đó là phẩm chất văn hoá cao quý mà sau này đến đầu thế kỉ XX Phạm Quỳnh cùng hàng loạt trí thức Tây học, sau khi học văn học Tây, quay lại nhìn văn học dân tộc vẫn không hết bàng hoàng khâm phục, vững tin vào gia tài văn hoá dân tộc, đến nỗi Phạm Quỳnh đã thốt lên: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Nhận thức chính trị ở đây có thể còn ngây thơ, song sự cảm phục rất chân thực và ý nghĩa về văn hoá là rất đúng đắn.

Thế kỉ XVIII còn có thêm những nhà biên khảo, lí luận, phê bình văn học lớn như Phan Huy Chú với thiên Nghệ văn chí trong Lịch triều hiến chương loại chí, tập hợp ,phân loại các tác phẩm văn học Việt Nam cho đến lúc ấy. Lê Quý Đôn xuất hiện như là nhà bác học Việt Nam, đặc biệt với các công trình Vân Đài loại ngữ, Quần thư khảo biện đã để lại những giá trị lí luận văn học Việt Nam thời trung đại. Giai đoạn này còn có nhiều lời tựa, bạt thể hiện quan niệm sâu sắc về thi ca và văn chương nói chung.

2.4. Giá trị văn hoá của văn học Việt Nam thế kỉ XIX

Thế kỉ XIX là thế kỉ chứng kiến sự thống nhất quốc gia Việt Nam dướí triều nhà Nguyễn, một triều đại phong kiến suy thoái, nhưng đồng thời cũng là thế kỉ đau thương trong âm vang tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp và nước ta chính thức trở thành nước thuộc địa của Pháp sau hiệp ước Patenôtre 1884.

Tiếp tục mạch phát triển văn học từ thế kỉ XVIII, văn học thế kỉ XIX tiếp tục phát triển văn thơ chữ Hán (Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Miên Thẩm…), tiểu thuyết chữ Hán (Ngô Giáp Đậu vơi Hoàng Việt long hưng chí 34 hồi), các truyện truyền kì, kí (… các thể loại văn Nôm như ngâm khúc, hát nói, truyện Nôm, thơ đường luật… Thế kỉ XIX có nhiều hiện tượng văn học nỗi bật.

Một là hát nói của Nguyễn Công Trứ, người đã hoàn chỉnh và đạt đến trình độ cổ điển, mẫu mực của thể loại thơ hát nói. Thơ của ông thể hiện một nhân cách Việt Nam mạnh mẽ, ngang tàng, khí phách, vừa trung với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, vừa thể hiện ý thức cao độ về giá trị của cái tôi của mình. Ông là người có chí tiến thủ mạnh mẽ, tuy cũng thấy sự chật chội của trật tự phong kiến, nhưng luôn luôn có thái độ “ngất ngưởng” coi thường, tự làm chủ bản thân, biết hưởng thụ cuộc sống.

Hai là thơ văn của Cao Bá Quát, những tác phẩm thể hiện một nhân cách thanh cao, một tài thơ siêu việt có thể sánh với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du. Thơ chữ Hán của ông thể hiện một phong cách tự do phóng khoáng, một bút lực mạnh mẽ, một tư tưởng thi ca tiến bộ, coi trọng cá tính của nhà thơ, thoát khỏi mọi sự bắt chước giản đơn thi ca Trung Quốc. Cao Bá Quát thể hiện  tâm hồn của một người trí thức khát khao tiến thủ, nhưng cũng là người thấy sâu sắc sự bế tắc, bi phẫn trước thực tại đen tối đương thời.

Ba là thơ ca của các ông hoàng nhà Nguyễn như Tùng Thiện vương Miên Thẩm và Tuy lí vương Miên Trinh, những nhà thơ được đương thời coi là văn hào, yêu kính đề cao trong câu nhận định “thơ đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường”. Những ông Hoàng không còn cơ hội tham chính đã dồn hết tâm lực vào hoạt động văn chương, thể hiện lòng đồng cảm sâu sắc với sô phận của nhân dân, góp phần làm cho thơ chữ Hán thế kỉ XIX thêm dồi dào, nhưng dấu vết “thi giáo nho học ôn nhu đôn hậu” còn đậm, sự mô phỏng thơ Trung Quốc cũng còn dấu vết mà Cao Bá Quất từng biểu thị ít đồng tình..

Bốn là thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, ông Đồ mù đất Ba Tri đã mở đầu dòng thơ văn yêu nước Việt Nam chống Pháp thời cận đại và hiện đại với những tác phẩm bất hủ như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Công Định…Thơ Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của nhân dân. Dòng thơ này rất đông đảo, bao gồm thơ văn của Phan Văn Trị, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn, …

Năm là thơ văn của Nguyễn Trường Tộ, người đã sớm nhận thức những tư tưởng tiến bộ của văn hoá phuơng Tây, viết nhiều bản điều trần chứa chan lòng yêu nước, tinh thần dân chủ, lo lắng cho tương lai nước nhà, tiêu biểu là Tế cấp bát điều bằng chữ Hán. Tác phẩm Nguyễn Trường Tộ khơi dòng văn chương có khuynh hướng dân chủ trong văn học cận đại Việt Nam.

Sáu là dòng thơ siêu thoát, hưởng lạc bao gồm ngoài Nguyễn Công Trứ còn có Dương Lâm, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh. Trong sự thối nát của xã hội, dặc biệt là trong thời buổi triều đình đầu hàng trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, sự thoát li có tính tiêu cực, song một mặt khác nó cũng chứng tỏ một cách quay lưng với thời cuộc, và tìm đến thú vui siêu thoát.

Bảy là thơ Nôm đường luật đạt đến đỉnh cao mới điêu luyện, tinh tế, cổ điển trong hình thức biểu hiện và ngôn ngữ. Đó là thơ của bà Huyện Thanh Quan, thơ, câu đối của Nguyến Khuyến, thơ Trần Tế Xương…Thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương là một hiện tượng lớn trong văn học cận đại Việt Nam. Thơ Nguyễn Khuyến, một vị khoa bảng nổi tiếng từ quan về làng thể hiện sự bất lực của trí thức nho học trước thời cuộc, làm thơ tự trào cho cái bảng vàng bia đá của mình, đồng thời bày tỏ tình cảm sâu nặng với những người dân làng quê, vui thú với cảnh sắc quê hương. Thơ Tú Xương là tiếng cười trào lộng cay chua đối với thực trạng xã hội nhố nhăng giá trị đảo lộn của làng nho và đô thị trong thời buổi Tây đặt ách thống trị và tự trào đối với số phận mình. Thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương phát triển văn hoá cười trong văn học viết Việt Nam bắt đầu từ Nguyễn Công Trứ với Hàn nho phong vị phú, Nguyễn Văn Lạc (Học Lạc), khơi một dòng thơ trào phúng sau này với nhà thơ Tú Mỡ và nhiều nhà thơ khác.

Nền văn học trung đại Việt Nam tuy có nhiều thành tựu rực rỡ, có văn chương chữ Hán và chữ Nôm, song cũng có nhiều hạn chế. Một là nó chưa có văn xuôi tiếng Việt, thứ văn phản ánh cách nói năng và suy nghĩ thông thường hằng ngày của mọi người mà ai cũng hiểu. Khiếm khuyết đó chẳng những đã trói buộc rất nhiều khả năng biểu hiện tư tưởng của người Việt, mạt khác nó làm cho cái nhìn văn xuôi đối với đời sống không có cơ hội phát triển. Phải sang giai đoạn sau thiếu sót này mới được bù lấp. Thứ hai là thể thơ trữ tình đường luật bằng chữ Hán và chữ Nôm với các yêu cầu về thể thức của chúng cũng có những hạn chế rất lớn là cách luật cứng nhắc, gò bó, thiếu tự nhiên hơn nhiều so với ca dao, thơ lục bát và song thất lục bát. Thơ lục bát và song thất lục bát tuy tự do hơn đường luật, ngắt nhịp, gieo vần phong phú hơn đường luật, nhưng dù sao đó vẫn là thơ có cách luật, là thứ thơ hạn chế sự biểu hiện tự do, phong phú của tình cảm con người mà sau này phong trào thơ mới sẽ tập trung giải quyết.

  1. Giá trị văn hoá của văn học giai đoạn văn học 1900 – 1945

3.1. Giá trị văn hoá của văn học 10 năm đầu thế kỉ XX

Hai mươi năm đầu thế kỉ XX, sau thất bại của phong trào Cần vương, các sĩ phu phong kiến chuyển hướng sang tư tưởng yêu nước theo tinh thần dân chủ Nhật Bản và phương Tây trong các hoạt động Đông du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục. Các tên tuổi lừng lẫy trong lịch sử đầu thế kỉ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Lê Đại, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đã sáng tác thể hiện lòng yêu nước với tinh thần dân chủ: “Dân là dân nước, nước là nước dân”. Tuyên truyền chữ Quốc ngữ, cổ động nếp sống văn minh, tinh thần dân chủ, chấn hưng thực nghiệp là tinh thần thời đại. Sáng tác văn học của họ tuy về hình thức chưa có gì mới, vẫn là những hình thức truyền thống, nhưng hệ thống biểu tượng đã có nhiều cái mới góp phần quan trọng vào cuộc chuyển đổi văn hoá từ loại hình phong kiến sang loại hình dân chủ, thực dụng.

Song song với việc kết thúc cái học chữ Hán khoa cử, bắt đầu nhà trường Tây học, nhu cầu sách dịch truyện Tàu tràn lan trong xã hội. Một số tác giả như Trần Thiện Chung, Phạm Duy Tốn bắt đầu sáng tác truyện bằng thứ ngôn ngữ thông tục, dễ hiểu với độc giả bình dân.

Sự truyền bá chữ quốc ngữ có thể coi là cuộc cách mạng văn hoá to lớn của thời này, bởi nó đã thay thế chữ Hán, thứ tử ngữ của nước ngoài, và chữ Nôm, tuy mang hồn dân tộc, nhưng chưa chuẩn hoá và rất khó học, những thứ chữ chỉ có thể lưu hành trong một phạm vi dân cư nhỏ hẹp bằng một thứ chữ dễ học, dễ viết, ăn khớp với cách đọc và lời ăn tiếng nói cũng như nếp suy nghĩ trực tiếp của con người là một cuộc thay đổi lớn có tác dụng giải phóng tư duy cho người Việt. Ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này càng về sau cang thấy rõ, nhơ chữ quốc ngữ mà sang thập kỉ sau, văn học Việt Nam phát triển mau lẹ, nhờ nó mà khoa học, phê bình, giáo dục được phát triển mau chóng, thuận lợi. Đương nhiên chữ quốc ngữ có phần xa cách với truyền thống văn tự chữ Hán và chữ Nôm của 10 thế kỉ, (có tiến bộ nào mà không phải có chút hy sinh?) nhưng bù lại với mẫu tự La tinh nó làm cho dân tộc gần gủi với phần đông thế giới còn lại, giải phóng cho tư duy Việ được phát triển trong bối cảnh văn hoá toàn thế giới.Về phương diện này đóng góp của các Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh là rất to lớn. Họ là những người đầu tiên  viết văn quốc ngữ, phiên âm tác phẩm Nôm ra quốc ngữ, là người sáng tácvăn học quốc ngữ, làm báo quốc ngữ, làm cho quốc ngữ được phổ biến rộng rãi trong đời sống.

