BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHỦ ĐỘNG HỌC VĂN CHO HỌC SINH

Vấn đề “tự học” không phải bây giờ mới được đặt ra mà ngay trong mô hình dạy học cũ, các nhà sư phạm cũng đã khuyến khích tự học. Sách giáo học pháp Nga gọi là học tập “độc lập”, “tự chủ” (cамостоятельная учеба); sách Trung Quốc gọi là tự chủ học tập (自主学习);  tiếng Anh gọi tự chủ học tập là “autonomic learning”, “leaner autonomy”; người Việt Nam quen gọi là tự học. Tuy nhiên khái niệm “tự học” trước hết có nghĩa là tự mình học, không có ai dạy hoặc không cần ai dạy, tự học còn là một hình thức học tập phân biệt với học nhóm, học có người hướng dẫn. Còn “tự chủ học tập” thì lại có ý tự mình làm chủ việc học của mình, chủ động, có kế hoạch…cả trong điều kiện có người hướng dẫn lẫn không có người hướng dẫn. Hãy xem một số định nghĩa nước ngoài về khái niệm tự chủ học tập.

a) “Tự chủ học tập là chỉ hoạt động học tập chủ động, tích cực, siêu việt của người học trong điều kiện người hưỡng dẫn cung cấp thông tin, biết vận dụng phương tiện thông tin; sự nâng cao toàn diện kĩ năng, phát triển năng lực và các phẩm chất khác dựa vào việc kiến tạo tri thức trong hoạt động dạy học chủ yếu đều dựa vào trình độ học tập của học sinh.”

b)  “Tự chủ học tập là chỉ việc người học tự mình nắm vững, khống chế nội dung học tập, quá trình học tập, phương thức học tập, là sự tự do điều tiết quá trình học tập, nội dung học tập, trong quá trình học tập còn phải cung cấp tư liệu có lợi cho khoá trình, cho việc tự học, đó cũng là một bộ phận quan trọng của quá trình tự học.”

c) “Tự chủ học tập là hoạt động thực tiễn dạy học, thông qua sự chỉ đạo khoa học của thầy, xoay quanh mục tiêu học tập do học sinh tự chủ lựa chọn phương pháp học tập, tự mình giám sát việc học của mình, thông qua hoạt động học tập năng động, sáng tạo mà thực hiện sự tự phát triển của học sinh.”

          Như thế khái niệm tự học của một số nhà giáo dục Việt Nam chưa phản  

    ánh được tinh thần của khái niệm học tập mới. Vì thế, theo chúng tôi,  nói  

    chủ động học tập đúng hơn là nói tự học.

      Ở các nhà giáo dục phương Tây, nội dung khái niệm tự chủ học tập chỉ việc học sinh hiểu bản thân, năng lực của mình, mục tiêu của mình, giá trị của mình, tự tin bước vào học tập; hiểu được hoàn cảnh học tập, lựa chọn tiếp điểm tốt nhất của mình đối với hoàn cảnh học tập. Biết thực hiện có dũng khí, nghị lực, hằng tâm; biết lập kế hoạch, thực hiện, rút kinh nghiệm để mình luôn tiến bộ. Nói cách khác, tự chủ học tập trước hết là một cơ chế nội tại chỉ đạo việc học tập của người học do tổng hợp các nhân tố như thái độ, năng lực và sách lược học tập của người học, cũng tức là năng lực học tập bằng cách tự chỉ đạo, tự khống chế của người học. Hai là quyền khống chế hoạt động học tập của người học bao gồm xác định mục tiêu học tập, nội dung học tập, phương pháp học tập, cũng tức là thái độ tự do chọn lựa các phương diện trên của người học. Ba là tự chủ học tập là một mô hình học tập thực hiện dưới sự chỉ đạo của thầy giáo, căn cứ vào điều kiện học tập, mục tiêu của người học. Một cách hiểu như trên có phần mới mẻ và có chỗ thái quá. Một số nhà giáo dục ngại ngùng đã phân tích chỉ ra những nguy cơ của một số khía cạnh trong cách hiểu chủ động học tập như trên.  Một là cái phương thức hoàn toàn do người học làm trung tâm có thể dẫn đến tình hình là người học mất đi cơ hội nếm trải những sự vật mới mẻ, và do tầm nhìn hạn hẹp của người học mà phán đoán sai lầm. Đây là nhược điểm thường thấy của những người tự học (autodidac). Thứ hai, do thiếu tiêu chí kiểm nghiệm mà trở nên tự lừa dối mình. Một người tự chủ học tập rất dễ tự mãn, trở ngại cho tiến bộ của anh ta. Thứ ba, tự mình luyện tập sẽ gặp khó khăn. Gặp những luyện tập cực nhọc người học dễ dàng tự giảm bỏ, không kiên trì đến cùng. Tuy nhiên, những nhược điểm ấy nếu có sự chỉ đạo, nâng đỡ, khích lệ của cha mẹ và giáo viên thì học sinh, với tinh thần chủ động học tập sẽ có thể vượt qua. Cần nhấn mạnh chủ động học tập không có nghĩa là học một mình, thoát lí sự chỉ đạo của thầy, sự hợp tác của bạn bè, sự nâng đỡ của phụ huynh học sinh.

      Nhìn chung học sinh Việt Nam do truyền thống văn hoá chưa có được tinh thần chủ động học tập như phương Tây. Hãy xem bảng liệt kê sau đây:

          Học sinh Việt Nam          Học sinh phương Tây
        Chuyên ngành hẹp       Hứng thú rộng rãi
        Diện rèn luyện hẹp       Diện rèn luyện đadang chắc chắn
        Rèn luyện tuỳ tiện       Rèn luyện có tính nhảy vọt
        Trầm lặng, giữ kẽ       Sôi nổi
        Hay xấu hổ, sợ sai       Táo bạo
        Thiếu tự tin       Tự tin
        Bị động       Chủ động
        Dễ bảo        Không dễ bảo

      Như thế việc phát huy năng lực chủ động học tập đòi hỏi trước hết phải thay đổi động hình học tập trong tính cách người Việt.  Chúng ta hiểu vì sao phần lớn học sinhViệt Nam được đào tạo ở nước ngoài thường mạnh dạn táo bạo hơn trong công việc so với học sinh ở trong nước. Phát huy tính chủ động của học sinh phải là một quá trình lâu dài kiên trì không mệt mỏi.

      Làm thế nào để bồi dưỡng năng lực chủ động học tập cho học sinh? Tinh thần chủ động học tập chỉ có được với ý thức tự giác. Vậy thầy cô giáo ngay từ lớp đầu cấp, lớp dưới đã nói rõ cho học sinh biết thế nào là chủ động học tập, tạo điều kiện để phát huy tinh thần ấy. ở môn ngữ văn giáo viên nêu rõ cho học sinh biết nội dung, yêu cầu, phương pháp học tập và kết quả cần đạt để học sinh chủ động.

        Các nội dung và yêu cầu học tập của môn ngữ văn không ngoài các điểm sau:

  1. Học thuộc lòng. Học văn nhất thiết phải học thuộc lòng một số bài thơ, đoạn văn hay, có giá trị tiêu biểu.
  2. Biết đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc nhanh để nắm bắt thông tin.
  3. Đọc hiểu mạch văn, lập luận, cấu tứ của văn bản, biết phân tích các chi tiết văn học có ý nghĩa sâu sắc.
  4. So sánh nhận ra chỗ giống nhau, phát hiện chỗ khác nhau của các hiện tượng văn học.

Hiểu và nắm bắt các từ ngữ then chốt.

  • Thuộc các luật thơ.
  • Nắm chắc đặc trưng thể loại văn học chủ yếu.
  • Lập đề cương, vẽ sơ đồ, biểu đồ khái quát văn học sử.
  • Phân biệt đặc điểm các trào lưu chủ yếu trong sáng tác.
  •  Biết phân biệt phong cách các nhà văn tiêu biểu.
  •  Phân biệt các biện pháp nghệ thuật thông dụng.
  •  Biết khái quát giá trị tư tưởng và nghệ thuật.
  •  Nắm các tri thức về phong cách học chức năng, các phép tu từ học và tiếng Việt.
  •  Biết làm văn theo yêu cầu các loại văn bản thông dụng, bao gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học với một trình độ kĩ năng nhất định.
  •  Biết viết đúng chuẩn tiếng Việt và chuẩn chính tả.

 Trên cơ sở nắm vững nội dung và yêu cầu học tập khuyến khích lựa chọn, sử dụng các phương pháp học tập.

     Nói đến tự học là nói dến phương pháp học tập. Phương pháp học tập của học sinh rất khác nhau, trình tự khác nhau, ưu điểm, nhược điểm khác nhau. Phải làm cho học sinh có ý thức về phương pháp,phương thức học tập của mình để cải tiến nó, sao cho có hiệu suất cao nhất. Khi học sinh đã có ý thức về phương pháp thì cóthể giới thiệu các loại phương pháp, các sách về phương pháp.

      Trên thế giới đã lưu hành nhiều loại sách về phương pháp học tập. Chẳng hạn sách Phép học tập siêu cấp của Công ty trách nhiệm hữu hạn về phép ghi nhớ siêu cấp số 10 phố Wall Nữu ước. Phép này do tiến sĩ Bulgari Rozanov sáng tạo và bán bản quyền sang Mĩ, có hiệu xuất học tập cao. Có thầy giáo áp dụng phương pháp trên cho 180 sinh viên học hai năm mà có trình độ tiếng Anh bằng sinh viên bốn năm, 13 phút nhớ100 từ mới.., Sách Phép đọc nhanh do hai chuyên giá Liên Xô nghiên cứu 12 năm, nay đã phổ biến trên thế giới. Phép học tập tiết kiệm về mặt sinh học do tiến sĩ Đức Wilhaim Fris, nhà tâm lí học áo Herman và Alfred Tricher phát hiện: Học lúc nào hiệu quả nhất, có hứng nhất.  Có sách dạy rèn luyện trí nhớ, có sách dạy tư duy, có sách dạy tư duy sáng tạo…Các sách ấy rất cần cho thầy và trò trong quá trình cải thiện phương pháp học tập cho học sinh.

      Không nên quên rằng các hình thức chủ động học tập truyền thống của học sinh  trong nhà trường vẫn có ý nghĩa rất quan trọng:

      Chuẩn bị bài. Người học sinh đã được thầy giáo thông báo cho biết bài học sắp tới và chuẩn bị theo yêu cầu đọc trước, tả lời các câu hỏi trong SGK. Nếu không làm hết các bài tập thí ít nhất cũng đọc qua, đọc các câu hỏi để biết cái gì sẽ được nêu trong lớp và có tinh thần chủ động theo dõi bài. Nếu thầy cô kiểm tra sít sao khâu này cũng có tác dụng thúc đẩy tự học.

    Ghi chép bài trên lớp cũng là một khâu có ý nghĩa tự học. HS ghi theo sự chú ý của mình. Nếu được thầy cô theo dõi, chấm vở ghi để biết học sinh ghi chép một chiều hay bết lựa chon, nhằm biểu dương người ghi đúng, có trọng tâm, có lựa chọn không phải nghe gì ghi nấy, ghi điều nói thêm nói ngoài, không thất sự bổ ích.

    Ôn bài phải lập đề cương, sắp xếp ý theo trật tự, theo cách lập luận, phân tích để hiểu một cách có căn cứ lôgich, chứ không phải là nhớ máy móc. Ôn bài trước khi làm bài tập hoặc làm bài tập trước khi ôn bài. Hoặc ôn đến đâu làm bài tập đến đấy.

    Phải biết tra cứu tài liệu như tra tự điển, từ điển phổ thông hoặc từ điển chuyên môn.

    Đọc tài liệu tham khảo ghi lại ý chính, luận điểm chính.

    Làm bài văn.

     Học tập có tính chất nghiên cứu. Một là tìm hiểu vì sao từ các chi tiết sách giáo khoa lại có cách khái quát như vậy. Hai là từ các chi tiết trong văn bản có vẻ khó hiểu hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau, hãy suy nghĩ tìm cách hiểu hợp lí. Ba là so sánh các ý kiến khác nhau, tập biện luận để tìm chỗ đứng của mình trước các ý kiến khác nhau trên một vấn đề.

     Để hiểu một vấn đề hay ý kiến nhiều khi không thể chỉ dựa vào tri thức trong bài, mà đòi hỏi tri thức liên ngành, tri thức văn hoá. Vì thể cần khuyến khích các học sinh có điều kiện đọc thêm tài liệu ngoài chương trình.

     Nói đến năng lực tự học là nói đến tinh thần tự học, tinh thần chủ động, tự giác điều hành toàn bộ công việc học của mình về thời gian và dung lượng. Nói một cách lí tưởng thì chủ động học tập tích cực là không bị câu thúc bởi thi cử, lên lớp, thời khoá biểu. Chủ động tiêu cực là học theo một sự quản lí chặt chẻ. Học tập tự do là chỉ nhằm mục đích chinh phục tri thức, nâng cao bản thân.

      Trong phương pháp học tập quan trọng nhất là rèn luyện năng lực tư duy. Năng lực ấy thể hiện rõ nhất ở ý thức nêu các vấn đề để tự suy nghĩ khi học ở nhà và nêu câu hỏi khi học ở lớp. Thông thường thì SGK đã nêu câu hỏi chuẩn bị bài, lên lớp giáo viên còn nêu câu hỏi bổ sung, còn HS rất ít khi nêu câu hỏi. Đó là lối dạy học một chiều, câu hỏi một chiều. Đầu óc của chủ thể học sinh chưa được kích hoạt. Vấn đề là làm sao cho HS có ý thức tự đặt cho mình những câu hỏi (vấn đề) trong khi tự học chuẩn bị bài. Trong quá trình học bài chắc chắn các em có những chỗ chưa hiểu, không hiểu, hiểu lơ mơ, nhưng không dám mạnh dạn nêu ra, sợ nói sai, sợ bạn cười, sợ câu hỏi ngớ ngẩn, sợ giáo viên khó chịu…Cần cho học sinh biết ai đọc văn cũng gặp những chỗ như thế, nếu biết đem ra trao đổi thì rất thú vị và bổ ích. Giáo viên cần khuyên khích học sinh nêu câu hỏi nói lên những điều chưa rõ, giúp các em chỉnh sửa câu hỏi, biết nêu câu hỏi. Để học sinh biết cách nêu vấn đề cần cho các em biết có ba loại câu hỏi: Loại câu hỏi nhận diện văn bản (như thế nào, ra sao, biện pháp gì…), loại câu hỏi nhằm phát hiện, giải thích ý nghĩa (chi tiết, mâu thuẫn, xung đột có ý nghĩa gì…), loại câu hỏi giải thích nguyên nhân, phát hiện quy luật (tại sao lại như thế…). Mỗi loại câu hỏi lại có các hình thức khác nhau. Loại thứ nhất khi nhận diện có thể phát hiện thấy những đặc điểm khác thường của văn bản, chẳng hạn như không viết hoa đầu dòng, cách dùng từ lạ, cách đảo câu, thay đổi trật tự từ trong câu… Có HS đã hỏi vì sao trong một câu thơ của Xuân Diệu “Hai tay chín móng bám vào đời”, hai tay tại sao lại chín móng? Chín có nghĩa là gì?  Loại thứ hai thường gặp những câu văn, câu thơ ý nghĩa mặt chữ hiểu cả mà không hiểu ý nghĩa biểu đạt, nhiều trường hợp đa nghĩa nên chọn nghĩa nào phù hựp với lôgích hơn cả. Chẳng hạn như các thắc mắc liên quan đến khổ thơ cuối trong bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Loại câu hỏi thứ ba người hỏi chỉ nêu được khi đã hiểu các vấn đề thuộc hai loại câu hỏi trên, phải có cái nhìn toàn cục, biết tách mình ra khỏi văn bản để nhìn nó xa hơn. Hoặc có em hỏi trong truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố tại sao chị Dậu trong khi chạy tiền nộp sưu thì bán con gái chứ không chịu bán mình ? Khi học sinh biết nêu câu hỏi là khi các em bắt đầu tư duy, có nhu cầu tư duy. Lúc này tiến hành giáo dục các phương pháp tư duy trong đọc hiểu văn học. Muốn tìm câu trả lời phải vận dụng các loại tư liệu, từ điển, tài liệu tham khảo; phải học cách phân tích văn bản, học cách so sánh đối chiếu, liên tưởng, tưởng tượng, vận dụng kinh nghiệm thực tế…Như vậy vấn đề kích hoạt khu vực có vấn đề của học sinh là một khâu then chốt trong việc kích thích quá trình tự học của các em.