3.2. Giá trị văn hoá của văn học giai đọn 1920 – 1930

Sau khi các cuộc cách mạng bị dìm trong bể máu tầng lớp trí thức mới bắt đầu chuyển trọng tâm vào sáng tác văn học biểu hiện cuộc đổi thay trong xã hội và tâm trạng cá nhân và thời thế, lòng yêu nước kín đáo như thơ văn Tản Đà, thơ văn Trần Tuấn Khải, thơ Đông Hồ, Tương Phố. Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật sáng tác những tác phẩm văn xuôi mới. Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính… chú trọng dịch thuật tác phẩm triết học, văn học phương Tây và Trung Quốc tạo thành một luồng văn học dịch ồ ạt đầu thế kỉ. Một số khác như Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Trung Viên… sưu tầm, biên khảo, dịch thuật văn học nước nhà: dịch thuật tác phẩm chữ Hán ra chữ quốc ngữ, phiên âm tác phẩm Nôm ra chữ Quốc ngữ, soạn các hợp tập truyện cổ nước Nam, ca dao tục ngữ…. Hầu hết các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam đều được biên soạn, phiên âm, phiên dịch từ giai đoạn này cho mọi người lần đầu tiên thấy được cái vôn văn chương có giá trị của dân tộc.

Tản Đà, nhà thơ đầu tiên sống với cơ chế thị trường sáng tác đủ loại sách mà xã hội cần. Thơ ca và tiểu thuyết của ông thể hiện một tâm hồn lãng mạn, một cái tôi cá nhân bơ vơ, lạc lõng mà vẫn giữ cốt cách nhà nho vui với đời, tự tin vào hai chữ thiên lương, sống một cách có bản sắc độc đáo. Tản Đà cùng Trần Tuấn Khải sử dụng thể loại văn học truyền thống có tính tự do, ít gò bó để thể hiện những tình cảm mới, khởi đầu cho những tiếng thơ mới với ngôn ngữ điêu luyện mà sau này các nhà thơ mới sẽ cung chiêu anh hồn Tản Đà.

Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học sáng tác những truyện ngắn đầu tiên, tuy giọng điệu vẫn cũ. Hoàng Ngọc Phách mở đầu tiểu thuyết hiện đại với ngòi bút kể chuyện, phân tích tâm lí sắc sảo qua tác phẩm Tố Tâm. Tác phẩm thể hiện một mối tình lãng mạn bằng một nghệ thuật hoàn toàn mới.

Phạm Quỳnh với tạp chí Nam Phong với ba thứ tiếng: chữ quốc ngữ, chữ Hán và chữ Pháp, một mặt dịch thuật, giới thiệu các tác phẩm triết học, văn học phương Tây, đăng tải cổ vũ văn xuôi qúc ngữ mới, thúc đẩy cho nó hình thành. Phạm Quỳnh cũng là người thể nghiệm lối phê bình văn học mới của Thái Tây, đồng thời cũng khẳng định các giá trị văn học cổ điển. Viêc ca tụng truyện Kiều có tác dụng nêu cao giá trị văn chương tiếng Việt khi mà trong giáo dục tiếng Pháp đã trở thành ngôn ngữ chính thống. Ông đóng vai trò như một nhà cổ vũ văn hoá mới, mặc dù trong một mức độ nhất định ông còn tinh thần bảo thủ, dung hoà đông Tây.Nguyễn Văn Vĩnh mở ra trào lưu văn học dịch tiếng Pháp với các dịch phẩm tiếng Việt từ thơ thơ La Fontaine đến tiểu thuyết Victor Hugo. ông đem cả cuộc đời cồng hiến cho quốc ngữ. Ông cùng Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh được Vũ NGọc Phan gọi là những nhà văn tiên phong.

Phan Kế Bính người viết cuốn Việt Hán văn khảo, cuốn sách lí luận giới thiệu các thể văn chữ Hán và chữ Nôm đầu tiên bằng quốc ngữ.

 3.3. Giá trị văn hoá của văn giai đoạn 1930 – 1945

Đây là giai đoạn tập đại thành của công cuộc hiện đại hoá văn học.   Giá trị văn hoá nổi bật của văn học giai đoạn này là đã hoàn thành công cuộc chuyển đổi có tính cách mạng văn học. Từ đây ta đã có một nền văn học mới hoàn toàn về nội dung và hình thức, văn học cũ không còn tiếp tục sáng tác, không còn tình trạng nửa nọ nửa kia của giai đoạn giao thời. Từ đây ta có một nền văn học mới với hệ thống thể loại: thơ mới, tiểu thuyết mới, kịch nói, phê bình văn học, tiểu luận, phóng sự, bút kí, tản văn…

Sự xuất hiện gần như thần kì củ nền văn học hiện đại Việt Nam, theo chúng tôi là gắn kiền với sự phổ biến của chữ quốc ngữ, một thứ chữ hầu như là ghi rất sát âm đọc của tiếng Việt, dễ học, dễ viết. Nếu theo chữ Nôm, một thức chữ mà người ta chỉ có thể học được sau khi bắt buộc phải biết chữ Hán thì còn lâu mới có được một tầng lớp người đông đảo biết chữ Nôm, mà thiếu đội ngũ ấy thì, dù tiếng Pháp của họ có rất giỏi đi nữa, họ cũng khó mà biểu đạt tiếng Việt một cách tự do.

Nền văn học hiện đại là kết quả giao lưu văn hoá giữa tinh hoa văn học Việt Nam với văn hoá Pháp trong điều kiện thuộc địa, đánh dấu sự hội nhập văn học Việt Nam với thế giới, chấm dứt tình trạng phát triển biệt lạp. Tuy phát triển trong điều kiện thuộc địa, nhưng hầu hết thành quả văn học ưu tú thời kì này đều thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc, gắn bó với vận mệnh dân tộc.

Các truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự bất hủ của Nguyễn Công Hoan (truyện ngắn, Bước đường cùng), Ngô Tất Tố (Tắt đèn, Việc làng), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ, Giông tố, Cơm thầy cơm cô, Lục sì…), Nam Cao (Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc, Sống mòn...), Nguyên Hồng (Bỉ vỏ, Địa ngục, Lò lửa...) Nguyễn Đình Lạp (Ngoại ô) tập trung phơi bày thực trạng hiện thực đen tối, vô đạo, ngột ngạt chế độ sưu thuế và bất công, tàn bạo, các hiện tượng nhố nhăng, bịp bợn trong xã hội thuộc địa. Nổi bật trong các tiểu thuyết này là một quan niệm hiện đại về xã hội, sự áp bức bất công có tính giai cấp mà số phận con người chỉ có thể giải quyết bằng cách mạng xã hội. Hoàn toàn không còn quan niệm về số phận, định mệnh ngẫu nhiên xưa cũ.  Các tác phẩm này cũng khẳng định một phương pháp miêu tả cuộc sống mới mẻ được mệnh danh là phương pháp tả thực, dựa trên sự quan sát, ghi chép, lựa chọn và miêu tả chân thật như những điều trông thấy, khiến người đọc cảm thấy như đã được thấy ở đâu đó trong kinh nghiệm của mình.

Tác phẩm của Đỗ Đức Thu, Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh… lại miêu tả cuộc sống thôn quê với những mối tình, buồn vui, quan hệ, phong tục mang phong vị làng quê mộc mạc, êm đềm. Những tác phẩm này gợi lên tình yêu làng quê Việt Nam đẹp đẽ, êm đềm, nghèo khổ, nhưng nhiều bất hạnh.

Các tiểu thuyết của văn phái Tự lực văn đoàn như của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam đã thể hiện nhu cầu giải phóng cá tính, phê phán quan niệm gia đình phong kiến, cổ vũ sự đoạn tuyệt, thoát li khỏi các lề thói gia đình xưa cũ, xây dựng đời sống mới theo khuynh hướng hiện đại, mang tính chất tư sản, cải lương. Các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng miêu tả những tình yêu, cảm xúc, rung động kiểu mới, tinh tế, mang tính chất thẩm mĩ mới, gắn với thế giới tình cảm và mộng mơ của tầng lớp trí thức, thị dân mới trong xã hội. Nổi bật trong các tiểu thuyết này là quan niệm mới về quyền con người trong xã hội, ý thức mới về con người cá nhân như là những hiện tượng xã hội và ý thức, vô thức, phức tạp. Phương pháp của các nhà văn Tự lực mới mẻ, khắc hoạ tình cảm tinh tế, phong phú, nhưng do tính chất luận đề khá đậm mà trong nhiều tiểu thuyết tỏ ra còn sơ lược.

Tuỳ bút và truyện ngắn của Nguyễn Tuân viết về những cái “tôi” độc đáo, vừa đề cao những cá tính xuất chúng, vừa thể hiện những giá trị văn hoá truyền thống, vừa thể hiện lối cảm nhận mang tính cá nhân nhiều khi cực đoan, khinh bạc. Tuy thế tác phẩm của ông có giá trị nêu bật quyền thành thật và tự do cá nhân trong miêu tả nghệ thuật.

Phóng sự là một thể loại hoàn mới, chưa từng có trong văn chưiơng ViệtNam xuất hiện do nhu cầu của báo chí, điều tra, miêu tả các hiện tượng xã hội khách quan. Phóng sự của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Ngô Tất Tố, chứng tỏ chức năng của ngòi bút nhà văn có thể phanh phui trần trụi các sự thật xã hội (các hủ tục, kĩ nghệ mại dâm, nạn đói kém) mà thông thường dư luận hoặc thói quen ý thức đã không nhận ra, không biết hoặc cố tình che giấu. Nó chứng tỏ phóng sự có một sức mạnh xã hội rất to lớn.

Các hình thức văn xuôi nói trên đã hình thành một nền văn xuôi tiếng Việt, điều mà chúng ta chưa có trong suốt cả thời trung đại. Văn xuôi tiếng Việt hiện đại có cú pháp, văn pháp thuần tuý tiếng Việt, sử dụng vốn từ vựng thuần Việt, dĩ nhiên bao gồm cả từ gốc Hán vốn có trong tiếng Việt. Đó là một giá trị văn hoá rất lớn của nền văn học hiện đại. Có hình thức văn xuôi này làm cơ sở chúng ta mới có thể có tư duy lí luận tiếng Việt, từ đó mới có nghiên cứu khoa học bằng tiếng Việt, viết lịch sử, nghiên cứu  văn học, phê bình văn học, dạy học, dạy đại học… bằng tiếng Việt.

Kịch nói là thể loại hoàn toàn mới ở Việt Nam. Các tác giả Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Vũ Trọng Phụng, đã thể hiện những bi kịch trong xã hội, đặc biệt là Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong vở bi kịch lịch sử Vũ Như Tô, khắc hoạ sự tan vỡ của một ước vọng xây dựng một công trình kiến trúc đồ sộ có giá trị lâu dài cho dân tộc.

Thơ mới là một cuộc cách mạng thật sự trong thi ca Việt Nam. Như một sự bùng phát đồng loạt và thành công, sự xuất hiện của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Anh Thơ, Nam Trân, Yến Lan, Tố Hữu, Thái Can, Đoàn Văn Cừ, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn…thi đàn Việt Nam tràn ngập một tiếng thơ mới đầy sức thuyết phục, làm cho thơ đường luật cổ điển không đủ sức ganh đua trong việc biểu hiện tình cảm của con người thời đại mới.

Thơ mới 1932 – 1945 là một hệ thống thơ mới hẳn về thể thức và thể loại. Thơ tám chữ là thể thơ điển hình phổ biến nhất, tiếp đó là thơ tự do, thơ kịch, bên cạnh đó các thể thơ bảy chữ năm chữ, lục bát, song thất lục bát vẫn được sử dụng, nhưng không còn niêm đối, hạn chế số câu, số chữ, không có bất cứ đòi hỏi nào về lề luật mà viết một cách tự nhiên, các khổ thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ liên kết thành những khổ bốn câu, sáu câu tạo ra những bài thơ  nhiều khổ dài ngắn không hạn định, cho phép nhà thơ thổ lộ dòng tình cảm tự nhiên của mình. Câu thơ mới, dù viết theo thể nào cũng đều là câu thơ tự do tự bên trong, nó có thể vắt dòng để nối với câu tiếp sau, không bắt buộc phải nói ý trọn vẹn trong từng câu riêng như thơ luật, cho nên có khả năng biểu cảm cao. Cấu trúc thơ mới nhìn chung phù hợp với câu nói, tạo thành lối “thơ điệu nói”, sử dụng được ngữ điệu nói, do đó giọng điệu thơ chân thực, đa dạng. Từ vựng trong thơ cũng được sử dụng đa dạng các ngôn từ đời sống, sinh hoạt, bao gồm cả những hư từ mà thơ Đường nói chung ít sử dụng. Đó thật sự là một cuộc cách mạng lớn trong thi ca mà cho đến nay nó vẫn còn nguyên ý nghĩa. Ngày nay có xu hướng vượt qua giới hạn của thơ mới, theo trào lưu thơ chung của thế giới, nhưng cũng phải từ thơ mới mà đi lên. Điều đó càng khẳng định giá trị to lớn của thơ mới đối với tương lai thơ tiếng Việt. Về phương thức biểu đạt thơ mới đã vượt qua lối thơ thiên về ý hoạ của thơ đường mà hình thành lối thơ giải bày, thổ lộ trực tiếp tâm tư tình cảm của chủ thể. Nó cũng tạo cách diễn đạt trực tiếp những cảm giác, cảm xúc nảy sinh trong tâm hồn, khác với lối biểu đạt gián tiếp như trong thơ luật cũ. Có thể nói với thơ mới thơ Việt Nam mới thực sự thoát khỏi ảnh hưởng nặng nề của lối thơ Đường luật và tạo ra tiếng thơ hoàn toàn Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã đem lại cho văn học Việt Nam sự đa dạng về phương pháp sáng tác và phong cách. Lần đầu tiên chủ nghĩ hiện thực cũng như chủ nghĩa lãng mạn được ý thức, trở thành các nguyên tắc miêu tả đời sống con người. Một phương pháp đề cao sự quan sát, biểu hiện khách quan, một phương pháp khích lệ trí tưởng tượng biểu hiện thế giới tình cảm, cảm xúc của con người, đều có tác dụng nâng cao phẩm chất và kinh nghiệm văn học cho cả một thế hệ nghệ sĩ. Đồng thời cũng xuất hiện các thử nghiệm sáng tác theo khuynh huớng tượng trưng, siêu thực, những hình thức tư duy nghệ thuật rất tiêu biểu cho mĩ học của thế kỉ XX.

Cùng với các thể loại văn xuôi, kịch, thơ, thể loại phê bình văn học cũng lần đầu tiên hình thành vào giai đoạn này. Sau những bài phê bình giới thiệu văn học của Phạm Quỳnh trên tạp chí Nam Phong, đặc biệt là bài phê bình về Truyện Kiều, thể văn phê bình văn học dần dần được chú ý, đó là thể văn, ngiêm khắc mà nói chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam.

Phê bình văn học Việt Nam từ Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Trương Chính,Trương Tửu, Lê Thanh, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Vũ Ngọc Phan chủ yếu đi theo hướng tìm tòi các giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ của văn học. Đặc biệt Hoài Thanh là nhà lí luận đầu tiên nêu lên vấn đề bản chất thẩm mĩ của văn học. Với Hải Triều, ĐặngThai Mai…phê bình văn học đi theo quỹ đạo ý thức hệ xã hội. Cả hai hướng đều thể hiện tính hiện đại của phê bình, song cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh đã làm cho hai hướng chống đối loại trừ nhau, khiến cho văn học phát triển phiến diện. Tiến trình văn học đã cho thấy phải chú ý kết hợp cả hai thì văn học mới phát triển lành mạnh.

  1. Giá trị văn hoá của văn học thời kì từ năm 1945 – 2000
    • Giá trị văn hoá của văn học giai đoạn 1945 – 1986.

Văn học 1945 là một cuộc cách mạng mới trong văn học. Theo chủ trương của Đảng Cộng sản cầm quyền, văn học chuyển đổi hình thái, hình thành loại hình văn học phục vụ chính trị, phản ánh hiện thực cách mạng, gắn bó với phong trào quần chúng trong cách mạng. Văn học trở thành vũ khí đấu tranh giai cấp, vũ khí tuyên truyền cách mạng, lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Văn học xây dựng các hình tượng quần chúng công nông binh, hình tượng lãnh tụ, hình tượng bộ đội, phụ nữ, thanh niên, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa lạc quan, phẩm chất cách mạng. Thơ Tố Hữu, thơ Hồ Chí Minh, thơ của Chính Hữu, Hồng Nguyên, Tân Sắc, Thôi Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu…, văn của Tô Hoài, Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu, Phan Tứ, Đỗ Chu, Chu Văn, Ma Văn Kháng, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà…Kịch của Nguyễn Huy Tửởng, Phan Vũ, Học Phi, Đào Hồng Cẩm, Hồ Ngọc… tiêu biểu cho văn học theo định hướng lí tưởng cách mạng nói trên.

Cuộc cách mạng và kháng chiến của dân tộc thực sự là một cuộc cách mạng về văn hoá, trong đó lần đầu tiên, các tầng lớp thanh niên, phụ nữ trong phạm vi toàn dân lần đầu tiên “thoát lí” gia đình ra đi kháng chiến, sống trong môi trường đồng đội, trong tình đồng chí cùng lí tưởng giải phóng đất nước. Toàn bộ quan hệ người và người đã thay đổi lớn, hình thành những con người mới. Tình cảm đối với Tổ Quốc được đẩy lên cao độ, lí tưởng độc lập tư do thấm nhuần trong tâm thức mỗi người. Nền văn hoá mới đã góp phần làm cho hai cuộc kháng chiến đạt được thắng lợi hoàn toàn.

Giá trị văn hoá của văn học thể hiện ở các hình tượng nghệ thuật tích cực, ở các hình tượng nhân vật anh hùng của thời đại. Quả thật trong thực tế cũng như trong văn học chúng ta không hiếm những con người biết hi sinh, xả thân vì nước, một lòng một dạ vì sự sống còn của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hình tượng Bác hồ, hình tượng những chiến sĩ cộng sản như Hoàng VănThụ, Lí Tự Trọng, Tôn Đức Thắng; hình tượng các anh hùng như chị Lí, mẹ Tơm, chị Sứ, Nguyễn Văn Trỗi, Kan Lịch, Kinh, Lữ…, những hình tượng người dân như ông Hai trong Làng của Kim Lân, những nhân vật trong Sỗng mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, những người như Tuy Kiền, Biền, Nam… trong truyện của Nguyễn Khải, Nhẫn trong Cỏ non của Hồ Phương…đều là hình ảnh những con người mới của thời đại.

Văn học đã đóng góp tích cực trong vai trò động viên, cổ vũ nhân dân, quân đội chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến đấu cam go nhất, ác liệt nhất và tàn bạo nhất trong lịch sử. Nhưng việc phục vụ chính trị cũng làm cho văn học khó tránh khỏi sơ lược, đơn điệu, nghèo nàn, ít quan tâm các mặt của đời sống đa dạng, đa chiều, phức tạp của con người cũng như ít tính chất kì ảo, ít tình yêu, ít tính chất éo le, bất ngờ nhằm thoả mãn các chức năng giải trí, thẩm mĩ của văn học. Về phương diện nghệ thuật, bên cạnh một số mặt tiến bộ, trên một số mặt nào đó có thể nói văn học cách mạng có bước thụt lùi so với sáng tác trước cách mạng.

Sáng tác và trước tác của Hồ Chí Minh là một hiện tượng đặc biệt, thể hiện sự kết tính của văn hoá Việt Nam. Tác giả sáng tác để phục vụ cách mạng bằng tiếng Pháp (Bản án chế độ thực dân Pháp, Truyện và kí đăng trên tờ báo Le Paria),tiếng Trung (Nhật kí trong tù), Tiếng Việt (Thơ tiếng Việt, Những Lời kêu gọi…) tập trung thể hiện bản sắc dân tộc trongtư duy, tình cảm, trong ngôn ngữ. Người trở thành biểu tượng Việt Nam, được tôn vinh anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá thé giới thế kỉ XX.