    Chủ động học tập gắn liền với hoạt động hợp tác học tập, tức là hình thức học tập hợp tác giữa các bạn cùng bàn, cùng nhóm, cùng lớp, cùng giáo viên đứng lớp. Tuỳ sự chỉ đạo của giáo viên mà học sinh  hợp tác làm bài tập, chữa bài làm, lập đề cương nêu câu hỏi hoặc cùng đi điều tra thực tế, đi phỏng vấn danh nhân, sưu tầm văn học địa phương… cùng với các bạn. Phương thức học này giáo dục tinh thần hợp tác, tương trợ nhau, học hỏi lẫn nhau.

     Chủ động học tập còn gắn với hình thức hoạt động nghiên cứu, tìm tòi. Các bài tập nâng cao, hoạt động nghiên cứu cần được tiến hành trong hình thức hợp tác, làm cho tinh thần chủ động được phát huy trong tập thể, được đánh giá tập thể.

     Bồi dưỡng năng lực chủ động học tập là một vấn đề có tính chiến lược trong giáo dục của thế kỉ XXI, một cuộc cách mạng trong học tập. Người ta thường nói học như thế nào quan trọng hơn học cái gì, bởi vì một khi đã biết cách học như thế nào thì người ta có khả năng học nhiều thứ và biết chọn học cái gì có hiệu quả nhất để học. Chúng ta xem nhẹ tinh thần chủ động học tập và phương pháp học tập đã lâu quá rồi. Đã đến lúc cần xem lại thực trạng, ra sức bồi dưỡng tinh thần chủ động cho học sinh, có như thế mới có khả năng phối hợp tốt với đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học sẽ khó phát huy tác dụng nếu như tinh thần chủ động học tập của học sinh không được cải thiện.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HỊCH TƯỚNG SĨ

(TRẦN QUỐC TUẤN)

Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một trong những áng văn hùng hồn, thống thiết hiếm có trong di sản Hán văn của dân tộc ta, được liệt vào hàng “thiên cổ hùng văn”, nghĩa là áng văn hùng tráng của muôn đời.

Bài hịch này nguyên bằng chữ Hán, được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư do Lê Văn Hưu khởi đầu, Ngô Sĩ Liên và nhiều sử gia khác kế tục hoàn thành, vốn không có đầu đề. Đến đầu thế kỷ XX, các học giả đem dịch giới thiệu rộng rãi cho quốc dân mới đặt nhan đề là Hịch tướng sĩ văn . Gần đây các tác giả bộ Thơ văn Lý – Trần mới đặt tên là Dụ chư tỳ tướng hịch văn, song đông đảo người đọc vẫn quen với tên Hịch tướng sĩ.

Hịch là thể văn nghị luận cổ xưa dùng để tập hợp lực lượng, lên án kẻ thù, kêu gọi hành động, răn dạy, vỗ về quân sĩ, dân chúng. Người ta cũng gọi hịchlộ bố, nghĩa là ban bố công khai cho mọi người ai nấy đều hay. Hịch không phải là thể văn của thời bình, càng không phải thể văn của sinh hoạt đời thường. Đó là thể văn được viết ra vào những thời khắc khủng hoảng, khi Tổ quốc lâm nguy, gian đảng tiếm quyền hay tai họa khủng khiếp đe dọa tính mạng dân chúng, đòi hỏi mọi người đồng sức, đồng lòng đứng lên khắc phục. Để tập hợp mọi người, hịch phải có lập trường chính trực, quan điểm rõ ràng, chứng cớ xác thực, lời lẽ đanh thép. Để kêu gọi hành động, hịch phải biết kích động tình cảm, lời lẽ thống thiết, gây niềm công phẫn, đau đớn, khiến người có lương tâm không thể ngồi yên. Xét các yêu cầu đó, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn quả là một kiệt tác vô song. Đã hơn 700 năm trôi qua mà mỗi lần đọc lại bài văn vẫn làm người đọc bồi hồi xúc động.

Bài hịch này được viết vào lúc nào, hiện chưa có ý kiến nhất trí. Theo sách Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (1987) thì nó được công bố vào tháng 9 năm 1284 tại cuộc duyệt binh ở bến Đông Thăng Long.

Tháng 10 năm 1283, khi quân Nguyên một mặt cho quân bộ đổ xuống phía Bắc, yêu sách vua Trần cung cấp lương thảo và binh lính đi đánh Chiêm Thành, mặt khác chúng cho quân thủy đánh chiếm cảng Chiêm Thành (Quy Nhơn), đe dọa đem 50 vạn binh đánh nước ta, vua Trần trao cho Trần Hưng Đạo chức Tiết chế thống lĩnh chư quân (Tổng chỉ huy quân đội). Gần một năm trời Trần Quốc Tuấn nghiên cứu binh pháp, bố trí lực lượng, chuẩn bị đánh giặc. Bài hịch vừa là lời răn dạy, vừa là lời bộc bạch tâm huyết, vừa là bản mệnh lệnh quân sự, lại vừa là lời thề, đã làm nức lòng quân đội. Nhiều người tự nguyện thích lên cánh tay hai chữ “Sát Thát” biểu thị quyết tâm không đội trời chung với giặc. Hiệu quả ấy hẳn có liên quan tới nội dung và nghệ thuật của áng văn.

Bài hịch gồm ba phần lớn. Phần đầu nêu gương trung thần, nghĩa sĩ dám xả thân lập công, ghi tên sử sách. Phần hai nêu rõ nguy cơ mất nước, lên án thái độ vô trách nhiệm, chỉ biết vui chơi, hưởng lạc, vạch ra tai họa sắp đến, bộc lộ tình cảm yêu nước, căm thù giặc. Đoạn cuối kêu gọi cảnh giác, học tập binh pháp, rèn luyện võ nghệ, chuẩn bị đánh giặc. Cũng có thể chia đoạn giữa thành hai phần.

Mở đầu bài hịch, Trần Quốc Tuấn dùng một giọng chuyện trò để đối thoại với các tỳ tướng : nêu sự việc và nêu câu hỏi để họ tự trả lời. Tác giả nêu ra một lúc, theo lối liệt kê, sáu tấm gương đạo đức trung thần, nghĩa sĩ liều thân cứu chủ, sống chết theo chủ trong sử sách Trung Quốc, như một lẽ phải ở đời :

–  Kỷ Tín chết thay cho Hán Cao Đế.

–  Do Vu che giáo cho Chiêu Vương.

–  Dự Nhượng nuốt than báo thù cho chủ.

–  Thân Khoái chết theo Trang Công.

–  Kính Đức cứu thoát Đường Thái Tông.

–  Cảo Khanh mắng giặc, không theo kế giặc mà làm phản chủ.

Đó là những tấm gương có tác dụng kích thích chí lập công danh, lưu tên sử sách cho các tỳ tướng. Để tăng hiệu quả kích động, tác giả còn hỏi thêm : các người muốn theo thói nữ nhi thường tình, chết già ở xó cửa hay bỏ mình vì nước, lưu danh muôn thuở ?

Chừng như thấy các tỳ tướng còn ngờ vực về các sự tích cổ xưa, Trần Quốc Tuấn còn kể thêm bốn tấm gương gần hơn trong cuộc chiến tranh Tống, Nguyên mới đây : Vương Công Kiên và Nguyễn Văn Lập người đời Tống, chống Nguyên ; Cốt Đãi Ngột Lang và Xích Tu Tư thuộc quân Nguyên, tiến đánh Nam Chiếu. Chủ tướng và tỳ tướng đều hợp sức lập công, lưu truyền tiếng tốt.

Tất cả mười tấm gương ấy đều khẳng định một nguyên lý đạo đức truyền thống có tính phổ biến : là tướng sĩ, mọi người đều phải hết lòng trung nghĩa, phụng sự triều đình, vương chủ và đất nước, dù chết cũng cam lòng.

Sau khi nêu gương, chủ tướng mới nói về hiện tình nguy cơ của đất nước và nỗi lòng lo lắng, căm phẫn của mình.

Tiếp tục mạch chuyện trò, tác giả lại nhắc đến hoàn cảnh chung của “ta” và “các ngươi” : “Huống chi ta cùng các ngươi, sinh phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan”. Hai chữ “sinh” và “lớn” nói tới kinh nghiệm chung của Trần Quốc Tuấn và các tỳ tướng. Từ lần xâm lược thứ nhất của quân Nguyên, năm 1258, đến năm 1284, thời gian trên 25 năm, đủ cho một thế hệ tướng sĩ sinh ra và trưởng thành. Trong thời gian ấy, ai mà không thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, thấy đủ mọi hành động dối trá, tham lam, ngang ngược, làm nhục quốc thể. Tác giả nhắc lại các biểu hiện đó với một lòng căm thù sôi sục, đau đớn, nhức nhối, bằng những từ ngữ mạt sát, hạ nhục quân giặc : “Uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”.

Đây đúng là lúc mà sứ bộ nhà Nguyên nay đòi vua Trần sang chầu, mai đòi cống nạp vật quý, yêu sách đủ đường, vì chúng rắp tâm xâm lược nước ta. Trần Quốc Tuấn nhìn rõ dã tâm đó trong hình ảnh “hổ đói” và nguy cơ “tai vạ về sau”.

Trong văn mạch chuyện trò, vị chủ tướng có dịp bộc bạch lòng căm thù và ý chí tiêu diệt quân giặc với lời văn thống thiết, mạnh mẽ theo phong cách cổ điển. Đọc lời văn, ta như cảm được nỗi đau của ông : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”.

Vị chủ tướng đã quên ăn, quên ngủ (“vỗ gối” là vỗ gối kê đầu, biểu thị uất ức, trằn trọc), ngày đêm tìm kế diệt giặc, đau đớn rơi lệ, sẵn sàng hy sinh để trả thù giặc. Mức độ căm thù đã lên tới tuyệt đỉnh : “… xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù” là ước lệ văn chương, biểu thị lòng khao khát trả thù cháy bỏng. Mức độ quyết tâm cũng lên tới tột cùng : “trăm thân”, “nghìn xác” là hình ảnh biểu thị dù có phải chết đến trăm lần, nghìn lần cũng xin làm.

Để kêu gọi, ràng buộc các tỳ tướng đồng sức, đồng lòng với mình, Trần Quốc Tuấn trước hết nhắc lại mối ân tình đồng gian khổ, chia hoạn nạn với họ. Bao nhiêu năm chủ tướng quan tâm tỳ tướng trong mọi mặt đời sống, sống chết trong chiến đấu, vui thú trong hòa bình. Phép liệt kê, trùng điệp đã tô đậm mối ân tình. Lời lẽ đầy vẻ ban ơn, nhưng đó là đặc điểm quan hệ chủ tướng và tỳ tướng ngày xưa dưới thời phong kiến.

Từ tầm cao trách nhiệm với đất nước, từ nguyên tắc đạo đức trung nghĩa và ân tình, Trần Quốc Tuấn đã quở trách hàng loạt biểu hiện vô trách nhiệm, lơ là cảnh giác một cách thẳng thắn, gay gắt, gần như là “xỉ mắng” : “Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm ; hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển…”.

Phải nói đó là những lời quở trách hết sức nặng nề : “không biết lo”, “không biết thẹn”, “không biết tức”, “không biết căm”… thì còn đâu là con người có lương tâm nữa ! Nếu quả tỳ tướng của Trần Quốc Tuấn mà tinh thần đến như vậy thì còn đâu sức chiến đấu ! Đọc Đại Việt sử ký toàn thư thấy gia thần của ông như Dã Tượng, Yết Kiêu, các môn khách như Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực… đều là những người trung nghĩa. Trung nghĩa là một nét nổi bật của tinh thần Đông  A (tức nhà Trần). Cho nên, số người cầu an, hưởng lạc tuy vẫn có, nhưng có phần chắc là Trần Quốc Tuấn dùng phép khích tướng, kích họ bằng cách sỉ nhục, đẩy họ vào thế phải chứng tỏ tấm lòng biết lo, biết thẹn, biết tức, biết căm mà đồng lòng hiệp sức cùng chủ tướng đánh dẹp quân thù.

Thái độ của chủ tướng là cực lực công kích thói cầu an, ham vui chơi, hưởng lạc mà lơ là cảnh giác, không thấy mối nguy diệt vong. Ông mỉa mai khinh miệt các thói ham chơi tầm thường : “Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang thì cựa gà trống không sao đâm thủng áo giáp giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh. Tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc, chó săn tuy khỏe không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không làm giặc say chết…”. Tất cả mọi suy luận ở đây dù rất nhiều vẻ, đều tập trung vào một mục đích duy nhất là tiêu diệt quân xâm lược, đối phó với âm mưu xâm lược, và so với mục đích ấy thì tất cả đều trở nên vô nghĩa ! Phải nói ngay rằng cách liên hệ “rượu ngon” với việc “làm giặc say chết”, “tiếng hát hay” với việc “làm cho giặc điếc tai…” là không tương xứng về mặt lôgíc, bởi vì không ai tính chuyện đem rượu ngon mà làm giặc say chết cả  ! Nhưng chính vì sự không tương xứng đó mà tính chất phi lý của việc ăn chơi, hưởng lạc lúc ấy lại càng bộc lộ rõ rệt, gay gắt hơn bao giờ hết. Đó là nghệ thuật biện luận tài tình của Trần Quốc Tuấn, làm cho những kẻ ăn chơi phải hổ thẹn.

Nhưng vị chủ tướng không dừng lại ở chỗ đó. Ông tiếp tục suy luận, và đẩy suy luận đi đến tận cùng. Nếu không giết được giặc thì tất bị giặc bắt. Không thể có lối thoát nào khác. Vị chủ tướng liền chỉ ra một chuỗi hậu quả của nguy cơ đó, cái này tiếp theo cái kia còn nặng nề hơn, nhưng không thể tránh được : “Lúc bấy giờ, ta và các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng bị bắt đi  ; chẳng những xã tắc, tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ của cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên…”.

Các hậu quả càng ngày càng nặng nề, càng dài lâu, sâu thẳm, và cuối cùng, cái thú vui chơi, hưởng lạc thiển cận kia cũng không thực hiện được : “Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi, phỏng có được không ?”. Có thể nói Trần Quốc Tuấn đã truy kích tư tưởng ham chơi, hưởng lạc không hợp thời đến tận cùng, làm cho ai cũng thấy nó là vô lý và nguy hiểm. Trần Quốc Tuấn không bài bác việc vui chơi, hưởng lạc, nhưng các việc đó không được phương hại cho việc bảo vệ Tổ quốc. Chuỗi hậu quả tai hại được sắp xếp tài tình, vạch rõ được việc vui chơi, hưởng lạc thiển cận, chỉ rõ được tai họa diệt vong tất yếu sẽ đến. Đó là nghệ thuật suy luận tài tình, vừa cho thấy hậu quả tai hại, vừa cho thấy lợi ích triều đình, chủ tướng và lợi ích của các tỳ tướng gắn bó chặt chẽ như môi với răng, môi hở, răng lạnh.

Phần ba chuyển sang lời răn dạy và mệnh lệnh. Khi các tỳ tướng đã bị thuyết phục bởi mối nguy xâm lược và họa diệt vong, Trần Quốc Tuấn bèn dạy bảo bài học cảnh giác : “Nay ta bảo thật các ngươi, nên nhớ câu : “Đặt mồi lửa dưới đống củi” là nguy cơ, nên lấy điều “Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ”. Ở đây Trần Quốc Tuấn sử dụng hai thành ngữ cổ của Trung Quốc. Sách Hán thư Trung Quốc có câu : “Đem lửa đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên mà ngủ, lửa chưa kịp cháy bèn bảo là an toàn”, chỉ một tình huống tự lừa dối mình một cách ngớ ngẩn. Trần Quốc Tuấn chỉ ra bài học : “Nên xem việc để mồi lửa dưới đống củi là mối nguy”. Câu dịch trong bài ở đây chưa thật thoát ý. Thiên Cửu Chương của Khuất Nguyên có câu : “Người bị bỏng canh mà thổi dưa ôi, Sao chẳng đổi chỗ ấy đi” (Đào Duy Anh dịch). Người Trung Quốc hiểu đó là một cách rút kinh nghiệm quá đáng. Sợ canh nóng mà đến nỗi rau nguội cũng thổi cho nguội nữa thì buồn cười. Ở đây Trần Quốc Tuấn nói : “Nên lấy việc kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm bài học răn mình” (tức bài học cảnh giác). Câu dịch trong bài chưa thoát ý(1). Cả hai câu tác giả đều nhấn mạnh bài học cảnh giác, chớ để nước đến chân mới nhảy thì không kịp.

Ông đề ra nhiệm vụ với mục tiêu cụ thể : huấn luyện quân sĩ, tập luyện cung tên tới mức tài nghệ để có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt nơi cửa khuyết (cửa lớn ở kinh thành), làm rữa thịt Vân Nam Vương, tức Thoát Hoan, con thứ chín của Hốt Tất Liệt, cũng tức là bêu xác y. Có như thế mới bảo vệ được các quyền lợi chính đáng của mình. Ông lập lại một thứ tự các phúc lợi được hưởng, có cái này thì sẽ được cái kia, và trở về với việc vui chơi : “Lúc bấy giờ dẫu các ngươi không muốn vui chơi phỏng có được không ?”. Câu hỏi này hô ứng với câu hỏi trên, được nêu ra như một niềm tự tin, và ta như nhìn thấy nụ cười của vị chủ tướng.

Sau phần răn dạy là phần ra lệnh dứt khoát, bắt buộc : “Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì trọn đời là tôi chủ, nhược bằng khinh bỏ sách này, trái với lời ta dạy thì trọn đời là nghịch thù !”. Bởi vì ta với kẻ thù không đội trời chung, nếu không rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, tức là bó tay mà chịu thua giặc, như thế không phải nghịch thù thì là gì nữa ?

Nhưng Trần Quốc Tuấn không hề bi quan trước tinh thần tướng sĩ. Sau khi làm phép khích tướng, lên án thói cầu an, lơ là cảnh giác, ham vui chơi, hưởng lạc, ông hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi, và dự báo trước cái nhục cho những ai cố tình vui chơi, hưởng lạc lúc này : “Nếu vậy, rồi đây sau khi dẹp yên quân giặc, muôn đời để thẹn, các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa ?”.

Vậy là các tỳ tướng, nếu không lo rửa nhục cho chủ, không huấn luyện quân sĩ, nếu không chết về tay giặc thì cũng không còn chỗ dung thân ở dưới gầm trời. Họ chỉ có một con đường duy nhất là chuyên lo võ nghệ để rửa nhục cho nước và cho chính mình.

Bài hịch này rõ ràng là hịch kêu gọi học tập binh pháp, chuẩn bị giết giặc, nhưng đồng thời cũng là hịch kêu gọi giết giặc. Mục đích giết giặc, rửa nhục cho chủ quán xuyến từ đầu đến cuối. Nêu ra mười tấm gương trung thần, nghĩa sĩ, kể ra tình trạng nguy cơ, bộc bạch nỗi lòng khát khao giết giặc, rửa thù, lên án thói hưởng lạc, lơ là cảnh giác, khích tướng, vẽ ra các viễn cảnh tai họa, nêu ra lời răn, lời ra lệnh, tất cả đều hướng vào cái đích giết giặc. Không một lúc nào Trần Quốc Tuấn đi chệch mục đích của mình. Văn như vậy là bắn tên trúng đích.

Nghệ thuật bài văn rất đa dạng : khi thì nêu gương, khi thì trữ tình, khi thì sỉ nhục để kích tướng, khi thì suy luận lôgíc để vẽ ra viễn cảnh tai họa, đầy giọng châm biếm, mỉa mai, khi lại suy luận để vẽ ra viễn cảnh thắng lợi. Lời văn khi thân mật,  khi thống thiết, khi mỉa mai, khi ra lệnh dứt khoát như dao chém gỗ. Nhiều hơn cả là cách dùng câu hỏi tu từ để các tỳ tướng tự suy nghĩ mà tự trả lời, để cho tư tưởng của chủ tướng thấm dần vào tình cảm của tỳ tướng. Tình cảm tha thiết hòa quyện với lý trí sắc bén. Cách dùng hình ảnh cũng rất đặc sắc, tài tình. Bài văn thuộc thể loại văn thư quân sự nhưng lời lẽ không chỉ đanh thép, mà còn mềm mại, thắt buộc, khêu gợi, kích động, quả đúng là một “áng danh văn của nước nhà”. Đằng sau lý lẽ đanh thép, mệnh lệnh dứt khoát, ẩn chứa một tấm lòng ưu ái và một niềm tin tưởng.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BA BÀI THƠ CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ

ĐI THI TỰ VỊNH

(NGUYỄN CÔNG TRỨ)

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ tự tin, ngang tàng, phóng túng bậc nhất trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XVIII, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu thối nát, kỷ cương suy đồi. Nhiều nhà nho đã không còn giữ vẻ khúm núm, tự khiêm, nhường nhịn vốn có của nho gia như trước, mà công nhiên khẳng định chí hướng, niềm tin và tài năng của mình, biểu thị mạnh mẽ sự hiện diện của mình bằng các hành động có ý nghĩa. Đi thi tự vịnh là một trong nhiều bài thơ nói về chí nam nhi của tác giả, thể hiện tinh thần tự khẳng định mạnh mẽ cá tính của nhà thơ.

“Vịnh” nguyên nghĩa là hát ca, ngâm nga, sau phát triển thành làm thơ, từ để ngâm ngợi, ngợi ca, sau nữa thì vịnh có thể là mỉa mai, trào lộng. Ở đây, nhan đề Đi thi tự vịnh có thể hiểu là : tự làm thơ ngợi ca việc đi thi của mình. Một đầu đề như vậy không phải là ít ý nghĩa.

Đi thi tự vịnh là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Thể thơ này không phải là tiêu biểu đối với sáng tác của Nguyễn Công Trứ, như thể hát nói, song giọng điệu thì vẫn là một với các bài hát nói : tự tin, phóng túng, ngang tàng.

Bài thơ mở đầu với những câu đầy khí thế, ý tứ mạnh mẽ như đinh đóng cột :

Đi không há lẽ trở về không,

Cái nợ cầm thư phải trả xong.

Khi đi thi thì chỉ là anh bạch diện thư sinh, không có danh phận gì, nhưng trở về thì phải có danh phận. “Nợ cầm thư”, tức là nợ bút nghiên và đàn hát phong lưu phải trả bằng được.

Ta biết gia thế nhà họ Nguyễn Công Trứ không thuộc hàng cao sang, đất đai không có, vốn liếng không có, cuộc sống nghèo nàn. Ông đã từng làm bài phú Chém cha cái nghèo. Muốn giải thoát, thỏa chí tang bồng thì ông chỉ có một con đường là thi đỗ để ra làm quan. Theo cái chí đó, nhà thơ không bao giờ chán nản, chùn bước, mặc dù con đường thi cử của ông cũng khá gian nan. Kỳ thi đầu năm 1807, ông bị trượt, kỳ thi năm 1813, ông mới đỗ tú tài, chưa được làm quan. Chỉ đến năm 1819, ông mới đỗ giải nguyên. Lúc đó ông đã 42 tuổi. Nhưng trong những ngày tháng nghèo nàn, khổ cực, Nguyễn Công Trứ bao giờ cũng tự tin, lạc quan. Hiểu điều này mới hiểu lòng tự tin kia không phải tự kiêu, tự phụ, mà là tinh thần không ngừng khích lệ mình để tự khẳng định mình.

Trong cuộc lựa chọn giữa cuộc sống ruộng vườn cho qua ngày tháng với cuộc sống có công danh, ông đã chọn hẳn chí công danh :

Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt,

Dở đem thân thế hẹn tang bồng.

Ông như mũi tên đã đặt trên cây cung, lăm lăm chỉ có một việc là bắn trúng đích. Câu thơ sau đây có thể xem là tuyên ngôn về chí hướng làm người của ông :

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông.

“Đã mang tiếng” đây là mang tiếng làm người. Làm người thì phải có “danh gì” mới xứng đáng. Hai chữ “danh gì” đầy hàm ý : Đó là danh tiếng, là công danh, đủ để lưu danh hậu thế. Trong một bài khác, Nguyễn Công Trứ đã nói rõ : “Không công danh thì nát với cỏ cây”. Đối với ông, thư sinh mặt trắng là vô danh, tú tài cũng chưa kể là danh. Chữ “danh” của ông tương xứng với anh hùng, là kẻ đứng đầu những người xuất chúng :

Trong cuộc trần ai ai dễ biết,

Rồi ra mới biết mặt anh hùng.

Câu thơ đầy tự hào và tự tin. Trong cuộc sống hàn vi, nghèo khổ hiện tại, ai biết được ai ? Nhưng chắc chắn, “rồi ra” mọi người mới biết danh tiếng anh hùng của ông. Thật hiếm có một  tinh thần lạc quan, tự tin đến như vậy. Có người hiểu một ý thức anh hùng cá nhân như vậy là tiêu cực vì mục đích của nó chỉ là được nổi tiếng. Quả là trong lịch sử có những kẻ muốn nổi tiếng bằng con đường phạm tội, như kẻ đốt đền Erốtxtơrát, người Hy Lạp. Nhưng trường hợp Nguyễn Công Trứ là muốn phát huy cao độ giá trị sẵn có của mình để thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, được xã hội công nhận. Đó chính là tư tưởng khẳng định con người và nhân cách con người, có ý nghĩa tiến bộ. Nguyễn Công Trứ không muốn để con người bị mai một, chìm trong tăm tối, nát với cỏ cây, không để lại dấu vết gì cho xã hội. Vì vậy, ông đã lập công xuất sắc trên nhiều lĩnh vực. Chỉ tiếc là trong khuôn khổ chật hẹp của xã hội phong kiến đương thời, Nguyễn Công Trứ đã nhiều phen lận đận. Dù thế nào, Nguyễn Công Trứ cũng để lại một tấm gương vĩ đại sáng ngời cho những ai muốn phát huy tận độ các giá trị của mình.

CHÍ ANH HÙNG

(NGUYỄN CÔNG TRỨ)

Bài Chí anh hùng của Nguyễn Công Trứ là một bài thơ hát nói bày tỏ chí khí của mình, thuộc vào loại thơ ngôn chí cổ điển. Thơ ngôn chí là thơ bày tỏ, khẳng định, biểu dương lý tưởng sống của người làm thơ. Bài thơ này bày tỏ đầy đủ khát vọng lý tưởng của tác giả, một người thanh niên trong xã hội phong kiến.

Bốn dòng đầu nhà thơ tỏ ý muốn thi thố sức trai và miêu tả một không gian trời đất bao la làm bối cảnh cho bản thân mình vẫy vùng, hoạt động :

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,

Nợ tang bồng vay trả, trả vay.

Chí làm trai nam bắc đông tây,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Tác giả đã hình dung trời đất “dọc ngang, ngang dọc”, “nam bắc đông tây”, “bốn bể” như là một không gian nhiều chiều thênh thang, rộng mở, thông suốt, không có gì cản trở, hứa hẹn một trường hoạt động tự do cho con người bước vào đời thi thố tài năng. Trong xã hội phong kiến, ngày nay ai cũng biết là chật hẹp, định kiến, một cách cảm nhận không gian như thế tuy thể hiện cái chí khí lớn lao của nhà thơ, song không khỏi mang ý vị ảo tưởng.

Tác giả cũng bày tỏ một quan niệm về sứ mệnh ở đời. Người con trai sinh ra ở đời là mang theo một món nợ về công danh, sự nghiệp : hoặc lập chiến công trên chiến trường, hoặc đoạt bằng cấp cao trong khoa cử, được nhà vua dùng vào việc lớn cho dân cho nước. Xưa Phạm Ngũ Lão cũng bày tỏ lý tưởng này trong mấy câu thơ :

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

(Nghĩa là : Người con trai mà chưa trả được nợ công danh của mình thì thẹn thùng mỗi khi nghe người đời nói chuyện Vũ hầu Gia Cát Lượng).