Phê bình, lí luận văn học trong cơ chế chính trị hoá của văn học cũng thiên về hướng xã hội học và tuyên truyền cổ động. Một mặt ra sức ngợi ca các tác phẩm đi đúng hướng, làm tốt việc tuyên truyền, mặt khác thường xuyên vận dụng quan điểm giai cấp và quan điểm chính trị một cách dung tục để uốn nắn, phê phán các lệch lạc, đi sai định hướng, trở thành vũ khí đấu tranh các tư tưởng thù địch, nhiều trường hợp biểu dương thiếu chính xác cũng như phê phán sai, trở thành công cụ chụp mũ, quy kết, hù doạ, gây nguy hiểm và làm tổn thương không ít lực lượng sáng tác, nhiều người bị xử lí, treo bút gần như suốt đời, khó khăn cả trong đời sống cơm áo. Lối phê bình đó thúc đẩy sự trói buộc tự do văn nghệ mà sau này ông Nguyễn Văn Linh đã gợi ý nhà văn “tự cởi trói”để tự cứu.

4.2. Giá trị văn hóa của văn học giai đoạn 1986 đến 2000

Mọi cực đoan đều dẫn đến nhu cầu phản động ngược trở lại. Bước sang thời bình, trong bối cảnh xây dựng chính trị và kinh tế, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, nhu cầu làm bạn với các nước trên thế giới cũng như nhu cầu xây dựng đất nước theo kịp với đà tiến bộ của các nước tiến tiến trên thế giới và khu vực đã làm cho giới lãnh đạo thay đổi về đường lối chính trị. Điều đó làm cho quan điểm văn hoá văn nghệ có những thay đổi lớn so với trước. Trước hết, văn học thời kì mới đánh dấu sự nới lỏng quan hệ văn nghệ và chính trị, văn nghệ được xác định trước hết ở chức năng văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đời sống tinh thần của con người, không đặt yêu cầu phục vụ chính trị như trước. Thứ hai, văn nghệ không bắt buộc phản ánh hiện thực theo các định hướng chặt chẻ như trước; văn học có thể viết về các vùng cấm như cải cách ruộng đất, về khuyết điểm hay thất bại của “phía ta”, viết về đời thường, về tình yêu, về con người tự nhiên, bản năng… Thứ ba, văn học không bắt buộc phải vận dụng phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa từng được quy định là phương pháp sáng tác tốt nhất, mà chủ trương nhà văn được tự do lựa chọn phương pháp và phong cách, miễn là đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh, tiến bộ của bạn đọc. Thứ tư, văn học không nhất thiết phải viết theo quan điểm giai cấp, mà có thể viết theo tinh thần nhân văn, nhân đạo. Cuối cùng,  nhà văn được tạo điều kiện phát huy tối đa cá tính sáng tạo và tìm tòi về bút pháp.

Những đổi thay về quan điểm và chỉ đạo đã làm cho văn học thời kì đổi mới mang những giá trị mới như tính nhân văn, tính dân chủ, tính đối thoại, tính phản tư (nhìn lại chính tư tưởng của minh) và rất đa dạng.  Một thế hệ nhà văn mới nảy sinh trong thời đổi mới. Lần đầu tiên sau gần nửa thế kỉ văn học phản ánh những mặt chiến công, chủ nghĩa anh hùng, tinh thần nhân đạo của chiến tranh giải phóng dân tộc, nay ngòi bút nhà văn đã chạm đến mặt trái của chiến tranh và của cuộc sống đời thường như tính chất vô nhân đạo, sự tha hoá con người ( Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh); con người đánh mất bản ngã, cá tính ( Thời xa vắng của Lê Lựu); con người mất hết niềm tin, lí tưởng, sa vào cuộc sống thực dụng, ích kỉ (truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp…), những khát vọng dân chủ cháy bỏng, những đổ vỡ về văn hoá, niềm băn khoăn về số phận (Ma Văn Kháng và nhiều nhà văn khác). Cũng lần đầu tiên sau nửa thế kỉ văn học Việt Nam viết về những khám phá mới trong tình yêu, biết ngắm những vẻ đẹp của thân thể con người, khám phá những biểu hiện của vô thức…. Những tác phẩm viết về cải cách ruộng đất với cái nhìn phê phán ( Ngô Ngọc Bội, Tô Hoài…); những xung đột mới ở nông thôn, những bi hài kịch thay bậc đổi ngôi. Hình thức văn học lại rất đa dạng. Nhà văn Việt Nam thời đổi mới đã sử dụng nhiều hình thức mới. Trong bối cảnh văn hoá Hậu hiện đại nhiều người ghi nhận có ảnhhưởng của trào lưu này trong sáng tác.

Lời kết

Nhìn lại giá trị văn hoá của văn học Việt Nam  trong mười một thế kỉ qua chúng ta nhận thấy: 1) Văn học Việt Nam ngay từ đầu đã nằm trong vùng ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hán, các ảnh hưởng khác cũng có nhưng mờ nhạt. Tiếp theo là ảnh hưởng châu Âu, chủ yếu là Pháp, sau đó là ảnh hưởng của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa khác, rồi gần đây bắt đầu chịu ảnh hưởng của phương Tây, chủ yếu là Mĩ.  2) Mặc dù vậy tâm thức Việt vẫn âm thầm hình thành bản sắc Việt của Văn học, có thể nói càng vào thời hiện đại bản sắc dân tộc của Văn học Việt Nam càng bộc lộ nổi bật, càng xậy dựng được những giá trị độc lập của văn học dân tộc, nhất là về ngôn ngữ. 3) Tuy ở vào điều kiện nghèo khó và lạc hậu, nhưng văn học Việt Nam vẫn đi theo các giá trị văn hoá tiên tiến của nhân loại, luôn luôn có ý thức tiếp thu và sáng tạo các giá trị mới phù hợp với thời đại. Các giá trị văn học của dân tộc của văn học Việt Nam cho ta niềm tin vào nội lực của văn học dân tộc, vững tin vào tiền đồ văn học nước nhà.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Từ trong di sản, nxb Tác phảm mới, Hà Nội 1981.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Các giới hạn của nghịch dị

Các giới hạn của nghịch dị

D. Nicolaev

(Các vấn đề văn học, số 4 năm 1968)

Trần Đình Sử lược dịch

Sau khi có luận án của M. Bakhtin bàn về “chủ nghĩa hiện thực nghịch dị” giới lí luận Liên xô bắt đầu chú ý tới biện pháp nghệ thuật này. Trước đó người ta xem nghịch dị là một cái gì duy tâm, siêu hình.  Sau 1925 Nedoshivin lần đầu chú ý tới nó, khẳng định vai trò của nó đối với chủ nghĩa hiện thực. Nó là hình thức phóng đại, khoa trương để biểu hiện hiện thực. Đây là quan điểm thời đó, luôn xem nghệ thuật là sự phản ánh hiện thực.

Thuật ngữ nghịch dị (grotesque) xuất hiện ở Ý vào cuói thế ỉ XV,  Đầu tiên nó được dùng để chỉ các loại đồ án trang trí, cấu tạo bằng cách  miêu tả kết hợp một cách kì dị các hình ảnh thú vật,  thực vật và con người. Nhưng nghịch dị tồn tại trong nghệ thuật thì đã có từ lâu. M. Bakhtin trong Sáng tác Francoise Rabelaise và văn hoá Phục hưng và trung cổ M. 1965  đã viết: Kiểu hình tương nghịch dị  (tức là một phương thức cấu tạo hình tượng) là một kiểu cổ xưa nhất mà ta thường gặp trong thần thoại, trong nghệ thuật phỏng cổ của các dân tộc, trong đó có cả nghệ thuật tiền cổ điển của người Hy Lạp và La Mã cổ đại”. . Trong các nghệ thuật khác nhau nghịch dị đóng vai trò khác nhau. Từ các hiện tương đó có thể xác định nghịch dị là  một nguyên tắc miêu tả hiện thực trong đó kết hợp một cách nhân tạo các sự vật thuộc các loại sinh vật khác nhau, phá vỡ sự giống như thật của mô phỏng đời sống, kết hợp những cái không thể kết hợp được.. Chỉ có một tiêu chí như thế thì ta mới có thể xác định dược tác phẩm nào là thuộc phạm trù nghịch dị và tác phẩm nào không phải.. Ngịch dị khác biệt với các phương thức cấu tạo hình tượng khác.. Chẳng hạn phân biệt với các loại cường điệu, khoa trương, mài sắc, nghịch lí, kì ảo, phi lí, hóm hỉnh.

Chẳng hạn nhật kí người điên là nghịch lí chứ không phải là nghịch dị. Ghec sen có câu chuyện Bác sĩ Krupop phân biệt người điên và người thường, chỉ là nghịch lí, không phải nghịch dị. Nghịch lí là hiện tượng thuộc về logich, mới trông thì giống thật mà lại sai, hoặc mới thấy tưởng là sai mà thực ra là đúng.. Nghịch lí là làm cho gần gủi những cái vốn xa nhau, hoặc làm cho xa nhau những cái vốn là gần gủi.. Nghịch lí và Nghịch dị đều là biện pháp thể hiện hiện thực, nhưng khác nhau ở chỗ, nghịch lí tạo ra phối cảnh bất ngờ,  đối với các sự vật bình thưòng nhưng thực chất không thủ tiêu tính bình thường của nó.  Nghịch dị đi xa hơn.  : cấu tạo lại cái bình thường thành một cái dị thường, khác thường, đến mức không còn có tính bình thường nữa, trở thành kì quặc, cổ quái. Nghịch dị không chỉ đòi hỏi một cái nhìn bất ngờ đối với sự vật xung quanh, mà còn cải tạo lại hiện thực theo những kết hợp mà thực tế không thể có được.

Nghịch dị và kì ảo.  Nhà điện ảnh Nga Eyzenstein đặt câu hỏi: Sức hấp dẫn của nghịch dị nằm ở đâu? Và trả lời: Nó nằm ở chỗ không thể kết hợp được của các loại.  Lại hoi: Nội dung chủ yếu của nghịch dị là gì?  Và trả lời: là sự kết hợp của những cái không thể kết hợp, hiện thực và kì ảo,  sự lai ghép hai sự vật đối lập nhau. Chẳng hạn truyện Cái chậu vàng của Hofman nữ nhân vật là người bán táo, nhưng  đồng thời mụ là con quỷ. Nhân vật Ligorst trong đó  là ông già giữ hồ sơ, nhưng ban đêm ông ta là một con ma trơi. Các kết hợp giữa hiện thực và kì ảo tạo ra tính đặc thù của nghich dị (Xem Vấn đề văn học, số 1 năm 1968, tr. 106).  Như vậy nghịch dị bao hàm cả kì ảo, nhưng không phải mọi kì ảo là nghịch dị. Ví dụ tiểu thuyết viễn tưởng là kì ảo, song không phải nghich dị.  Nếu vào thời hiện đại mà ta bắt gặp một ông già cổ đại (như ông Khottabit) hay trên đường phố ta gặp người đàn bà lân tinh (như của Maiakovski) thì đó là nghịch dị, chứ không phải kì ảo. Vì ở đó kết hợp các không gian, thời gian không thể kết hợp nhau được. Như vậy nghịch dị là những sự kết hợp phi hiện thực.

Về chức năng của nghịch dị so với các hình thức nghệ thuật ước lệ. Nedoshivin cho rằng nghịch dị là hình thức cực đoan nhất của các thủ pháp ước lệ. Quan niệm này rất phổ biến. Có ý kiến ngược lại, xem nghịch dị là một hình thức ngụ ý (nói khác) để phản ánh hiện thực ví dụ tranh cổ động miêu tả chú Sam với cái đầu là một quả bom.  Trong văn học nghịch dị là hình thức cường điệu châm biếm. Ví dụ trong một phim hài của Charli Chaplin, người đào vàng đói quá đã đem nầu đôi giày để ăn. Anh ta ung dung mang khăn ăn, dùng cái nỉa quấn cái dây giày, chấm vào nước chấm để ăn, rồi dùng dao cắt từng miếng da giày, cuối cùng mút từng cái đinh giày như mút cái xương cá. Nhân vật Kovaliop của Gogol bị mất cái mũi là một mẫu mực của nghịch dị. Ju. Mann gọi đó là một giả thiết kì ảo. thường gặp trong văn học.. Ở đây cái kì ảo khám phá bản chất của con người mà trước đó bị che giấu. Trong vở kịch Cái bóng của E. Shvarez cái bóng từ giả con người mà đi và tồn tại độc lập. Đây cũng là giả thiết kì ảo. con cái bóng là một ẩn dụ. đại diện các lực lương đen tối và phản bội. Nó là một nghịch dị ngụ ý.

Theo Ju. Mann thì nghịch dị là một hình thức đặc thù của ẩn dụ, nói  theo một nghĩa khác, kiểu như thần công lí tay cầm cái cân, nhưng hai mắt bị bịt kín (Bàn về nghịch dị trong văn học, Matscova, 1966, tr. 98 – 99). Ý này có thể không hoàn toàn đứng. Trước đây Lessing từng nói ngụ ý, phúng dụ  (allegorie)mâu thuẫn với bản chất của nghệ thuật, vì nó không sáng tạo. Diderot cũng từng nói: Bao giờ tôi cũng cho rằng phúng dụ là sản phẩm của một trí tuệ non kém, bất lực, không đủ sức làm phong phú mình bằng thực tại. Nhưng ở đây các tác giả chống lại phúng dụ của chủ nghĩa cổ điển. Vẫn có nhà văn nói ngược lại: nhà văn Nga Korolenco nói với M. Gorki rằng:  Nếu allegorie mà hóm hỉnh thì rất hay chứ. Gorki cho rằng allegorie có thể chứa đựng những tư tưởng lớn lao. Vậy nghich dị khác với phúng dụ nhưng không mâu thuẫn với nó, ngược lại chúng có thể kết hợp khăng khít với nhau.

Nghịch dị kết hợp trong hình tượng hai hiện tượng không thể kết hợp được với nhau, ví như con lừa mang đầu người hay chim ưng mangđầu ngườ hay ngược lại người mang đầu chim ưng. Phúng dụ chỉ là thay cái này bằng cái khác, con nghịch dị thi cái khác nhau là một thực tại mới. Cho nên không nên lẫn lộn.

  1. Kaizer thì cho rằng nghịch dị là một thế giới xa lạ,  tả một sức mạnh xa lạ với con người và với tự nhiên, như là tự nó vốn thế.

Cần thấy sự đa dạng của nghịch dị trong lịch sử văn học và trong các nghệ thuật cũng như trong các thể loại khác nhau. Có thể bản chất của nghịch dị là một sự song trùng  luôn chứa đựng mâu thuẫn, thực hiện các chức năng của nghịch dị có thể là châm biếm, hài hước, bi kịch. Nghệ thuật nghich dị đạp tan tính như thật của phản ánh đời sống, cho phép sáng tạo tự do và đa dạng.

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NGHỊCH DỊ

NGHỊCH DỊ (GROTESQUE)

Nadan Tamarchenco

Trần Đình Sử lược dịch

Từ nguyên: Grotta, nghĩa là cái hang, động. Một trong những thủ pháp tiếp cận thẩm mĩ đối với hiện thực, trong đó hiện thực được cấu tạo bằng sự  xâm nhập lẫn nhau của cái chủ thể và cái khách thể trong nghĩa rộng nhất của hai yếu tố đó (tích cực và tiêu cực,  con ngươi và tự nhiên, , tưởng tượng và kì ảo…)

Khái niệm nghịch dị đi vào lời nói bình thường từ giữa thế kỉ 16 khi nói về hôi hoạ, có khi chỉ cái ương tự như cái thú vật, chỉ yếu tố trang trí  kì dị thời cổ đại. Trong cách dùng từ của khoa học hiện đại nghịch dị thường được hiểu như là một thành phần của kiểu đối lập bao trùm toàn bộ nghệ thuật, trong đó có văn học. và chia tách nghệ thuật ra làm hai lĩnh vực. Theo V. Kaizer nghịch dị biểu hiện thành yếu tố quỷ sứ và phi nhân tính – tất cả những gì xa lạ nội tại với chủ thể gần gủi trong thực tai. Theo M. M. Bakhtin cái nghịch dị của  “chủ nghĩa hiện thực nghịch dị” kế thừa văn hoá cười của các lễ hội cácnavan , một văn hoá kháng cự lại bất cứ sự nghiêm túc một cách ngột ngạt và bốc mùi và tuyên cáo một “chân lí thứ hai về thế giới”.  Đối với G. R. Hocke thì nghịch dị gắn với lối “kì ảo châu Á”, nó vĩnh viễn chống lại su “mô phỏng bảo thủ có tính chất cổ điển”.

Để xác định một cách rõ rệt hơn về nghịch dị thì hãy bắt đầu với  một đặc điểm  của nó,  là cái đặc điểm đã chỉ ra vỉ trí  đặc biệt của nó trong phạm vi của các hiện tượng cùng loại gần gủi, chẳng hạn như những “cái lạ kì” mà con người gặp phải trước cái không là gì cả khi nó cảm nhận  lập trường của mình như là của cái đang bị thủ tiêu (hoặc phế bỏ) và thấy ghê sợ, không phải tự bản chất của mình như thế. Trong trường hợp đó, con người cảm thấy trong tâm hồn mình có cái gì đó  nó phủ nhận cái tôi của mình, nếu như tâm thần bị phân liệt thành các lực lượng chống đối nhau. Còn có một hiện tượng khác cận kề với cái nghịch dị, một cái xấu có lực đẩy ra xa, mà Ju. Kristeva xác định là  cái chẳng phải chủ thể cũng không phải khách thể.

Khác với ba phạm trù trên, nghịch dị được sinh ra từ sự lẫn lộn của cái chủ thể và khách  thể, giữa chúng đã xoá bỏ ranh giới giữa thân thể riêng biệt với xung quanh, như điều mà Bakhtin đã nhấn mạnh. Nhưng tính khách thể của chủ thể đã đượcvăn học thể hiện cả trong các motiv về sự què quặt, khiếm khuyết cuả cá nhân ví như sự đần độn ở nhân vật Ủgrium Berchev trong tiểu thuyết nghịch dị của Santưkov-Shedrin có tên là Câu chuyện của một thành phố.; hoặc là sự khiếm khuyết về thân thể như trường hợp thiếu tá Kovaliop bị mất cái mũi.. Có thể nhắc đến sự biến hình  trong tiểu thuyết của Kaffka. Mặt khác phạm vi của nghịch dị bao gồm sự mêu tả các khách thể có nhân tố chủ thể, tức là các khách thể đã được người hoá, ví dụ như Trái tim chó của nhà văn Bungacov. Hoặc những người chết sống lại như trong Những linh hồn chết của nhà văn Nga Gogol.

Là sự mô phỏng đặc thù, trong đó cái chủ thể và khách thể tạo thành một vật lai ghép , cái nghịch dị còn bao gồm cả  trong sự trần thuật, kết quả là có những văn bản là sự lai ghép các phiến đoạn với nhau, tương ứng với các thân thể què quặt ghép với nhau, phong cách nửa trục tiếp (lời người kể chuyện lại kể theo giọng điệu của nhân vật, là đối tượng được kể.

Bởi vì cái khách thể là một bộ phận của cái nghịch dị, cho nên nghịch dị có xu hướng  biểu hiện thế giới ở bề ngoài, tức ngoại hiện hoá thế giới,  để cho dễ thấy ở bề ngoài. Cái nghịch dị ngôn từ thường là  sử dụng các motiv  về các hình vẽ, các bức tranh, tượng, hình phản chiếu trong gương tự nhiên sống dậy. Không gian bên ngoài trở thành nơi  cư ngụ của cái nghịch dị.Ví dụ các con quái vật được trang trí ở mạt tiền kiến trúc, nhà thờ,  Đối với nghịch dị thường thấy sự biến dạng thân thể người hay thú vật, hoặc phóng đại to lên, hoặc là thu bé lại khác thường. Về mặt này cái nghịch ị vị tất đã khác với cái quái dị, gần đây đã trở thành đối tượng tranh luận trong khoa học.

Rõ ràng là nghịch dị quan trọng trước hết đối với các nghệ thuật nghe nhìn.

Tuỳ thuộc vào thể loại mà tính chất nghịch dị thể hiện trong ngôn từ. . Nó có các chức năng khác nhau ví như chức năng cười cợt trong lễ hội các navan như ở Gacgăngtua và Pantagrien của Rabelaise, chức năng châm biếm như  Guliver phiêu lưu kí của Swift,  hoặc chức năng bi kịch như Người cát của Hoffman.  Dù thế nào cái nghịch dị – thú vật là cội nguồn cổ xưa, song, sau khi cội nguồn phai nhạt, thì lại có nguồn gốc thứ hai của nó. Những thây ma đang sống  đã tham gia vào chuõi các nghịch dị này.  Chỉ được coi là một trong các yếu tố. tiêu biểu.  Cũng giống như các biến hình là nghịch dị, những Don Kihote khát khao uốn nắn cái thế giới đã phát triển méo mó cũng là nghịc dị. Các nhân vật xoay quanh các hành động tính giao như văn chương của de Sad cũng là nghịch dị. Nói tóm lại,bất cứ cái cơ chế nào tương tự như người ,bất cứ sự cấu tạo nào có thể làm được từ các khách thể của vũ trụ cũng có thể là nghịch dị.  Các chủ thể bị khách thể hoá hoặc các khách thể bị chủ thể hoá, tất thảy đều là sự lựa chọn, là sự nảy sinh của thế giới con người, hiện tượng của tồn tại, đang bổ sung mọt cách mâu thuẩn một cái nhìn đối với cái đã nổi bật,  và đòi hỏi cái nhìn khác hẳn bình thường đối với những ai thường đối lập một cách đơn nghĩa cái “tôi” và cai “phi tôi”.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bakhtin Francoise Rabelaise và văn hoá dân gian và thiừu Phục hưng và trung cổ; Ju. Mann Cái nghịch dị trong văn học, Matscova, 1966; I. O. Smirnov Bàn về nghịch dị và các phạm trù gần gủi với nó//Kí hiệu học về cái sợ hãi,  Paris 2005; N. D. Tamarchenco Tiểu thuyết và cái nghịch dị, (về ý nghĩa của lí huyết Bakhtin đối với tiểu thuyết đwng đại) Thông báo của Viện Hàn lâm khoa học Nga, 2005. Số 6.
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Địa vị xã hội của văn học trong thời buổi kinh tế thị trường

Địa vị xã hội của văn học trong thời buổi kinh tế thị trường

Trần Đình Sử

Sự nghiệp đổi mới đem lại một sự đổi thay hết sức to lớn cho văn học, mà nay, nói chung chúng ta vẫn chưa nhận thức rõ. Đó là do ta quá quan tâm đến sự nghiệp đổi mới của văn học, quan điểm, tư tưởng, thi pháp, mà ít quan tâm vị thế của văn học đã đổi thay căn bản. Đây là nói về thực chất của vấn đề, không phải theo yêu cầu của khẩu hiện xây dựng nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là khẩu hiệu xa rời thực tế.