Nguyễn Công Trứ xem trả nợ công danh – nợ tang bồng là việc tất nhiên phải làm, không có gì phải băn khoăn, suy tính. Câu “Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” vừa thể hiện tình cảm hăm hở, vừa biểu thị lòng tự tin vào sức mình và sự thành công của mình.

Bốn dòng tiếp theo của bài có thể coi là bốn câu “luận”, thuyết minh cho cái chí trong bài :

Nhân sinh thế thượng thùy vô nghệ,

Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh.

Đây là hai câu thơ chữ Hán mà người làm thường đưa vào như là dẫn sách, nói chữ, tỏ cho thấy tư tưởng của mình có căn cứ từ xưa. Nguyên hai câu này vốn là câu thơ của Văn Thiên Tường đời Tống trong bài Quá Linh Đinh Dương làm khi bị quân Nguyên bắt đi qua Linh Đinh Dương. Tướng quân Nguyên bức ông đầu hàng và bán rẻ quân Tống, ông làm bài thơ tỏ chí quyết tử :

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Nghĩa là “Đời người từ xưa ai mà không chết, Cốt lưu giữ được lòng son soi sáng sử xanh”. Nguyễn Công Trứ đã sử dụng câu thơ này theo lối tập cổ và đổi thay một số chữ thành ra là :

Đời người ở trên đời ai mà không có nghề,

(Cốt) để cho được lòng son chiếu sáng sử xanh.

Câu thơ của Văn Thiên Tường biểu thị ý chí quyết tử để giữ gìn khí tiết, không đầu hàng, tràn đầy chính khí và bi tráng. Nguyễn Công Trứ tuy chí cũng mong được ghi tên sử sách, nhưng không có lý do gì để quyết tử, nên đã thay đổi câu thơ đi, thành “ai mà không có nghề”, và mong được nổi tiếng trong sự nghiệp của mình. Quả nhiên sau này ta thấy Nguyễn Công Trứ đã làm các việc khác nhau, mà nhiều việc trở thành sự nghiệp xuất chúng.

Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh,

Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.

Mấy chữ “thời vị ngộ” nghĩa là lúc chưa gặp được dịp thi thố, cho biết Nguyễn Công Trứ lúc này chưa có công danh gì, nhưng ông hoàn toàn tự tin, không gì làm nhụt được ý chí của ông.

Bốn dòng kế tiếp phác họa ra những sự nghiệp anh hùng mà tác giả sẽ làm khi có dịp. Đáng chú ý là cái tư thế làm chủ trời đất, vũ trụ :

Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,

Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong.

Chí những  toan xẻ núi lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.

Hai câu trên nghe như ý vị của câu thơ đầy khí phách của Lý Bạch trong bài Hành lộ nan (Bài 1) :

Trường phong phá lãng hội hữu thì,

Trực quải vân phàm tế thương hải.

Nghĩa là “Nhất định sẽ có lúc ta cưỡi gió mạnh, rẽ sóng lớn, giong thẳng buồm mây vượt biển xanh !”. Nguyễn Công Trứ tin sẽ có lúc “mây tuôn sóng vỗ”, tức là lúc thế sự nghiêng ngửa đảo điên, ông sẽ quyết ra tay buồm lái cuồng phong đưa nó vào trật tự. Đó là chí “cứu khổn phò nguy” của nhà thơ.

“Chí những toan xẻ núi lấp sông” là chí làm việc lớn, việc của anh hùng, để sáng danh khắp nơi.

Ba dòng cuối cùng miêu tả cảnh thành đạt, vinh thân, phong lưu, sung sướng :

Đường mây rộng thênh thang cử bộ

“Cử bộ” là cất bước. Đường mây là đường công danh, quan cao lộc trọng, dường như đang mở ra thênh thênh rộng rãi. Đó là lúc trả xong nợ tang bồng, tức hoàn thành sự nghiệp anh hùng, tác giả lúc ấy đã có thể ung dung thanh nhàn uống rượu, làm thơ :

Thảnh thơi thơ túi rượu bầu

Bài thơ kết lại ở lý tưởng sống nhàn hạ, vui thú, thanh nhã.

Cả bài thơ tràn đầy niềm tin tưởng vào tiền đồ, vào con đường công danh rộng mở : chỗ nào cũng thênh thênh, mở ra bốn phía. Cả bài thơ tràn đầy khát vọng anh hùng. Cả bài ba lần nói tới anh hùng, nhưng dòng nào cũng toát ra chí khí anh hùng đầy tự tin : coi thường khó khăn, muốn thử sức, muốn lập công.

Bài thơ thể hiện trọn vẹn lý tưởng nhân cách của tác giả. Bài này tuy không có hình ảnh, từ ngữ gì mới lạ, nhưng lời thơ phóng khoáng, hào hùng, giọng điệu tự nhiên, chí khí mạnh mẽ, trẻ trung cho ta hiểu một tâm hồn, một cá tính luôn luôn muốn tự khẳng định cái “tôi” của mình, dù là trong công danh hay là trong các thú vui hưởng lạc nhàn hạ.

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

(NGUYỄN CÔNG TRỨ)

Bài ca ngất ngưởng là một bài hát nói nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ. Hát nói là một thể thơ dân tộc thuần túy bên cạnh các thể thơ dân tộc khác như lục bát, song thất lục bát. Với tư cách là một thể thơ (phân biệt với điệu hát), hát nói có những đặc điểm khác hẳn với các thể thơ luật Đường. Đó là thể thơ thuộc loại du hý, làm để hát tại các cuộc vui, nơi ca quán, nói chung thích hợp với những tâm hồn tài tử tự do phóng khoáng, thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, cốt nắm lấy phút vui hiện tại.

Bài hát nói Bài ca ngất ngưởng này làm sau năm 1848, là năm Nguyễn Công Trứ về hưu dưới thời Tự Đức, đã phụng sự suốt ba mươi năm trời dưới ba triều vua : Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức ; đã từng làm đủ các chức, giữ các vị trí quan trọng như Dinh điền sứ, Tổng đốc Đông, Trấn Tây tham tán, Quảng Ngãi án sát, Thừa Thiên phủ doãn. Khi về hưu, Nguyễn Công Trứ đã 71 tuổi. Theo Lê Thước miêu tả, khi về hưu Nguyễn Công Trứ thật có cái thái độ phiêu nhiên, vật ngoại, nào là mùi hoạn huống, nếp phong lưu đều gác sạch. Hằng ngày, ông mặc áo lụa xanh, vận quần vải đỏ, đi đâu chẳng ngựa chẳng xe, chỉ đủng đỉnh trên lưng con bò vàng, mà đeo đạc ngựa, một bậc đại thần danh tướng mà tự nhiên biến thành ông lão thôn quê(1).

Bài thơ này đã thể hiện tinh thần, cốt cách của Nguyễn Công Trứ trong những ngày sống ngoài vòng cương tỏa.

Mở đầu bài thơ là một câu chữ Hán có tính chất tuyên ngôn :

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Có nghĩa là trong vũ trụ không có việc gì không phải là phận sự của ta. Đó là tư tưởng nhà nho coi làm điều nhân là trách nhiệm của mọi kẻ sĩ. Nhà nho thời ấy đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng thực học của thời Minh Thanh : Kẻ sĩ phải cầu thực học, tìm học cả thiên văn, địa lý, việc binh, việc nông, việc thủy, việc hỏa, điển chương các thời. Họ tự coi quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Với câu tuyên ngôn ấy, Nguyễn Công Trứ đã làm nên một sự nghiệp lẫy lừng ít ai sánh kịp. Ông đã kể thuật lại các danh hiệu, chức vụ trong bốn dòng thơ liền :

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

Nhưng đáng chú ý là mấy câu, chữ sau :

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng

Hy Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. Tài bộ là tài ba, tài trí, từ này thấy có trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của. Cả câu nghĩa là : Ông Hy Văn tài ba đã vào lồng. Lồng đây là vũ trụ của phận sự mà ông đã tuyên bố ở trên, mà cũng là cái vòng chật hẹp của cương tỏa danh lợi mà sau này ông sẽ thoát khỏi. Cho nên câu thơ thứ hai có một ý vị vừa tự hào vừa chua chát. Chữ “vũ trụ” ở trên nghe hào sảng bao nhiêu thì chữ “lồng” ở dưới nghe chua chát bấy nhiêu !

(1) Xem : Lê Thước. Sự nghiệp và thơ văn của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Nhà in Lê Văn Tân, 1928.

Đã biết ở đời theo phương châm xưa ai cũng vào lồng, song kẻ “tài bộ” vào lồng đâu có như kẻ khác.

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Ngất ngưởng là một thái độ tư thế rất đặc biệt. Từ điển học sinh (1971) giải thích từ “ngất ngưởng” như sau :

1. Cao mà không vững, dễ đổ, dễ rơi.

2. Đi thẳng người nhưng không vững, vừa đi vừa nghiêng ngả, chân bước  không đều, không thẳng như muốn ngã (tr. 366).

Từ điển Tiếng Việt (2000) giải thích :

1. Ở tư thế không vững, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã.

2. Như ngất nghểu : cao và gây cảm giác không vững, dễ đổ (tr. 674).

Cứ xét theo mấy ý nghĩa này thì cuộc đời của ông Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng thật. Ông đã có tài, được trọng vọng, có chức quan cao, nhưng đều không vững vàng và dễ đổ, dễ ngã. Cụ đã làm đến Binh bộ thượng thư, Tổng đốc Hải An, chỉ vì một tên tù vượt ngục mà cụ bị giáng xuống bốn cấp (năm Minh Mệnh thứ 17), được thăng lên ba cấp chưa lâu cụ lại bị giáng xuống Binh bộ hữu tham tri. Sang đời Thiệu Trị cụ làm Tham Tán đại thần bị giáng xuống chức Binh bộ lang trung. Sau cụ vừa được thăng chức Binh bộ tham tri, thì vì có kẻ vu cáo, cụ bị cách hết chức, sung làm lính ở Quảng Ngãi ! Cuối cùng cụ được cất nhắc làm Án sát Quảng Ngãi rồi Phủ doãn Thừa Thiên. Điểm qua như thế để thấy cái đời ngất ngưởng của cụ : cao mà dễ đổ, không vững.

Song trong bài thơ này hai chữ “ngất ngưởng” còn có một ý nghĩa khác không có trong từ điển. Đó là chỉ cái tính cách không chịu khép mình vào bất cứ khuôn phép nào. Đặt  vào chỗ nào rồi nó cũng bung ra, một tính cách cao ngạo, thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc. Nhà thơ tự xưng mình là “tay ngất ngưởng”. Mà phải thực sự tài ba thời mới ngất ngưởng được như thế. Vua nhà Nguyễn đã sử dụng ông vào các việc quan trọng như đánh Nam, dẹp Bắc, khai canh, mở rộng đất đai. Nhưng nhà vua thưởng mọn, lại hay đàn hặc, như sợ ông tự phụ, kiêu căng, khinh nhờn, làm cho ông bao phen nhục nhã. Câu nói của Nguyễn Công Trứ trả lời quan tỉnh Quảng Ngãi cũng cho thấy tinh thần “ngất ngưởng” của ông. Khi ấy Nguyễn Công Trứ mặc áo lính, vai đeo dao tu, đội nón gỗ vào ra mắt quan ái ngại thì Nguyễn Công Trứ nói : “Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục : Người ta ở địa vị nào, có nghĩa vụ đối với nghĩa vụ ấy. Làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được ?”.

Nếu sáu dòng đầu nói cái ngất ngưởng của nhà thơ lúc làm quan, thì phần còn lại nói cái ngất ngưởng khi về hưu :

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Một câu Hán kèm câu Nôm đã là ngất ngưởng, bò vàng đeo đạc ngựa lại càng ngất ngưởng. Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi, tuổi già ngoài bảy mươi còn dẫn theo một hai cô đầu trẻ lại càng ngất ngưởng. Hai chữ “ngất ngưởng” đây như đồng nghĩa với chữ “ngông”, làm những sự khác tục. Đó là ngất ngưởng trong sinh hoạt.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Đây lại là hai câu nói ngất ngưởng trong xử thế. Được hay mất vẫn vui như “Tái ông thất mã”. Khen hay chê vẫn để ngoài tai như ngọn gió đông thổi qua. Ngọn gió thổi qua rồi tan, khen chê cũng chẳng có ý nghĩa gì lâu bền đáng phải để ý. Hai câu thơ chứng tỏ nhà thơ coi thường sự được mất, khen chê và hai chữ “dương dương”, “phơi phới” nói lên trạng thái tự bằng lòng với mình, đắc ý với chính mình, không quan tâm gì dư luận, ngoại vật. Toàn bộ cuộc sống như được thu vào nội lực của chính mình, vào thế giới riêng của mình.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không tiên, không vướng tục.

Hai câu thơ tả trạng thái sinh hoạt vui thú với thơ, rượu, hát cô đầu của tác giả. Mấy chữ “khi” lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên, tuy không phải là Phật, không phải tiên, nhưng cũng không vướng tục. Tác giả tự đặt mình vào vị trí chỉ dưới Phật và tiên, nhưng trên tục, thoát tục. Cái sự không Phật không tiên mà không tục cũng là ngất ngưởng !

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,

Trong triều ai ngất ngưởng như ông !

Trái Tuân (? – 33), tướng đời Đông Hán, nổi tiếng chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh, lập nhiều chiến công dẹp loạn, ốm chết trong quân.

Nhạc Phi (1103 – 1142), danh tướng đời Nam Tống kiên quyết chống quân Kim, từng dâng thư can gián vua, bị cách chức, sau bị gian thần hãm hại chết.

Hàn Kỳ (1008 – 1075), đại thần nhà Bắc Tống, từng làm Hữu tư gián, An phủ sứ, từng thu hồi đất đai bị Khiết Đan chiếm. Cùng Phú Bật thuộc phái bảo thủ, dâng sớ chống biến pháp của Vương An Thạch.

Phú Bật (1004 – 1083), đại thần Bắc Tống, từng làm Khu mật phó sứ, từ chối cắt đất cho Khiết Đan, trung thành với vua, dâng sớ chống biến pháp của Vương An Thạch.

Điểm qua lai lịch mấy ông này ta thấy Nguyễn Công Trứ tự đánh giá mình, tuy chưa phải vào hàng danh tướng, nhưng cũng xứng đáng vào bậc đại thần của nhà nước. Đáng chú ý là tác giả gọi mình là “phường Hàn, Phú”, phường đại thần, có vẻ xem thường, cũng là một thái độ ngất ngưởng ! Ông cũng đánh giá mình vẹn đạo trước sau với các vua nhà Nguyễn. Nhưng là một đại thần ngất ngưởng trong triều !