Thực tế của  văn học là gì? Đó là văn học đã ngoại biên hoá, do xã hội đã chuyển sang thời đại kinh tế thị trường. Mà đã thị trường thì mọi thứ trong xã hội đều biến thành hàng hoá.   Các thứ hàng hoá như nhà cửa, cơm gạo, áo quần đã từ giả thời bao cấp để trở thành hàng hoá như chúng vốn thế. Nhưng các thứ vốn không phải hàng hoá cũng lập tức trở thành hàng hoá như con người, quan chức, địa vị, giáo dục, y tế, thể thao…đều biến thanhg hàng hoá, thì văn học tất nhiên cũng trở thành hàng hoá. Mà đã trở thành hàng hoá thì nó đã ngoại biên hoá, nó không còn đóng va trò vũ khí, chiến sĩ như trước. Bởi mệnh lệnh đồng tiền là tối cao. Không phải vô cớ mà các tác phẩm vốn là vũ khí mãnh liệt một thời như thơ Tố Hữu, truyện của Anh Đức, tự truyện Nguyễn Đức Thuận, Sống như Anh hiển hách một thời, mà nay ít người sờ tới.  Lẽ tất nhiên là tiếng hô văn học là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ vẫn còn văng vẳng trong nghị quyết này, văn kiện nọ, nhưng thử hỏi, ai là người thực hiện và thi hành. Xin hỏi, nếu một tác phẩm miêu tả đời sống ngợi ca lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tìm ra nhân vật tích cực hi sinh cho chủ nghĩa xã hội, ca ngợi những người chỉ biết cống hiến kiểu Lôi Phong, Pavel Corchagin thì được mấy ai mua đọc? Tất nhiên là vẫn có ai đó mua, đọc và thích thú, nhưng phải nói thật, họ là số ít, rất ít. Văn học cách mạng chỉ sống được trong bầu không khí chiến đấu, sắt lửa, hi sinh xương máu, không ai được sống bình thường, khi văn học là công cụ tuyên truyền, còn trong thời buổi kinh tế thị trường thì nó không còn đất để tồn tại. Kinh tế thị trường tạo ra một lối sống khác, làm giàu, kiễm tiền, mua nhà cao cấp, mua xe hơi đời mới, ăn mặc theo thời trang và đi xem các phim hót. Những người ngheo vẫn muốn thi hoa hậu, muốn nghe băng nhạc tiền chiến, xem các gala cười vô thưởng vô phạt. Cứ xem các chương trinh VTV thì rõ. Văn nghệ đang tứng bước ngoại biên hoá rồi, không thể đảo ngược. Quản lí bây giờ là xử lí những ai phạm luật, mà xác định phạm luật nhiều khi cũng khó.

Xu thế ngoại biên hoá tạo điều kiện cho những tiểu thuyết loại Quỳnh Dao, Kim Dung, Vệ Tuệ, Xuân Thụ và ngày nay sách ngôn tình, đam mĩ trần ngập thị trường. Xu thế ngoại biên hoá cho pháep inlại hàng loạt sách xuất bản ở đo thị miền Nam mà một thời coi là sản phẩm của thực dân mới đem thu thập đem đốt. Sách bán chạy như  Tiếng chim hót trong bui mận gai, Trở về Êden… tràn ngập mộ thời. Phải nói rằng ngoại biên hoá, tức là giải giáp văn học về mặt chính trị (tuyên truyền chống đối là chuyện khác.). Hôm nay ta đọc Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng một cách bình thường, mà không có gì đồi truỵ cả. Và nhà văn hôm nay có thể kể chuyện về đồng tính, về tình ái, tình dục, các phim và tiểu thuyết có cảnh nóng là bình thường. TRong các chương trình Giai điệu tự hào có khuynh hướng “hoà giải” rẩ rõ, khi đưa vào những ca khúc của ccác tác giả mà trước đây chúng ta cấm kị, nói rõ hơn là các tác giả đã có một thời chống cộng. Nhưng các bài ấy người ta đã hát từ lâu trong sinh hoạt. Đã ngoại biên hoá đến như thế thì có mấy ai sáng tác các tác phẩm theo phương châm “tiên tiến” và đậm đà dân tộc nữa? Bài Xuân và tuổi trẻ của La Hối vốn rất Tây. Có mấy ai làm chiến sĩ nữa?

Biến văn học thành hàng hoá, ngoại biên hoá nó,  là thành tựu lớn nhất của công cuộc đổi mới văn học. Nó làm cho tính chất, cơ cấu văn học, mục tiêu văn học thay đổi. Văn học ngày nay phải thú vị, phải hay, thoả mãn nhu cầu giải trí. Giáo dục vẫn rất cần, lí tưởng nhân văn không xem nhẹ, tri thức lịch sử và đời sống rất cần, nhưng trước hết phải lạ, phải khác thường, phải thoả mãn trí tò mò, phải đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ đã. Cứ xem những đổi thay trong hình thức tiểu thuyết, đổi thay trong các hình thức thi ca, tân hình thức… thì mới thấy văn học đã thực sự thay đổi rồi. Ai hô khẩu hiện cứ hô, song văn học cứ đi con đường ngoại biên của nó.

Có một thơi chúng ta do tâm lí háo hức đã hiểu sai hai chữ Đỏi mới. Ta chỉ nghĩ đó là đổi mới tu duy xã hội và kinh tế một cách rất cao siêu và trừu tượng. Nhưng đó chỉ là bề ngoài. Đổi mới là chuyển từ bao cấp sang kinh tế thị trường, chuyển tư duy từ giáo điều sang tuỳ tiện, chuyển từ lí tưởng cao cả sang thực dụng tầm thường, là tạo tiền đề cho mọi hoạt động kinh tế, trong đó có vay nợ tràn lan, bán đất dài hạn, chỉ định thầu cho ai mà mình có lợi, có tham nhũng lớn, có lợi ích nhóm, đủ hết. Đổi mới làm thay đổi việc bổ nhiệm nhân sự, làm thất thoát tài sản của nhân dân. Tóm lại tấ cả những gì ta lo lắng hôm nay là thành quả của công cuộc đổi mới đó. Đó là thực chất của Đổi mới. Đổi mới cũng làm cho đời sống xã hội được tự do hơn một chút, dân chủ hơn một chút. Bởi toàn bộ các quy định về tự do của công dân trong hiến pháp vẫn chờ khi có các luật cụ thể thì mới được thi hành, Chỉ có điều quốc hội ta quá bận cho nên các luật ấy không biết bao giờ mứi được thao luận và ban hành.

Chỉ riêng văn học được thực sự hưởng lợi. Nó được thoát ra dần dần khỏi vòng cương toả, được là văn học bình thường. Chỉ dần dần thôi, vì nó vẫn bị này bị nọ bất cứ lúc nào.

(Suy nghĩ đầu xuân.)

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ và nhà văn Bảo Ninh

Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ và nhà văn Bảo Ninh

Trần Đình Sử

Trong một bài báo khoa học tại Hội thảo văn học Đổi mới ở Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam, nhà văn Bảo Ninh cho biết, cha ông, nhà ngữ Hoàng Tuệ có ảnh hưởng lớn đến con đường văn học của ông. Thời còn học trung học ông cũng không mấy thích học văn, điểm số thường là 3 hay ba trừ theo thang điểm 5 bậc của Liên Xô. Sau khi giải ngũ sau năm 1975 Bảo Nunh đọc rất nhiều sách tiểu thuyết có trong tủ sách của cha, có nhiều cuộc trò chuyện về cuộc sống với cha. Đặc biệt, có làn người cha đi Pháp mang về cuốn tiểu thuyết Cuộc đời và sự nghiệp của Vasilii Grosman, mà người cha đã đọc và dịch miệng cho nhà văn Bảo Ninh nghe, và cuốn tiểu thuyết đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn nghiệp của Bảo Ninh.

Cuộc đời và số phận của Grosman là cuốn tiểu thuyết như thế nào mà có ảnh hưởng lớn như vậy? Đó là bộ tiểu thuyết hai tập của nhà văn Grosman. Tập 1 viết từ sau năm 1946 và xuất bản năm 1052, ca bgợi các tấm gương hi sinh theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.  Tập 2 được viết sau khi Stalin chết. Tiểu thuyết bắt đầu viết từ năm 1955 đến năm 1960 thì hoàn thành. Ông đem đến tạp chí Thế giới mới và tạp chí Tháng Mười để đăng, nhưng bị từ chối. Có ai đó báo cáo tuyên giáo và bản thảo bị lục soát, tịch thu. Nhà văn viết thư cho Bí thư thứ nhất Nikita Khrutsop, và ông được mới lên làm việc. Ông Suslop, UVBCT, phụ trách tuyên giáo, nói thẳng với nhà văn: Tác phẩm của đồng chí hai, ba trăm năm nữa cũng không thể xuất bản được. Thế nhưng sau khi nhà văn mất, khoảng năm 1980 nó được xuất bản bằng tiếng Nga tại Thuỵ Sĩ. Không rõ bản sách mà  giáo sư Hoàng Tuệ mua ở Pháp về là bằng tiếng gì. Còn ở Nga thì tiểu thuyết này được in vào năm 1988 dưới thới Gorbachop. Ở Việt Nam tất nhiên là chưa thể có bản dịch tiếng Việt. Tôi đoán vậy. Bởi nội dung tiểu thuyết viết về số phận một gia đình, gia đình nhân vật Shaposhnicova. Bà này học trung học trước 1917, lớn lên trong thời Liễn xô có hai đời chống và bốn con. Bối cảnh tiểu thuyết là cuộc chiến đấu trong chiến dịch Stalingrad, nhưng câu chuyện xoay quanh số phận của các nhân vật trong gia đình trên.  Tiểu thuyết kể về những người bị vu oan, bị cho vào trại tập trung và bị giết khoảng năm 1937, người thì bị phát xít bắt và hãm hại. Nhà văn luôn lien hệ chế độ xô viết với chế độ Hitle (đảng xã hội chủ nghĩa quốc gia hay dịch thành đảng quốc gia xã hội chủ nghĩa mà ta dịch là đảng quốc xã. Thực ra Hitle cũng theo chủ nghĩa xã hội) , tả chúng nhiều điểm giống nhau. Đáng chú ý là trong tiểu thuyết ấy có chi tiết khi lính trinh sát Đức ở gần lính trinh sát Nga, họ phát hiện nhau, nhưng họ không bắn nhau, lại có chi tiết, người lính Nga bị bắt, đói, rét, lính Đức thương và cho bỏ trốn, người này sau đó được một phụ nữ Ucraina cứu. Giữa lính Nga và lính Đức có sự đống cảm về số phận. Đó là những tư tưởng đại nghịch đối với tư tưởng chủ lưu và không thể xuất bản ở nước cộng sản chính thống.  Nhưng trên thực tế nó đã được xuất bản sớm hơn nhiều so với dự đoán của ông Suslop.