Bài ca ngất ngưởng là một bài thơ tự vịnh, như rất nhiều bài thơ tự vịnh khác của ông. Trong bài, ông gọi mình là “Ông Hy Văn” như một ngôi thứ ba. Giữa bài gọi “ông”, kết bài lại gọi “Trong triều ai ngất ngưởng như ông“. Cách gọi đó cũng ngất ngưởng ! Thủ pháp chủ yếu là liệt kê và đối lập. Bài vịnh nhằm khẳng định, ngợi ca tính cách ngất ngưởng của mình.

Tác giả đã sử dụng những từ khẩu ngữ ngang tàng để gọi mình : Ngoài gọi là “ông”, ông lại gọi là tay ngất ngưởng, phường Hàn, Phú, gọi thế giới công danh của ông là cái lồng, các chữ ấy lại đem đặt bên cạnh các chức danh quan phương, các tiên, Phật… càng tỏ ra một thái độ tự do thoát tục. Cả bài thơ kể cả đầu đề, có bốn từ “ngất ngưởng”, nhưng xét ra cả bài đều ngất ngưởng.

Bài ca ngất ngưởng thật là một bài ca nghênh ngang thoát tục, thể hiện tinh thần tự do nội tại của một nhân cách lớn.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

GIẢI PHÁP CHẤN CHỈNH TỆ NẠN “DẠY VĂN MẪU” TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY

Trần Đình Sử

Đây là bài viết theo đề nghị cua Bộ Trưởng Bô GD và ĐT Nguyễn Kim Sơn

Tình hình “dạy văn  mẫu” hiện nay đang tràn lan, đặc biệt là từ lớp 4 lớp 5 tiểu học cho đến THCS và THPT. Tình hình dịch bệnh, học trực tuyến gặp khó khăn, muốn duy trì việc học, nhiều thầy cô, nhà trường đều muốn học “văn mẫu” cho HS dễ học. Đó chỉ là tâm lí ngắn hạn. Câu chuyện chấn chỉnh muốn nói đây là chuyện vừa cần kíp, vừa lâu dài, nhất định khắc phục cho được việc “dạy văn mẫu” đáng xấu hổ. Câu chuyện này bảo khó cũng rất khó, vì phải rất công phu, nhưng bảo dễ thì cũng hoàn toàn có thể làm được. Bởi vì hiện tượng này chỉ mới xuất hiện trong 30 năm trở lại đây với xu hướng buông lỏng chỉ đạo trong giáo dục và nhiều thứ khác trong cả nước trong bối cảnh giáo dục bị thị trường hóa. Tôi nghĩ, câu chuyện này không chỉ có ở môn ngữ văn mà thôi đâu. Các môn khác cũng có mẫu dưới các hình thức khác. Hễ có luyện là có mẫu. Xin hãy trở lại việc chấn chỉnh môn ngữ văn.

1.Việc đầu tiên là toàn ngành giáo dục, từ bộ trưởng, thứ trưởng phụ trách chuyên môn, vụ tiểu học, vụ TH, Cục khảo thí, các sở từ giám đốc sở, chuyên viên ngữ văn đến các hiệu trưởng, bộ môn ngữ văn các trường, và cả các hội phụ huynh của trường ở các cấp và toàn xã hội đều cần nhận thức được thực trạng dạy văn mẫu trầm trọng thế nào, nguy hiểm thế nào, tác hại thế nào, để quyết tâm thay đổi thực trạng. Chỉ cần một khâu trong các khâu vừa nêu thiếu quyết tâm, xuê xoa, thôi kệ,  thì công việc sẽ không thành hoặc bị biến tướng, rồi đâu sẽ vào đấy như cũ. Có thể và cần phải phát động cả một phong trào thi đua khắc phục tệ dạy văn mẫu trong các nhà trường trong cả nước. Có thể phải chấp nhận bước đầu, điểm học và thi của môn ngữ văn sẽ bị thấp trong một thời gian ngắn.

Một điều cần lưu ý là giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm, cho nên sẽ có nhiều ý kiến này nọ về giáo dục. Có ý kiến đúng, xây dựng, mà cũng có rất nhiều ý kiến của những người không hiểu gì về giáo dục cả. Trong chương trình và cả trong sách giáo khoa có rât nhiều từ ngữ chuyên môn như “yêu cầu cần đạt”, “mục tiêu”, “phương pháp”, “tích hợp”…họ không biết, không hiểu. Bộ phải thường xuyên tổ chức tuyên truyền, tạo diễn đàn đối thoại để cho xã hội thông hiểu và đồng cảm thì công việc này mới thành công được.

2.Cở sở để khắc phục tệ nạn dạy văn mẫu là chương trình giáo dục ngữ văn phổ thông đã công bố năm 2018. Đó là chương trình tuy còn có ít nhiều hạn chế mặt này, mặt khác, song thực sự đó là chương trình giáo dục chống văn mẫu, nâng cao năng lực ngữ văn cho học sinh các cấp. Theo đúng chương trình này thì mọi “sách mẫu” chẳng bao lâu sẽ trở thành rác rưởi hết. Bộ phải lãnh đạo toàn ngành thực hiện chương trình này như một pháp lệnh. Các nhân sự của Bộ, từ bộ trưởng đến các vụ, cục trưởng, chuyên viên đều không có quyền tùy tiện thay đổi chương trình này trong quá trình chỉ đạo, vì đó là vi phạm luật giáo dục. Mặt khác bộ cùng giới chuyên môn có thể bàn bạc thảo luận để khắc phục hạn chế của chương trình.

3. Sách giáo khoa ngữ văn mới đang được viết theo cách cuốn chiếu, đã có sách các lớp 1, 2 và lớp 6, có thể có chỗ này chỗ kia có người chưa ưng ý, song căn bản đó là sách viết theo chương trình chống văn mẫu, nâng cao năng lực ngữ văn cho học sinh. Muốn thực hiện chương trình thì giáo viên phải nghiên cứu kĩ, thực hiện việc dạy học cho tốt. Lúc đầu có thể bở ngỡ ít nhiều, nhưng dần dần quen thì sẽ thấy hợp lí. SGK cũng không bắt buộc GV răm rắp tuân theo, mà họ có quyền điều chỉnh, sáng tạo, chủ động trong cách dạy, tất nhiên phải hiểu đúng tình thần của chương trình, không được làm biến tướng chương trình của nhà nước.

4. Cần thay đổi tận gốc phương pháp dạy học ngữ văn theo hướng dạy học đọc hiểu văn bản (không riêng gì văn bản văn học) và làm văn sáng tạo. Sức ỳ của lối dạy giảng văn, “nhá chữ” xưa cũ rất nặng nề. Nhiều thầy cô thích khoe tài giảng hay, nói khéo, nói ngọt trên lớp, mà không thấy rằng tài năng đích thực của thầy cô thể hiện ở chỗ dạy cho học trò có năng lực đọc hiểu được văn, viết được bài làm văn có ý riêng sáng tạo. Thầy cô nói hay cũng có tác dụng rất lớn để truyền cảm hứng cho các em, nhưng nói càng nhiều thì càng ức chế sức suy nghĩ tượng tượng của các em. Các em thấy không có gì để nói thêm nữa, thế là chỉ có cách học mẫu của thầy mà thôi. Thầy cô nên nói ít mà gợi mở nhiều cho HS tư duy, bớt khoe tài mà khích lệ những mầm mống biết suy nghĩ của học trò. Biết thực hiện nhiều bài tập phát huy sức sáng tạo cho người học. Đọc hiểu văn bản chẳng có gì cao siêu, mà là yêu cầu HS đọc hiểu câu chữ trong bài, mối liên kết các câu, đoạn, câu chuyện, nhân vật, hình ảnh… để từ đó ngộ ra cái chủ đề, tình cảm, thông điệp của người viết. Cũng không yêu cầu mọi HS đều phải hiểu và phát biểu răm rắp như nhau, miễn là cái ý mà HS nắm bắt được có căn cứ vào câu chữ, hình tượng trong bài là khuyến khích. Chống cách hiểu mò như thầy bói sờ voi. Muốn được thế HS phải được rèn luyện rất kĩ từ tiểu học, qua THCS cho đến THPT, thì năng lực ngữ văn mới hình thành được. Hiện nay, các hình thức câu hỏi, các kiểu bài tập trắc nghiệm dùng cho môn ngữ văn, theo nhận xét của tôi, thì chưa được đa dạng, nhiều  chỗ chưa đúng và chưa thành thục vì không dựa vào văn bản. Chỗ này cần dịch thuật giới thiệu các tài liệu nước ngoài, biên soạn tài liệu mới và các trường cần học tập, để cho thành thục. Cứ nhìn vào mấy câu trắc nghiệm và câu hỏi đọc hiểu trong các đề thi quốc gia môn ngữ văn thì thấy rõ. Dạy làm văn hiện vẫn là khâu yếu. Chấm bài thật kĩ lại là khâu yếu hơn. Sửa bài phải uốn nắn từng câu, từng cách diễn đạt. Điều cần làm là dạy quan sát, dạy nêu nhận xét, tập diễn đạt, tập viết, làm sao để học sinh thích viết. Nên lưu ý, việc chống dạy học văn mẫu, không có nghĩa là GV không cung cấp mẫu cho HS. Nghề dạy học xưa nay đều yêu cầu thầy cô làm “thị phạm”, tức là làm mẫu. Lớp 1 phải tập tô, tức đồ theo mẫu chữ cái, khi đã quen thì vứt mẫu để viết buông. Làm văn cũng vậy, lúc đầu phải theo mẫu dàn bài, mở bài, thân bài, kết bài. Tập lập dàn ý theo một đề bài nào đấy để biết thể thức một bài văn. Thậm chí phải biết có nhiều cách mở bài, kết bài. Khi đã quen thì tự do tung tẩy. Thị phạm là yêu cầu lúc ban đầu. Nhưng rất quan trọng, không được coi nhẹ. Yêu cầu cần đạt của chương trình là HS tự viết được bài văn thông thường theo một đề bài phổ thông. Nhưng muốn học giỏi văn thì người học phải đọc nhiều văn, năng đọc sách, để cho câu văn, lời thơ nhập được vào hồn mình. Không đọc thì không có gì hết. Chương trình đã có đề ra yêu cầu số lượng đọc, mà tôi sợ chắc là khó thực hiện. Mà đây là chỗ rất yếu của người Việt Nam hiện nay, chỉ số đọc sách có thể nói gần như thấp nhất thế giới, không khéo còn thấp nhất Đông Nam Á nữa. Chừng nào thói quen này chưa thay đổi thì nâng cao chất lượng ngữ văn còn gặp khó không dễ vượt qua.

5.Dứt khoát phải thay đổi cách thi và ra đề thi cuối năm, cuối cấp, các kì thi quốc gia bằng cách bỏ hẳn lối thi đếm ý chấm điểm. Ngữ liệu đề thi không lấy lại các bài đã học trong SGK. Thời tôi học phổ thông các kì thi không lấy văn bản trong SGK. Trước năm 90 các thế hệ thi cử môn văn cũng không có đề lấy ngữ liệu trong SGK. Ở TRung Quốc, các đề thi tuyển sinh đại học (cao khảo) đều không lấy ngữ liệu trong SGK. Hiện tượng này chỉ mới có ở Việt Nam khoảng 30 năm trở lại đây thôi. Vậy bây giờ phải triệt để dứt bỏ. Người ra đề phải tìm các văn bản khác có độ khó tương đương. Ngữ liệu không được quá dài. Bỏ các câu hỏi kiểu nhà văn sinh năm nào, bài văn thuộc phương thức biểu đạt gì, hoặc thể thơ gì quá đơn giản và ít có ý nghĩa. Tuỳ vào nội dung đặc điểm của văn bản mà ra các câu hỏi thích hợp, nhưng trong đó  ít nhất có câu hỏi về nội dung, phân tích hình tượng, phân tích câu chữ. Lí giải một vấn đề (nghi luận) và có phần trắc nghiệm đọc hiểu. Khi HS sinh đã quen với các kiểu bài tập này trong quá trình học tập thường niên rồi, thì các câu hỏi này sẽ chẳng có gì là khó đối với các em cả. Vấn đề là viết thế nào cho hay, cho sâu sắc mà thôi.

6. Bộ trưởng Bộ GD và ĐT mở cuộc chiến chống tệ nạn dạy”văn mẫu”vào thời điểm này là rất đúng lúc. Vì chúng ta đang bước vào thực thi chương trình giáo dục mới. Đây là thời điểm vàng chớ nên bỏ qua. Bốn năm nữa là xong thời hạn viết sách GK mới và dạy theo chương trình mới và  sách GK mới. Bốn năm tới sẽ là bốn năm tập dượt. Hết bốn năm nữa, nếu thực hiện tốt, với tinh thần quyết liệt, không khoan nhượng như đảng ta vốn có, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được tệ nạn này. Và từ bốn năm sau, cách học mới sẽ được củng cố, trình độ HS sẽ dần dần được nâng lên theo chương trình mới.