Giáo sư Hoàng Tuệ, từng là viện trưởng viện ngôn ngữ học, người thường viết về chính sách ngôn ngữ của nhà nước, viết về chuẩn hoá tiếng Việt, đời sống trong ngôn ngữ lại con có một mối quan tâm đặc biệt về văn học, có những câu chuyện tâm đắc riếng để đàm luận cùng với cậu con trai về văn chương và thời cuộc, đối với chúng tôi thật là một điều bí mật mới được hé lộ.

Đối với chúng tôi ông là một bậc thầy, bậc đàn anh đầy uy tín. Ông thường chê anh này lười biếng, khen anh kia chiụ đọc. Ông luôn quan tâm sự đọc của lớp trẻ. Trong những bản nhận xét về sách giáo dục của tôi ông viết với rất nhiều khích lệ. Có lần ông bảo tôi: các bài viết của anh đã được đánh dấu đấy. Tôi hỏi lại thì ông không đáp. Bây giờ thì tôi hiểu được phần nào. Câu chuyện của nhà văn Bảo Ninh cho thấy một tầm vóc tư tưởng của nhà ngôn ngữ học. Có người cha ấy mới có nhà văn ấy. Chúng tôi càng thêm kính mến giáo sự Hoàng Tuệ.

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Phong cách Hán Việt hỗn hợp trong văn học trung đại Việt Nam

Phong cách Hán Việt hỗn hợp trong văn chương trung đại Việt Nam

Trần Đình Sử

Mỗi thời đại văn học thường có một phong cách phân biệt với thời đại văn học khác. Văn học trung đại Việt Nam la một thời đại như thế và nó có nét phong cách phân biệt rõ rệt với văn học hiện đại. Đó là phong cách Hán Việt hỗn hợp của nó. Cách nói này tôi mượn của ông Ưu Thiên Bùi Kỉ (1888 – 1960) trong sách Quốc văn cụ thể (Tân Việt, 1932, tái bản năm 1950). Trong thiên thứ ba của sách này ông đã bàn đến “Hán Việt hợp dụng thể”. Chữ “thể” trong tiếng Hán cổ còn có nghĩa là phong cách. Người ta nói “văn thể” tức là phong cách thể loại. Lại nói “ngữ thể” tức là phong cách ngôn ngữ. Từ đó tôi dịch chữ của Bùi Kỉ thành phong cách. Trong bài của mình  ông định nghĩa như sau: “Phàm trong một bài văn mà dùng cả lối ta và lối Tàu thì gọi là Hán Việt hợp dụng thể”.(tr. 133). Ông dẫn chứng lối lục bát và lối từ khúc, lối song thất với lối biền ngẫu, cổ thơ, các điệu hát thiên thai, thét nhạc, kịch, tuồng…trong đó văn đều viết theo lối biền ngẫu. Kiến giải của ông thật thú vị, nhưng ông chưa nhìn rộng ra toàn thể văn học trung đại, cho nên cái phong cách mà ông nói chỉ giới hạn trong một phạm vi hẹp. Nay tôi mở rộng ra và trình bày phong cách Hán Việt hỗn hợp như sau.

Sự tồn tại dòng văn học chữ Hán rồi sau đó có chữ Nôm và dòng văn học chữ Nôm không hoàn toàn tách bạch nhau mà cộng sinh, liên kết nhau.

Trước hết nói về văn học chữ Hán. Chữ Hán ở Việt Nam tuy có nguồn gốc TRung Quốc nhưng nó là chữ Hán Việt, nghĩa là cùng một chữ Hán đó, nhưng lại đọc theo cách Việt, và người Việt chỉ biết có một cách đọc đó, không ai đọc theo kiểu Tàu. Sự khác biệt này bắt nguồn từ hai hệ thống ngữ âm tiếng Hán và tiếng Việt hoàn toàn khác nhau. Hệ thống phụ âm và nguyên âm hoàn toàn khác nhau. Hệ thống thanh điệu khác nhau. Ví dụ ta đọc xuân thì họ đọc “chun”, ta đọc vũ thì họ đọc “yu”, ta đọc báo thì họ đọc “pao”, ta đọc Đường thì họ đọc “Tang”. Sự khác biệt cách đọc và ngữ âm cho thấy chữ Hán Việt Nam là một hiện tượng Việt Nam, một sáng tác Hán Việt, không thể đồng nhất với chữ Hán nói chung. Như thế văn học chữ Hán Việt Nam cũng mang phong cách Hán Việt hốn hợp.

Lại nói về chữ Nôm, một thứ chữ đọc theo âm Việt, nhưng lại được cấu tạo bằng các yếu tố chữ Hán, trong đó có rất nhiều chữ Hán nguyên mà văn Nôm chỉ lợi dụng âm đọc Hán Việt của nó hoặc đọc trại đi theo âm Việt, mặc dù mã chữ vẫn là chữ Hán. Ví dụ các chữ binh, mã, xuân, thu, cách (xa cách)…đọc nguyên âm, nguyên nghĩa, nhưng nghênh (đón) thì đọc trại thành “nghiêng”, chữ “đội” nghĩa là đội hình thì đọc trại thành chữ “đòi.” Có nhiều trường hợp dùng chữ Hán nhưng đọc theo nghĩa Việt, không dính dáng gì nguyên nghĩa chữ Hán. Ví dụ cai theo chữ Hán là ngôn+hợi, Tàu hiểu là nên, cần, còn chữ Nôm thì chỉ chức Cai. Chữ “lại”, có nghĩa là bọn nha lại, trong văn Nôm thì dùng chỉ trợ từ, như lại còn, lại đi. Tỉ lệ loại này trong chữ Nôm rất cao. Như thế ta cũng có thể nói chữ Nôm là một văn tự Hán Việt hỗn hợp. Nó không thể độc lập với chữ Hán.

Sự tồn tại song song của văn Hán và văn Nôm trong một nền văn học dân tộc thì hai thứ chữ ấy không thể chỉ tồn tại bên nhau mà luôn thâm nhập vào nhau, phối hợp nhau để tạo nên phong cách Hán Việt hỗn hợp. Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam mà chỉ biết dòng thơ văn chữ Hán với dòng thơ văn chữ Nôm, mà không chú ý tới sự pha xen, hỗn hợp của chúng như một phong cách thời đại sẽ là một thiếu sót. Sự hốn hợp bắt đầu từ trong văn tự, rồi lan sang thể loại đồng thời thể hiện trong lối văn Hán Việt bất phân. Cần chú ý văn học trung đại Việt Nam không chỉ là “văn sử bất phân”, mà còn là “Hán Việt bất phân” nữa.

Biểu hiện hỗn hợp thứ nhất là thơ tiếng Việt làm bằng các thể thơ, niêm, luật theo lối Hán. Thơ quốc âm trong Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và  các bầy tôi, thơ quốc âm Nguyễn Trãi, thơ luật của Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương…Đó là thơ Việt, nhưng theo lối Tàu, không phải thuần Việt, cho nên cũng thuộc loại thơ Hán Việt hỗn hợp. Toàn bộ thơ Nôm Đường luật Viêt Nam đủ  các thể nhỏ hơn như tứ tuyệt, từ khúc, cận thể, cổ thể, cho đến nay đều là phong cách hỗn hợp

Cùng loại này còn có văn phú Nôm, lời Việt mà quy cách là của Hán, do đó cũng là Hán Việt hỗn hợp. Những bài Ngã Ba Hạc phú, Phụng thành xuân sắc phú tiếng Việt rất sinh động, nhưng quy cách, văn pháp theo Tàu. Nó cũng là Hán Việt hỗn hợp thể. Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu cũng thế.

Biểu hiện thứ hai là những bài văn chữ Hán, nhưng làm theo thể cách Việt, như Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận, thơ bằng chữ Hán nhưng làm theo thể song thất lục bát, dài 136 câu. Đây là bài thơ làm khi bị tù oan, đêm thu nhớ nhà, nhớ quê, nhớ vợ. Chữ Hán ở đây đã phải phục tùng luật thơ song thất lục bát của người Việt. Các bài thơ chữ Hán khác  viết theo thể lục bát cũng có tình hình tương tự là vừa Hán vừa Việt. Loại này chính là Hán Việt hỗn hợp thể, là văn học Việt Nam, không phải văn học chữ Hán.

Biểu hiện thư ba là chêm. chữ Hán vào các văn bản Nôm như thể ca trù, bao giờ cũng có một lien thơ chữ Hán thuần tuý. Ví dụ bài hát nói Chí Nam nhi của Nguyễn Công Trứ, cả bài làm bằng tiếng Việt, nhưng ở gĩưa chen một câu Hán văn: Nhân sịnh tự cổ thuỳ vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Hoặc như bài hát nói Hỏi gió của Tản Đà trong đó chen các câu chữ Hán: Khoái tai phong dã, rồi: Thử thị Đà giang phi Xích Bích, Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang. Nhà thơ có thể làm toàn bằng tiếng Việt, nhưng cái thú chêm Hán văn khiên họ  coi đó là quy tắc, thể thức của hát nói.

Biểu hiện thứ tư là văn chèo, văn tuồng nhiều đoạn viết theo thể văn biền ngẫu của Tàu. Ví dụ một đoạn văn giáo đầu của vở chèo Lưu Bình Dương Lễ do Bùi Kĩ dẫn ra : “Thiều quang văn tĩnh, quân tử vô song, Nước nhà thuở quốc thái dân an, Khoa trường mở tuyển văn kén vũ. Tôi nhớ xưa tích cũ, Có hai chàng Dương Lễ Lưu Bình,  Bạn đồng song đèn sách học hành, , Ba thu lẻ kể cùng chăn gối. (Có vẻ tình đồng tính?- TĐS). Trời thương kẻ tình thâm nghĩa trọng, Cho chàng Lưu lại chiếm bảng vàng,  Nghĩa bằng hữu, đạo vợ chồng,  Tình ý ấy kể chăng chẳng xiết…” Chèo là thể kịch hát Việt Nam, mà văn thì biền ngẫu lối Tàu.

Văn tuồng cũng đặt theo biền ngẫu, thỉnh thoảng đặt chêm. thơ lục bát, song thất. Giọng hát có xướng, bộ, than, vãn, loạn, bắc, Nam, tẩu mã…Ví dụ đoạn mở đầu vở tuồng Giang tả cầu hôn như sau: “Âu vàng rực rực, Đuốc ngọc lầu luầ, Trên chin lần sách gót Đương Ngu, Dưới trăm họ vui lòng Hoài Cát. Gặp ngày khang cát, Diễn tích người xưa, Truyện Chu Du khéo đặt mưu mô, Dùng Quận chúa để làm mồi cá. Câu lấy Kinh châu thiên hạ, làm cho Lưu Bị cô thân, Phải Khổng Minh nhập quỷ xuất thần.Cho Triêu Tử cẩm nang diệu kế…” Tất nhiên ở đây văn biền ngẫu đã được dùng rất sáng tạo, tạo ra lời nói nhịp nhàng, bằng trắc chan chat. Nhưng vẫn là một lối hỗn hợp.

Biểu hiện thứ năm là Nôm Hán chen nhau. Đó là văn trong nhiều khúc ngâm , truyện Nôm. Nhiều thể đối và điển cố  Hán. Các văn bản Truyện Kiều, Cung oán ngâm…đều dày đặc chú thích , đó là vì nhiều chữ Hán và tích Hán. Thử xem một đoạn của Cung oán: “Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, Đường thế đồ bóng rã tà huy, Phong trần đến cả sơn khê, Tang thương đến cả hoa kia cỏ này. Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau, Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.” Trong tám câu trên không có câu nào là không có chữ Hán. Những thệ thuỷ, cổ độ, thế đồ, tà huy, phong trần , sơn khê, tang thương, ảo hoá, phù sinh, cỏ khâu…Những chữ này không phải là từ tiếng Việt, và cũng chưa Việt hoá. Nhưng từ Việt từ Hán pha trộn nghe rất hay. Trong Truyện Kiều, mức độ chữ Hán thấp hơn, nhưng điển cố dày đặc. Thủ dở các trang đầu, thậm chí mấy dòng đầu của truyện ta bắt gặp các từ ngữ, điển cố Tàu: trăm năm, tài mệnh tương đố, bỉ sắc tư phong, bể dâu, caỏ thơm, phong tình có lục, sử xanh. Gia Tĩnh, viên ngoại, gia tư, nho gia, tố nga, mai cốt cách, tuyết tinh thần…Lục Vân Tiên, Dương  Từ Hà Mậu của nhà thơ Nam Bộ thơ văn cũng nhiều chữ Hán và điển cố như thế. Văn phong ấy là văn phong Hán Việt hỗn hợp. Chỉ có loại truyện Nôm bình dân như Trê cóc, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa…là mức độ hỗn hợp thấp.

Biểu hiện thứ bảy là văn Nôm nhan đề Hán. Đại Nam quốc sử duễn ca là một nhan đề Hán của một thiên lịch sử bằng thơ Nôm, Thiên Nam ngữ lục là nha đề của một trường ca lịch sử dân tộc khác có trước. Một thiên sử Nôm khác lị có tên Thiên Nam minh giám. Truyện Kiều được gọi là Đoạn trường tân thanh, người sau gọi lại thành Kim Vân Kiều truyện vẫn là nhan đề chữ Hán. Một truyện Nôm kể chuyện tình yêu người tiên và người trần gọi là Bich Câu kì ngộ. Chinh phụ ngâm thì gọi là Chinh phụ ngâm khúc hay Chinh phụ ngâm diễn ca. Cung oán ngâm khúc cũng là bằng chữ Hán. Tên một vở tuồng là Giang tả cầu hôn. Đây hầu như là một quy tắc phổ biến. Không khó gì để đăt nhan đề Việt, nhưng thị hiếu Hán khiến họ không buông được một thói quen.

Trên đây là trình bảy những biểu hiện cơ bản của phong cách Hán Việt hỗn hợp của văn học trung đại Việt Nam, phân biệt với văn học hiện đại. Chỉ trong văn học dân gian truyền miệng như ca dao, tục ngữ, câu đố, chuyện cười…là thuần Việt. Còn toàn bộ văn học viết đều mang phong cách trên, cho nên không thuần Việt. So với văn học Nôm nói trên, văn học chữ Hán, tức Hán Việt, bao gồm toàn bộ sáng tác bằng chữ Hán và thể loại, phong cách Hán đúng theo nguyên mẫu của chúng bên Tàu.

Sự hỗn hợp Hán Việt nêu trên có quy luật của nó. Văn học trung đại Việt Nam cũng giống như các nền văn học trung đại khác trên thế giới ở vào giai đoạn sáng tác theo nguyên tắc tư từ (rhetoric). Đó là nguyên tắc văn học làm theo mẫu sẵn và câu sẵn, chữ sẵn, hình ảnh có sẵn. Mà mẫu sẵn và câu sẵn thì văn học chữ Hán đã hình thành hoàn thiện từ thời cổ đại đến đời Đường Tống. Đó là cái kho vô tận để các tác giả làm theo. Nhưng nói như thế không phải là nói văn học trung đại không sáng tạo. Nó sáng tạo theo nguyên tắc dùng mới các từ ngữ săn, khuôn hình sẵn. Mở rộng ra là sử dụng các điển cố có sẵn. các tích truyện có sẵn để biểu đạt ý mới. Cốt truyện Truyện Kiều là có sẵn, nhà văn không sửa lại bao nhiêu, nhưng cái ý nghĩa mà  nó muốn biểu đạt thì lại mới. Do đó nếu so sánh sự giống nhau Truyện Kiều với truyện của Thanh Tâm tài nhân là việc làm ít ý nghĩa, bởi đó chỉ là cái giống bề ngoài. Chinh phụ, cung oán là những môtiv có sẵn, nhưng tư tưởng của những áng văn Việt Nam là mới mẻ, sâu sắc. Văn học trung đại không đặt ra yêu cầu sáng tạo thể loại mới, từ ngữ mới, hình ảnh mới như văn học hiện đại, không yêu cấu thể hiện sắc nét cá tính, do đó cá tính vẫn có nhưng mờ nhạt, không đều. Khó phân biệt thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là vì thế. Sự sáng tạo ra lục bát và song thất lục bát, hát nói đều là phát triển, nâng cao, thể thức hoá từ các khuôn âm vốn đã có sẵn trong ca dao, dân ca tiếng Việt. Hát nói là sự tổ hợp, phối xen của các yếu tố đã có như lục bát, song thất, đối, câu thơ dài từ tám chữ trở lên. Và một khi đã hoàn thiện thì nó không thay đổi nữa. Phong cách này chi phối cả chục thế kỉ văn học Việt cho dến thời cận đại. Nó cho thấy thời trung đại ta chưa bao giờ có văn học viết thuần Việt. Chỉ đến khi chữ quốc ngữ xuất hiện và thông dụng, ảnh hưởng phương Tây tràn vào thì phong cách ấy mới chấm dứt để chuyển sang một phong cách mới, hiện đại. Chỉ đến lúc này chúng ta mới có  văn chương thuần Việt, đặc biệt là trong văn xuôi. Từ Hán Việt trong văn xuôi lại là một vấn đề khác, vấn đề của ngôn ngữ hơn là vấn đề của văn. Nhiều người cứ tưởng rằng càng cổ xưa thì càng dân tộc, nhưng lịch sử cho thấy chỉ đến thời hiện đại tính dân tộc của văn chương mới đạt  dến hoàn thiện với một phong cách mới. Đó là phong cách sáng tạo, cá tính, chống lại mọi sự ràng buộc của các quy phạm (canon) và không ngừng thay đổi. Nhà văn lúc này phải tự tìm ra cốt truyện của mình, hình thức của mình, ngôn ngữ của mình để biểu hiện tư trưởng một cách tự do. Quan sát thơ ca và tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XX thì sẽ thấy thơ ca, tiểu thuyết về quy cách, văn phong, kiểu thức, phong cách cá nhân luôn luôn thay đổi, cái sau muốn thay cái trước, tạo ra một chuyển động không ngừng. Tất cả những thay đổi đó đều nhờ vào chữ quốc ngữ và văn học quốc ngữ. Giá thử không có quốc ngữ mà vẫn cứ Hán Nôm như các thế kỉ trước thì văn học Việt Nam sẽ hầu như dẫm chân tại chỗ. Chỉ cần xem sự lưỡng lự của Tản Đà thì thấy rõ. Ông là nhà thơ tài năng xuất chúng, nhưng không thể thoát khỏi cái truyền thống Hán Nôm mà ông đã đào luyện hầu như suốt đời. Hiện tượng này giống như văn học Trung Quốc hiện đại. Nhu cầu đổi thay ngôn ngữ văn học đã xuất hiện từ giữa thế kỉ XIX, ông Hoàng Tuân Hiến đã nêu ra khẩu hiệu: “Tay tôi viết miệng tôi”, tức là muốn dung khẩu ngữ, nhưng nhu cầu ấy phải có một phong trào xã hội rộng lớn thì mới hoá thành thực tế. Thời “Ngũ Tứ”(ngày 4 tháng5) năm 1919 chính là phong trào ấy, nó “lật đổ cửa hàng họ Khổng”, đạp nát mọi cũ kĩ, tiếp nhận phương Tây, xây dựng nền dân chủ và sáng tạo mới, nêu khẩu hiệu văn học bạch thoại. Nếu họ không chuyển đổi sang văn bạch thoại, từ bỏ di sản văn ngôn trong sáng tác thì họ không thể có văn học hiện đại như ngày nay. Văn học Trung Quốc hiện đại là văn bạch thoại.

Lịch sử là một sự chuyển vần tuy rối ren nhưng hầu như có quy luật. Một khi đã sang văn học hiện đại rồi thì người ta không thể quay về cái cũ nữa, mặc dù cái cũ vẫn rất trác tuyệt trong phong cách của nó.

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2016.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?