28/8/2021.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CÂU CHUYỆN VĂN MẪU VÀ SỰ QUẢN LÍ VIỆC DẠY HỌC VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG

Trần Đình Sử

Câu chuyện học “văn mẫu”, tức học thuộc, học tủ, học không sáng tạo, đọc chép trong môn văn các cấp trong nhà trường ta đã từ lâu không chỉ gây bức xúc cho dư luận xã hội, mà còn làm tan nát cõi lòng của chúng tôi, những người tham gia vào biên soạn chương trình và SGK đổi mới giáo dục nhiều năm qua. Gần đây tân Bộ trưởng Bộ GD và ĐT Nguyễn Kim Sơn trong khi tổng kết năm học đã có ý kiến chấm dứt nạn “văn mẫu”, thật là một chủ trương đúng đắn, hợp với lòng người. Nhưng vấn đề là đâu là “văn mẫu”, ai sinh ra, ai là người có trách nhiệm chấm dứt nạn này, vấn đề phải cần được làm sáng tỏ. Vậy nạn “văn mẫu” bắt đầu từ đâu? Thời tôi đi học và đi thi những năm 50 là không có. Tôi theo dõi các năm 60, 70, đầu 80 đều không có. Tôi bảo đảm trong chương trình và trong SGK không hề có cái gọi là “văn mẫu”. Vậy nó nảy sinh như thế nào? Ai đưa nó vào nhà trường? Bây giờ nhớ lại nó bắt đầu nảy sinh từ Bộ đề thi và đáp án môn văn do GS Phan Cự Đệ chủ biên với sự tham gia của các giáo sư đầu ngành hồi ấy do Bộ GD chỉ đạo, vào khoảng năm 1989 – 1990. Sách có hai tập, gồm có khoảng 200 đề văn và những đáp án sơ lược, dưới dạng gạch đầu dòng, chưa thể gọi được là “văn mẫu”. Và cũng không thể coi đó là văn mẫu, nếu xét kĩ, nhiều đáp án còn chưa chuẩn, có những câu trả lời còn nặng chất xã hội học dung tục. Nếu tôi nhớ không lầm thì mục đích bộ đề là để tạo ra một kho đề, để từ đó các thầy cô ở các trường có tuyển sinh, có thể chọn trong ấy, hoặc tổ hợp các đề ấy rồi soạn ra đề mới dùng cho các kì thi tuyển sinh đại học của trường mình. Học sinh nào nếu học được 200 đề ấy thì đã có một trình độ văn kha khá rồi, xứng đáng được vào đại học. Nhưng rồi từ đó nảy sinh trào lưu luyện thi, các thầy cô luyện thi đã cụ thể hóa các nội dung đáp án thành các bài mẫu cho học sinh chép. Các đầu nậu sách còn tổ chức viết các bài văn hoàn chỉnh và đặt tên là “văn mẫu” do một số nhà giáo nổi tiếng đứng tên. Nhưng “văn mẫu” chính thức trở thành nạn sao chép học thuộc là khi ai đó quy định ( chắc chắn là trên Bộ) giới hạn bài thi tốt nghiệp hoặc thi đại học vào các bài văn học ở lớp 11 và 12 THPT, quanh đi quẩn lại chỉ một số bài thơ Tố Hữu, thơ Hồ Chí Minh, Đây thôn Vỹ Dạ, Đây mùa thu tới, Tồng biệt hành, Tây tiến, Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Đất nước, Vợ nhặt, Sóng, …Bởi nếu nhiều bài văn thì khó mà thuộc mẫu được. Vừa kịp khoảng thời gian sau một ít, mạng xã hội tràn lan, và học sinh có thể cóp về các bài văn mẫu có sẵn một cách dễ dàng. Như vậy nhân tố tạo thành “văn mẫu” không không do chương trình, không ai quy định cái gọi là “mẫu”, mà do sự thu hẹp chương trình ôn thi và do các lò luyện thi. Một nguyên nhân nữa là do cách ra đề khuyến khích lối học thuộc, đáp án thường là đếm ý cho điểm, HS nêu được các ý trong đáp án coi như điểm cao. Cho nên khái niệm “văn mẫu”  chẳng có gì khoa học, cao siêu để mà tranh luận, nó chỉ là một quy ước, chỉ bài văn đủ ý theo quan điểm nhà luyện thi, đáp án của người ra đề, có thể dùng để học ôn thi đạt điểm cao, thế thôi.

    Khi được giao trách nhiệm soạn thảo chương trình môn văn THPT năm 2000, tôi đã chống lối dạy đọc chép, đã thấy cái hại của lối ra đề kiểu học thuộc này, và  đề nghị thay đổi cách ra đề thi, nghĩa là không sử dụng ngữ liệu trong bài HS đã học, mà lấy bài văn có độ khó tương đương, để ra đề. Ví dụ, sách học Hai đứa trẻ, thì đề thi có thể lấy bài Dưới bóng hoàng lan cũng của Thạch Lam để ra đề. Sách học Đời thừa của Nam Cao, có thể lấy một truyện ngắn khác của Nam Cao làm đề. Cũng có thể lấy đoạn văn, bài văn trên báo, tạp chí mà độ khó tương đương. Như thế học sinh sẽ không có cở sở để học thuộc bài văn có sẵn. Yêu cầu đọc hiểu lúc ấy đối với xã hội ta còn xa lạ, tôi cũng đã có dịch và giới thiệu một số đề ra của nước ngoài. Nhưng năm đầu tiên thi THPT theo chương mình mới, tôi ngạc nhiên thấy đề ra của Bộ vẫn như cũ, không hề có sự thay đổi nào. Tôi có đề đạt ý kến với ông thứ trương Bộ GD và ĐT lúc ấy, ông vâng vâng, ừ à, rồi đâu lại vào đấy, bởi tôi nghĩ, vì ông sợ nếu đổi thay cách thì HS sẽ bị điểm thấp, ảnh hưởng đến thành tích lãnh đạo của ông. Một điều nữa, đến lúc ấy đề thi tột nghiệp THPT không do các trường ra đề, mà do Cục khảo thí ra đề. Rất có thể bộ chỉ đạo không thay đổi cách ra đề thi. Cũng có thể, các vị ở cục mời các thầy cô không quan tâm gì đến chương trình mới ra đề, coi như đề ra độc lập với  chương trình dạy. Hầu hết các đề nói chung vẫn không thể hiện thế nào là đọc hiểu cả, cho đến nay họ vẫn không có khái niệm này. Chúng ta biết, thi thế nào thì học thế ấy, thi mà như cũ thì mọi sự đổi mới giáo dục đều công cốc, giáo dục lặp lại lối mòn. Và thế là “văn mẫu” có dịp hoành hành trong nhà trường. Tệ nạn “văn mẫu” không chỉ ở THPT, mà ở khắp các cấp học. Bây giờ nếu ai gõ từ khóa văn mẫu, trên mạng sẽ có rất nhiều kết quả văn mẫu cho tất cả các lớp. Ở tiểu học, cô giáo có thể cho học sinh học thuộc ba bốn bài, rồi khi thi cô chọn một trong các bài đó, HS nào thuộc bài là được điểm cao. THCS cũng nhiều nơi học như thế. Cách học này có thể đảm bảo các kì thi, các kì làm bài tập HS đều đạt điểm cao, mà các thầy cô giáo không phải vất vả, không yêu cầu HS sửa bài, học bài. Các dạy “văn mẫu” như thế này có thể nói là cách giản lược nhất công việc dạy văn của các thầy cô, biến nó thành một việc làm máy móc, mà HS  thì không thu nhận được gì về tri thức, kĩ năng, không nâng cao chút trí tuệ nào, chứ đừng nói tới năng lực như chương trình mới 2018 đang yêu cầu. Dạy văn là dạy cho HS đọc hiểu tác phẩm và viết được các bài văn phổ thông, qua đó rèn luyện, phát triển năng lực tư duy. Đọc không chỉ phải hiểu câu, chữ tác giả dùng, mà còn hiểu ngữ điệu, hiểu các mối liên kết ý tứ trong bài thì mới mong hiểu được thông điệp của tác giả. Đó là một công việc rất khó và đòi hỏi tỉ mỉ, kiên trì, liên tục. GV phải theo dõi, uốn nắn từng em mới mong đạt được kết quả. Với cách dạy “văn mẫu” như tôi hình dung việc dạy văn trở thành một hoạt động nhồi nhét máy móc, giản lược, và thực chất là phản giáo dục. Như vậy, theo tôi sở dĩ “văn mẫu” lan tràn trong nhà trường là do lãnh đạo bộ GD và ĐT một thời dài đã không kiên quyết đổi mới cách học và cách thi, không đổi mới cách ra đề,  vẫn áp dụng cách ra đề trong dó yếu cầu phần học thuộc là chủ yếu, khiến cho “văn mẫu” có đất dụng võ suốt ba chục năm qua. Nhưng năm gần đây đề thi quốc gia của Bộ đã có thêm văn bản không thuộc SGK để làm văn nghị luận, song vẫn còn kèm thêm một câu hỏi về bài văn học trong SGK để cho HS chứng tỏ tài học thuộc, rất cũ và phản cảm. Vậy là vẫn còn dung dưỡng thói học đọc chép. Muốn chấm dứt nạn “văn mẫu” thì trước hết Bộ phải kiên quyết thay đổi chỉ đạo cách dạy học văn, thay đổi cách ra đề văn trong bài tập và trong các kì thi. Đặc biệt cục khảo thí phải thay đổi triệt để cách ra đề của mình theo yêu cầu của CT mới. Nếu bộ thay đổi thì các loại sách “văn mẫu” tự nhiên sẽ chết, vì sẽ không ai mua.

Một khi nạn “văn mẫu” đã lan tràn thành dịch trong giới, trong các trường và trong học sinh, phụ huynh học sinh, thì vấn đề không đơn giản chỉ một việc ra lệnh là xử lí xong được. Công việc phải bắt đầu từ lãnh đạo Bộ, cục, xuống các sở, trường rồi phụ huynh học sinh. Làm sao cho mọi người thông suốt thì mới giải quyết dần dần được. Khi văn mẫu đã lan tràn trong mọi cấp, thì HS sinh các cấp không có chữ nào trong bụng cả.  Để đi tới thành công thì Bộ phải kiên quyết, và sự đổi thay đề thi một số năm đầu có thể học sinh sẽ bị điểm thấp cũng không sao, nhưng dần dần HS sẽ quen thành nếp mới, lúc ấy sẽ mong có kết quả tốt đích thực.

Hà Nội, 9 tháng 8 năm 2021.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VỀ ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN

Vào đầu những năm 2000, khi được giao soạn chương trình môn ngữ văn THPT, tôi đã đề xuất đề thi không được dùng lại văn bản đã học trong SGK, mà dùng văn bản khác, có độ khó tương đương, để tránh việc đọc chép, học thuộc và làm bài thiếu suy nghĩ sáng tạo. Tuy nhiên, vào mùa thi đầu tiên của chương trình ấy, đề thi vẫn như cũ. Tôi đã phản ánh tình hình này nhiều lần cho ông thứ trưởng Bộ giáo dục hồi ấy, vì như vậy là vô hiệu hóa chương trình mới, nhưng rồi ông lơ mơ và bỏ qua. Tôi nghĩ đó là do áp lực của cách dạy cũ, ông thứ trưởng sợ áp dụng cách ra dề mới học sinh sẽ đạt điểm thấp, và ông mất điểm thi đua, cho nên thi như cũ cho chắc ăn. Cán bộ cục khảo thí có lẽ sợ thay đề mới HS không làm được. Cũng có thể áp lực các lò luyện thi lúc ấy ghê lắm, ảnh hưởng đến cục. Nghe đâu cục khảo thí thường nhờ các thầy nổi danh trong các lò ra đề, cho nên đề phải theo lối cũ. Bởi nếu dạy theo lối mới thì họ không thể luyện được.Kiểu đề như hiện nay nghe đâu là do mấy cán bộ của cục và Viện khoa học giáo dục vận dụng tư tưởng giáo dục của Bruner mà ra đó. Bruner là nhà giáo dục lớn, có lẽ mấy nhà giáo học pháp của ta không hiểu ông, nên vận dụng sai. Tôi thấy mô hình kiểu đề rất vớ vẩn. Hồi ấy tôi đã giới thiệu các đề thi đọc hiểu của Trung Quốc cho mọi người, nhưng các vị giáo học pháp không mấy ai lắng nghe.

Nay, sau 20 năm, xin dịch một đề để mọi người hình dung đề xuất của tôi.

Đề bài thi đại học ĐỌC HIỂU của Trung Quốc (Đề thi ở Bắc Kinh, Nội Mông, An Huy năm 2001)

Đọc bài văn dưới đây, hoàn thành các đề từ 1 đến 4.

ĐẤT VÀNG

Trâu Chí An

Bố tôi là một người nông dân rất bình thường, lao động một đời, lặng lẽ chết đi, như một nấm đất vàng. Đất vàng nuôi trồng hoa màu, nhưng phần lớn không mấy ai chú ý. Đại đa số nống dân Trung Quốc thế hệ trước đều như thế.Ông chết vì bệnh tim phổi. Đó là một trong những căn bệnh uy hiếp nghiêm trọng sức khỏe của người lao động. Nông dân Trung Quốc lúc bình thường chẳng mấy khi đi bệnh viện khám bệnh, cho dù bệnh đã làm cho khật khừ rồi, vẫn còn đang lưỡng lự. Bố tôi năm Dân quốc thứ 18 phải đi chở lương thực trên núi Nam Sơn, chân lội băng tan, khi về bong tróc hết mười móng chân, từ đó ngấm ngầm sinh bệnh. Từ đó nửa đời sau ông cứ ho miết, nhưng chẳng bao giờ uống thuốc. Chỉ đến khi trước khi mất mấy tháng, do tôi nài ép quá, ông mới chịu đi khám bệnh, làm điện tâm đồ, lần khám duy nhất trong đời. Bác sĩ bảo: Máy móc vận hành cả đời, nay trục chính đã hỏng, do không chịu chạy chữa, bảo dưỡng mà nên. Tạm thời uống một liều thuốc hơi đắt , gọi là An tâm mạch. Bố hỏi: Bao nhiêu tiền một lọ? Nghe nói hơn ba nghìn tệ, ông lặng im hồi lâu không trả lời. Cuối cùng bố bảo: “Tôi không uống, tôi không sao đâu”. Khi tôi vắng mặt, bố tôi lặng lẽ không uống thuốc. Ông tính: Giá một lọ thuốc gần giá 20 cân muối, thế là mấy đứa con dâu phải lao động biết bao ngày.Bố bình thường cũng chỉ biết lao động. Lao động nặng nhọc khiên lưng ông gập xuống. Không biết mình đã sáng tạo ra bao nhiêu của cải, tự mình cũng không nở tiêu một đồng tiền. Có lần tôi đưa cho bố hai đồng lẻ để bố mua quà ăn văt, nửa năm sau hỏi lại, ông vẫn để trong túi. Trong cơn bệnh nặng, bố nói mê, vẫn bảo: “Đã cho lợn ăn chưa đó?” “Cất cuốc vào nhà chưa?”, “Lúa mạch chín rồi, mau gặt đi.” Khi sắp mất, ông lặng lẻ rơi lệ, lưu luyến thế giới này, cái thế giới đã thấm đẫm mồ hôi của đời ông mà vẫn chưa giàu có lên được. Bố tôi xưa nay chẳng biết gì đúng sai, quan tâm mà không biết gì chuyện quốc gia đại sự, có thể nói về tinh thần là nghèo nàn. Kẻ giàu có thì được cho thêm, kẻ nghèo khó thì bị tước đoạt, vậy bố tôi đã bị tước đoạt. Ngày trước do nghèo khó mà không có dịp được học văn hóa, sau này tuy được giáo dục chính trị nhiều lần mà cũng chẳng hiểu gì cả. Nhưng bố tôi không tiếc nuối gì, vì ông có lao động, nó đã bù đắp cho ông bao nhiêu thiếu thốn. Kẻ khéo thì lao lực, kẻ trí thì lao tâm, kẻ bất tài thì chẳng có gì mà mong cả. Nhưng bố vẫn có điều mong: mong thế sự không loạn, có ngày tháng bình yên.Bây giờ bố mất rồi. Một đời lao động với đất vàng, cuối cùng lại trở về với đất vàng. Đất vàng biết bao khoan dung, bất kể thiện ác, cuối cùng đều ôm hết mọi người.Lúc ấy tôi quỳ xuống bùn đất để tiễn bước bố tôi. Tôi từng nghĩ rằng: Bố sống 77 tuổi, đã không dễ dàng, mà xung quanh đây người sỗng bảy tám mươi thật quá ít. Không phải là các cụ không muốn sống lâu, cũng không phải các con cháu không hiếu thuận, mà chỉ vì mức sông quá ư thấp kém. Vậy hãy phát triển sản xuất thật mau, cải thiện đời sông của nhân dân, đó là phương cách có thể để ông cha sông lâu thêm với con cháu. Khóc cũng vô ích, Buồn cũng chẳng giúp gì. Người chết đã mất rồi, người sống phải cố gắng.Tướng quân hay lãnh đạo có chết, sẽ có vô số bài điếu văn, bởi họ đã có nhiều công lao. Một người lao động bình thường như bố tôi chết đi, chúng tôi rắc lên mộ người một nắm đất vàng, và mong mọi người có lòng dung nạp.

  1. Bài văn này có nhan đề “Đất vàng”, hãy phân tích ý nghĩa biểu tượng của hai chữ đất vàng
  2.  Phân tích hình tượng “bố tôi” trong bài văn.
  3.  Dùng một hai câu khái quát tình trạng của nông dân Trung Quốc đương thời.
  4.  Các nhận định về bài văn này dưới đây có hai ý không đúng. Hãy chỉ ra ý đó :

a. Hình ảnh ví von của bác sĩ đã chỉ ra tình trạng lao động thành bệnh, bệnh không thể chữa được.

b. Bố dừng uống thuốc, chủ yếu là do tiếc tiền, đồng thời cũng cho thấy lúc đó thiếu điều kiện thuốc thang.

c. Bố quan tâm mà chẳng hiểu gì về chuyện quốc gia đại sự, vừa phản ánh tinh thần yêu nước, vừa biểu hiện trạng thái u tối ngu muội của người dân.

d. Mở đầu viết bố tôi…”như một một nấm đất vàng”, rồi đoạn kết lại viết: “Tôi rắc nắm đất vàng”, trước sau hô ứng, làm gia tăng ý nghĩa của “đất vàng”.

e. Lời văn chất phác, bình dị, lại khéo sử dụng chi tiết, đã khắc họa sinh động chân dung người bố.

f. Hình ảnh người bố rất bình dị, mà gây xúc cảm sâu sắc.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BỐN BÀI THƠ NGUYỄN TRÃI

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

(Cửa biển Bạch Đằng)

(NGUYỄN TRÃI)

Bạch Đằng hải khẩu là bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập. Theo cụ Đào Duy Anh, bài thơ được làm vào thời kỳ nhà thơ thành đạt, làm quan tại triều. Bản dịch của Nguyễn Đình Hổ khá sát với nguyên tác.

Đây là bài thơ thuộc dạng hoài cổ. Hoài cổ là nhớ lại việc xưa, người xưa : nhà thơ về lại nơi địa danh lịch sử, bày tỏ nỗi niềm. Thơ hoài cổ có loại bày tỏ niềm thương tiếc triều đại đã qua như thơ Bà Huyện Thanh Quan sau này (Thăng Long thành hoài cổ) hoặc thể hiện một suy nghĩ triết lý về lịch sử và đời người (như bài Tô Tần đình của Nguyễn Du).

Bài thơ này có lẽ viết khi về thăm lại chiến trường xưa, nơi ghi dấu son thắng lợi vẻ vang của dân tộc chống quân Nam Hán ở thế kỷ X, phá quân Mông – Nguyên thế kỷ XIII.

Hai câu đầu miêu tả phong cảnh cửa biển và giới thiệu cuộc đi chơi :

Biển rung gió bấc thế bừng bừng

Nguyên văn chữ Hán nói rõ : gió bấc thổi trên biển, làm cho không khí trên biển lạnh căm căm. Chính lúc đó nhà thơ :

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng

Sao lại có cuộc đi chơi vào lúc gió bấc thổi như vậy ? Tra lại lịch sử, Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào tháng chạp âm lịch năm 938, còn Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng vào ngày . Có thể là nhà thơ nhớ tới chiến công của Ngô Quyền dựng nền độc lập mà đi thăm chăng ? Cửa Bạch Đằng này, theo cụ Đào Duy Anh, là cửa sông Chanh, ở phía đông thị trấn Quảng Yên ngày nay, chứ không phải là cửa Nam Triệu. Ở đấy, núi đá lởm chởm nom xa như cá lớn bị chặt ra thành từng khúc, khiến tác giả liên tưởng tới chiến công của người xưa :

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

“Ngạc” là cá sấu, cố nhiên là cá dữ, còn “cá kình” là cá voi, thì không dữ, là cá hiền, song người xưa coi như mãnh thú. Có câu thành ngữ “Kình thôn hổ thực” (nghĩa là : Cá voi nuốt, hổ ăn thịt), và “kình ngạc” đi liền với nhau là hình ảnh tượng trưng chỉ giặc lớn, giặc dữ. “Giáo gươm chìm gãy” là dấu tích của nơi chiến trường xưa. Nhà thơ Đỗ Mục, người đời Đường, trong bài thơ Xích Bích cũng có câu “Giáo chìm gươm gãy sắt chưa tan” nhớ lại trận Xích Bích nổi tiếng, hàm ý chế giễu Chu Du thắng trận là nhờ vào ngọn gió đông nam. Ở đây, Nguyễn Trãi biểu hiện một ý thơ mạnh hơn : giáo chìm gươm gãy còn hiện lên trên bãi sông như một bãi chiến trường !

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

“Quan hà” là quan ải, cửa biển này là nơi quan ải của Tổ quốc. Chữ “hiểm yếu” ở đây, nguyên văn chữ Hán là “bách nhị”, lấy điển tích ở Sử ký của Tư Mã Thiên nói về thế hiểm trở của nước Tần, chỉ cần hai vạn quân Tần có thể địch lại với hai trăm vạn quân chư hầu. Ở đây, người dịch dịch thoát thành “hiểm yếu”. “Hào kiệt, công danh” là chữ nhắc lại chiến công và anh hùng xưa. Hai câu thơ này tràn đầy lòng tự hào với thế sông, thế núi của Tổ quốc và chiến công của các anh hùng dân tộc. Cả thế đất lẫn con người đều góp vào chiến công.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng…

Việc trước quay đầu nhìn lại đã qua lâu rồi, nhưng tới dòng ngắm cảnh, lòng vẫn bâng khuâng, bồi hồi nhớ lại. Nguyên văn chữ Hán ba chữ cuối câu tám là : “ý nan thăng”, nghĩa là “biết bao ý nghĩ không sao nói hết được” vì xúc động.

Bài thơ ngợi ca phong cảnh đất nước và công tích của người xưa, thấm đượm lòng tự hào và cảm phục. Bài thơ sử dụng một số điển tích cũ, có dấu vết tập cổ, nhưng ý đã hoàn toàn đổi mới, tình cảm lại chân thành kín đáo, thật là một bài thơ hay về đất nước và lịch sử.

TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

và MỘ XUÂN TỨC SỰ

(NGUYỄN TRÃI)

Nguyễn Trãi không chỉ nổi tiếng với văn chính luận như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh, với thơ quốc âm như Quốc âm thi tập, mà còn nổi tiếng với thơ chữ Hán. Hai bài thơ : Trại đầu xuân độ (Bến đò xuân đầu trại) và Mộ xuân tức sự (Cuối xuân tức sự) cho ta thấy khát vọng của nhà thơ muốn được hòa nhập cùng thiên nhiên, rung cảm với sức sống của thiên nhiên.

Hai bài thơ này nguyên bằng chữ Hán, nhưng theo sách giáo khoa, chúng ta hãy tìm hiểu qua bản dịch của nhà thơ Khương Hữu Dụng.

Đây là hai bài thơ thuộc loại tức sự, tức cảnh, tả cảnh tả việc thấy trước mắt mình. Nhà thơ nhìn cảnh sinh tình, tình hòa trong cảnh. Đặc điểm của lối thơ này là : cảnh chính là hình ảnh của tình, tình cảnh hòa quyện làm một.

Bến đò xuân đầu trại là một bức tranh xinh xắn gồm bốn câu (dòng). Hai câu đầu cực tả cảnh mùa xuân đầy sức sống. Câu “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi” có một ví von thật hay, nhưng khá lạ với người hiện đại : “cỏ xanh như khói” (xuân thảo lục như yên). Khói tất nhiên không phải màu xanh, lại càng không phải xanh lá cây. Nhưng khói nghi ngút bay lên làm một vùng trở nên mờ mịt, bàng bạc, cho nên người xưa nói “yên vũ” – mưa khói, “yên ba” – khói sóng, “yên liễu” – liễu khói, “yên hà” – ráng khói. “Cỏ xanh như khói” hình dung một vùng cỏ xanh phơi phới trông xa như khói mờ. Cỏ cây giống khói hơn khi có mưa xuân như bụi làm đất trời mờ mịt. Thông thường nước sông không thể vỗ trời (thủy phách thiên), nhưng mưa xuân che mờ cảnh vật, làm cho mặt sông và bầu trời nối liền với nhau, có cảm tưởng như nước vỗ lên trời. Trước mắt ta một cảnh xuân của thiên nhiên đầy sức sống hiện ra : cỏ xanh phơi phới, nước sông vỗ trời. Hai câu sau thể hiện một ý tương phản : cảnh sinh hoạt của con người dường như đã ngừng nghỉ, đường đồng vắng ngắt ít người đi, con đò gối bãi suốt ngày ngơi !

Sự tương phản của cảnh xuân vũ trụ sôi động và cảnh vắng vẻ của sinh hoạt con người thể hiện một ý thơ thâm trầm mang tinh thần văn  hóa phương Đông : cái đẹp thâm thúy nhất là sức sống tự nhiên của vạn vật, đất trời, là sinh ý của tạo hóa, vũ trụ. Nhà nho xưa cho rằng cái đức lớn lao nhất của đất trời là cái đức sinh, tức là cái đức làm cho mọi vật được sống. Nhà nho Trình Minh Đạo đời Tống bên Trung Quốc thường để cỏ mọc xum xuê trước cửa sổ. Có người khuyên nên giẫy đi, ông trả lời : “Tôi muốn thường xuyên được nhìn thấy sinh ý của tạo vật”. Ông lại xây bể cạn nuôi cá con và thường ra ngắm. Có người hỏi vì sao, ông đáp : “Tôi muốn xem vạn vật tự đắc ý như thế nào”. Liên hệ với câu chuyện này, có thể nói trong bài thơ nhỏ trên đây, Nguyễn Trãi cũng say mê với sinh ý của cỏ xuân và sông nước, một ý thơ đậm đà ý vị triết lý Đông phương.

Bài Cuối xuân tức sự cũng biểu hiện một cảm hứng tương tự. Sinh hoạt của nhà thơ nhàn nhã đến mức tĩnh lặng :

Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn,

Khách tục không ai bén đến gần.

Và trong không khí tĩnh lặng đó, nhà thơ cảm nghe được sinh ý của mùa xuân tự nhiên : cuốc kêu, mưa bụi, hoa nở

Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn,

Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan.

Đó cũng là lúc con người được sống tự do, thanh thản với đất trời. Chỉ khi không bị thúc bách bởi công việc, con người mới thực sự cảm được cái sinh thú tự nhiên của mình và xung quanh.

Đây là hai bài thơ mà trong Nguyễn Trãi toàn tập (bản in 1976) được xếp vào các bài thơ “làm trong thời ở  ẩn tại Côn Sơn”, hé mở cho ta thấy một thế giới nội tâm thầm kín, chan chứa lòng yêu đời và khát khao hòa hợp với thiên nhiên vĩnh cửu.

THUẬT HỨNG

(NGUYỄN TRÃI)

Nguyễn Trãi không chỉ làm nhiều thơ chữ Hán trong tập Ức Trai thi tập mà còn làm nhiều thơ chữ Nôm trong tập Quốc âm thi tập (gồm 254 bài), được xem là tập thơ Nôm sớm nhất còn lưu truyền lại ngày nay. Tập thơ này được xếp theo từng chùm bài : Ngôn chí 21 bài, Mạn thuật 14 bài, Trần tình 9 bài, Thuật hứng 25 bài, Tự thán 41 bài, Bảo kính cảnh giới 61 bài… Đây là bài thứ 24 trong chùm Thuật hứng.

“Thuật hứng” nghĩa là bày tỏ niềm hứng khởi, hứng thú, cũng tức là bày tỏ chí hướng, khẳng định lý tưởng sống của mình.

Mở đầu, bài thơ nêu ra một lựa chọn :

Công danh đã được hợp về nhàn,

Lành dữ âu chi thế nghị khen.

Nghĩa là công danh đã được rồi thì nên về nhàn, không phải lo âu gì về việc dị nghị, khen chê lành dữ của người đời nữa.

Ở đây công danh nghĩa là công lao và thanh danh, ngày xưa chỉ sự đỗ đạt và quan chức cao, được ghi danh vào bia đá bảng vàng. Lý tưởng của người xưa là công thành danh toại, do đó, công danh trọn vẹn thì nên rút lui. Hoài Nam Tử có câu : “Công thành danh toại thân thoái, thiên chi đạo dã”, nghĩa là công danh đã đạt  mà rút lui đó là việc hợp với đạo trời. Lưu Vũ Tích đời Đường có câu : “Công thành danh toại hội quy lão, Thỉnh hướng Đông sơn vi cận lân”, ý nói công danh đạt thì nên về dưỡng già, làm hàng xóm của núi phía Đông.

Nguyễn Trãi đã là quân sư cho Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Sau khi thắng lợi, ông được ban họ vua (Lê Trãi), được phong tước Quan phục hầu và giữ chức Nhập nội hành khiển, kiêm Lại bộ thượng thư. Có thể nói là công thành danh toại rồi. Do bị tình nghi liên can đến một vụ án, Nguyễn Trãi không được tin dùng. Ông cũng bất hòa với nhiều quan lớn trong triều về quan điểm trị dân, do tính tình ngay thẳng, cương trực của ông. Vì vậy Nguyễn Trãi chán việc quan trường, muốn về ở nhàn. Ta có thể hiểu “nhàn” tức là không làm quan nữa. Quốc âm thi tập có nhiều câu thơ nói lên chí hướng lựa chọn này của Nguyễn Trãi :

Dưới công danh đeo khổ nhục,

Trong dầu dãi, có phong lưu.

(Ngôn chí – bài 2)

Hay :

Lấy đâu xuất xử, lọn hai bề,

Được thú làm quan, mất thú quê.

(Tự thán – bài 39)

Ở bài Thuật hứng này, ta thấy dường như Nguyễn Trãi đã dứt khoát chọn hướng “thú quê”. Đối với ông, cuộc sống thôn quê thật thanh thản, con người được hòa mình với cuộc sống tự nhiên :

Ao cạn vớt bèo cấy muống,

Đìa thanh phát cỏ ương sen.

Câu hai có bản chép “Trì thanh”. Trì hay đìa cũng là ao nước, hồ nước có thể thả sen được. Hai câu này thể hiện lòng ngưỡng vọng một cuộc sống thuần phác, tự nhiên. Ao cạn hết nước thì vớt bèo, cấy rau muống.  Khi ao đầy nước thì phát cỏ, ương cây sen. Điều kiện nào thì trồng cây ấy.

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Kho chứa đựng phong nguyệt đầy lên quá nóc kho, nghĩa là đầy ngập, đầy tràn. “Phong nguyệt” ở đây nghĩa là trăng trong, gió mát, chỉ chung phong cảnh đẹp và cuộc sống nhàn hạ. Người xưa cũng đem chuyện trăng gió đối lập với việc quan. Chẳng hạn, Lương Thư, Truyện Từ Miễn có câu : “Đêm nay chỉ được nói chuyện phong nguyệt, không nên bàn chuyện công việc”. Như vậy, ta có thể hiểu là một khi “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc” thì không còn chỗ đâu mà chứa việc công nữa, cuộc sống sẽ thảnh thơi cùng phong cảnh.

Thuyền chở yên hà nặng vạy then

“Yên hà”, theo Hán ngữ đại từ điển là mây khói, nơi có thần tiên ở, cũng có nghĩa là cảnh sơn thủy, non nước, nơi con người có thể lánh đời, quên danh lợi, vui thú với thiên nhiên. Nguyễn Du vào thời kỳ ẩn dật dưới chân núi Hồng Lĩnh có câu thơ tỏ chí : “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen” thì thú yên hà là thú ẩn dật. Như vậy, thuyền chở thú ẩn dật cũng đầy, nặng oằn cả thang thuyền, không còn chỗ mà chở thêm bất cứ thứ gì khác.

Hai câu thơ này nói một ước mong, về nhàn thì tâm hồn nhà thơ chỉ chứa đựng toàn thú phong nguyệt và thú ẩn dật, không còn chỗ nào mà nghĩ đến chuyện công danh, danh lợi nữa. Như thế thật là sướng !

Nhưng hai câu cuối bài thơ đột ngột mở ra một chiều sâu khác trong tâm hồn Nguyễn Trãi :

Bui có một lòng trung lẫn hiếu,

Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.

“Bui” là chỉ, chỉ có một lòng trung hiếu là không thay đổi. “Trung” là một lòng phụng sự nhà vua, “hiếu” là phụng dưỡng, kính thờ cha mẹ. “Trung hiếu” là hạt nhân tư tưởng Nho giáo. Câu thơ cuối lấy lời ở sách Luận ngữ của Khổng Tử, ông tổ Nho giáo, lại càng có âm hưởng mạnh mẽ khác thường : Mài mà không mòn, nhuộm mà không đen.

Với hai câu thơ kết này, bài thơ bộc lộ một mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn nhà thơ mà chưa giải quyết được. Muốn được nhàn thì không được nghĩ đến việc nước, việc nhà, một lòng đắm mình trong phong nguyệt, khói ráng. Đã đắm mình đến mức ấy (“phong nguyệt đầy qua nóc”, “yên hà nặng vạy then”) mà vẫn không suy suyển ý thức trung hiếu, thì có nghĩa là tâm hồn vẫn không nhàn. Nhà thơ có thể dứt bỏ công danh, không theo đuổi nữa (“Chí cũ công danh đã phỉ nguyền” – Thuật hứng, bài 8), nhưng không thể đổi thay lòng trung hiếu. Mâu thuẫn đó nói lên nét đẹp của nhân cách nhà thơ : muốn nhàn là muốn được tự do, phóng khoáng cởi bỏ ràng buộc của công danh, hòa mình vào tự nhiên để sống cuộc đời thanh cao, nhàn tản, nhưng tấm lòng vẫn canh cánh trách nhiệm với đất nước, với cha mẹ. Ông muốn dung hòa cái không thể dung hòa. Đó là một lý tưởng sống rất khó thực hiện, bởi vì phụng sự vua thì lại duyên nợ với công danh. Một phần nào đó cũng là  một mâu thuẫn bi kịch.

Text Box: (1) Xin xem : - Giảng văn, T.1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1969, in lần thứ hai.
- Hướng dẫn giảng dạy văn học lớp Tám, T.2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1971, in lần thứ hai, 1975.
- Giảng văn, T.1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982.
Bài thơ thú vị vì đã đưa vào thơ những hình ảnh về nếp sống của làng quê Việt Nam thân thuộc trìu mến : “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen”. Có thể nói Nguyễn Trãi là nhà  thơ đưa vào thơ sớm nhất những chất liệu Việt Nam : rau muống, lảnh mồng tơi, con niềng niễng, tạo một không khí dân tộc đậm đà.

Bài thơ còn thú vị vì bài thơ thất ngôn bát cú mà xen vào ba câu lục ngôn (sáu tiếng). Câu thơ lục ngôn thường ngắt nhịp chẵn đều đặn : 2/2/2 hoặc 3/3, tạo cảm giác đều đều, chắc nịch. Thơ thất ngôn bát cú pha lục ngôn là một lối thơ độc đáo trong Quốc âm thi tập, làm cho nó có một dáng vẻ khác với thơ cổ thể, cận thể Trung Quốc. Nó chứng tỏ khi làm thơ Nguyễn Trãi không muốn rập khuôn các bậc thầy Trung Quốc của mình.

Đọc bài thơ này, ngoài lý tưởng sống cao đẹp của Nguyễn Trãi, việc đưa vào thơ chất liệu Việt Nam và pha câu lục ngôn vào thơ bát cú là điều đáng chú ý nhất.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BỐN BÀI THƠ THỜI NHÀ TRẦN

THUẬT HOÀI

(Tỏ lòng)

(PHẠM NGŨ LÃO)

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) trước là môn khách, sau là con rể của Trần Hưng Đạo, quê làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông là vị tướng đã lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân

Mông – Nguyên, trong việc mở mang biên giới phía Nam, được phong chức Điện soái thượng tướng quân. Ông là người văn võ toàn tài đã để lại một số thơ văn, trong đó có bài Thuật hoài viết bằng chữ Hán.

Mở đầu bài thơ, ông vẽ ra một tư thế hiên ngang, kiêu dũng :

Múa giáo non sông trải mấy thu

(Cầm ngang ngọn giáo giữa non sông vừa mấy mùa thu)

Đây là câu thơ dịch từ câu thơ “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu”. Hai chữ “múa giáo” không hay bằng “Cầm ngang ngọn giáo”, bởi cầm ngang ngọn giáo là một tư thế hiên ngang, vững chãi như một bức tượng, còn “múa giáo” gợi một động tác múa may, dù có diệu nghệ cũng làm mất đi cái ý hiên ngang lẫm liệt. “Cầm ngang ngọn giáo giữa non sông” gợi một hình ảnh khổng lồ của con người mang tầm cỡ vũ trụ, nổi lên trên bối cảnh giang sơn, sông núi, và hình ảnh đó sừng sững tới mấy năm. Chỉ một câu đã phác hoạ được bức tượng đài bất hủ về vị tướng anh hùng bảo vệ Tổ quốc. “Vừa mấy thu” ý nói thời gian chưa bao nhiêu.

Ba quân hùng khí át trời sao

Nguyên văn “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu”. Ba quân là biểu tượng chỉ chung cho quân đội, binh sĩ. Tỳ hổ là những loài thú dũng mãnh, đem ví với quân đội rất hợp. Mấy chữ “khí thôn Ngưu” lấy tích trong sách xưa, nói giống hổ báo, con non chưa có vằn có đốm đã có khí thế ăn được trâu (bò) ; giống hồng hộc, con non lông cánh chưa mọc đủ mà đã có tấm lòng bốn biển ; người hiền trẻ tuổi cũng thế. Câu thơ dịch
“Ba quân hùng khí nuốt  trôi trâu” tuy nghe hơi thô, nhưng đúng tinh thần nguyên tác. “Thôn ngưu” là nuốt chửng được cả con trâu. Tất nhiên đây chỉ là câu thơ cực tả khí thế, sức mạnh. Người Trung Quốc còn có những cách nói tương tự, như “chí khí nuốt sơn hà, chí khí nuốt vũ trụ, chí khí nuốt cầu vồng,… đều nói cái khí thế phi phàm, khác thường.

Nếu hai câu trên nặng về miêu tả vị tướng và quân đội thì hai câu dưới là câu luận :

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu !

Câu thơ nói lên ý thức nghĩa vụ phụng sự đất nước cao cả của tác giả. Công danh đây là công lao và danh vọng, xưa thường chỉ việc đỗ đạt, làm quan, lập công, tên tuổi được ghi vào bia đá bảng vàng. Nhưng chế độ khoa cử ở Trung Quốc mới có từ đời nhà Đường, đời nhà Hán thời Gia Cát Lượng tất nhiên chưa có. Do đó công danh đây thuần túy do công lao mà nổi tiếng. Ở đây Phạm Ngũ Lão nói tới công danh gắn với danh tiếng của Vũ hầu Gia Cát Lượng đời Hán thì không dính dáng tới khoa cử đỗ đạt.

Chữ “nợ công danh” ở đây, “nợ” là dịch từ chữ “trái”, mà “trái” thì từ chữ “trách” mà ra, nghĩa là “người có trách nhiệm, trọng trách”. Người xưa cho rằng người đàn ông sinh ra là có nợ tang bồng, lập công báo quốc, chỉ ai trả được cái nợ ấy thì mới xứng với danh hiệu “nam tử” – tức đàn ông.

Vũ hầu Gia Cát Lượng là người nổi tiếng, ai cũng biết qua truyện lịch sử Tam quốc diễn nghĩa. Ông là  người tài năng xuất chúng và trung thành rất mực với nhà Thục Hán. Chính Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, và ông làm Thừa tướng. Khi Lưu Bị sắp chết đem nước giao phó cho Gia Cát Lượng. Vì cảm cái ơn ấy mà ông sáu lần đem quân đánh Ngụy để báo đáp Tiên chúa, cuối cùng ốm chết trong khi đang chỉ huy đánh Ngụy. Trong bài Biểu xuất quân (Xuất sư biểu) lần sau, ông viết những lời cảm động chân thành : “Cúc cung tận tụy, chết thì mới thôi”. Và trận đó ông chết lúc mới 54 tuổi. Phạm Ngũ Lão là danh tướng đời Trần, ông sống tới 65 tuổi. Rõ ràng là Phạm Ngũ Lão lấy Gia Cát Lượng làm mẫu mực công danh cho đời mình, và lấy làm thẹn khi chưa lập được công danh như Gia Cát Lượng. Câu thơ tỏ chí vừa khiêm tốn vừa hào hùng. Nếu ta biết Gia Cát Lượng đã trả nợ công danh cho đến hơi thở cuối cùng, mà Phạm Ngũ Lão cầm ngang ngọn giáo “vừa mấy năm” (cáp kỷ thu), thì câu thơ còn có nghĩa là thời gian làm tướng còn dài, và ông mong muốn được lập công báo quốc suốt đời như Gia Cát Lượng.

Còn một khía cạnh nữa khiến Phạm noi gương Gia Cát là, trong bài Biểu nói trên, Gia Cát cho biết ông xuất thân áo vải, cày ruộng kiếm ăn cho qua đời loạn. Thế mà Lưu Bị không hiềm ông địa vị hèn mọn, ba lần đến lều tranh mời ra, cái ơn tri ngộ ấy lớn lắm. Phạm Ngũ Lão vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, không phải xuất thân quý tộc, mà cũng được Trần Hưng Đạo coi trọng, cho làm rể, đề bạt làm Điện soái thượng tướng quân, thì cái ơn này cũng không nhỏ. Cho nên ông nói “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. Nói thế cũng còn có nghĩa là nói mình chưa báo đáp được cái ơn tri ngộ của chủ tướng như Gia Cát Lượng.

Nếu xét bốn câu thơ ở tương quan trong bài thì ta thấy Phạm Ngũ Lão thấy thẹn là do ông làm tướng chưa lâu (“vừa mấy thu”), ba quân đều là quân tỳ hổ, có hùng khí, có chí lớn, không có gì đáng trách, đáng thẹn vậy có thể là ông thẹn vì chưa có tài lớn được như Gia Cát Lượng chăng ? Thực ra “thẹn” chỉ là cách nói bày tỏ hoài bão lập công không thua kém Gia Cát Lượng mà thôi.

Bài thơ tuy ngắn mà ý tứ cô đọng hàm súc, hình ảnh hoành tráng đậm màu sử thi, lý tưởng cao đẹp, có sức mạnh cổ vũ đối với các thế hệ thanh niên nước nhà. Bài thơ cũng tự khắc hoạ diện mạo tinh thần tướng sĩ đời Trần, những người đã chiến thắng quân Mông – Nguyên khét tiếng, bảo vệ trọn vẹn giang sơn Đại Việt chúng ta.

CẢM HOÀI

(Nỗi lòng)

(ĐẶNG DUNG)

Đặng Dung người Hà Tĩnh, con trai Quốc công Đặng Tất. Theo sách Ô châu cận lục thì : tức giận vì cha bị giết hại oan uổng, ông từ Thuận Hóa đưa quân ra Thanh Hoa đón Trần Quý Khoáng về Nghệ An lập ngôi vua, đổi niên hiệu Trùng Quang. Khi Trương Phụ (Minh) đến đánh, ông nhiều phen chiến đấu, có lần tập kích lên thuyền Phụ định bắt sống y, nhưng vì không biết mặt, để Phụ sổng mất. Về sau ông bị Phụ bắt đưa về Trung Quốc, dọc đường nhảy xuống sông tự vẫn.

Cảm hoài là nhan đề thường gặp trong thơ cổ dùng để biểu lộ cảm xúc, hoài bão. Cảm hoài là có cảm xúc trong lòng, tức nỗi lòng. Trong Tây sương ký có câu : “Tri âm giả phương tâm tự đổng, cảm hoài giả đoạn trường bi thống”, nghĩa là “Kẻ tri âm lòng thơm tự hiểu, kẻ cảm hoài đứt ruột xót đau”. Do vậy thi đề cảm hoài thường nói việc oán hận, bi thương. Bài thơ này làm vào lúc Đặng Dung ra sức tận tuỵ phù rập nhà Trần, đánh giặc cứu nước, nhưng vận nhà Trần đã tàn, cơ đồ đang đổ, khó lòng xoay chuyển. Cảm hoài là một bài thơ giãi bày gan ruột.

Mở đầu bài thơ tác giả nêu lên một tình thế bi kịch :

Thế sự du du nại lão hà

“Du du” chữ Hán có nhiều nghĩa, ở đây lấy nghĩa biến động, rối ren, không biết thế nào mà lần.

Dịch :

Việc đời bối rối tuổi già vay

Việc đời biến động mờ mịt, chưa thấy đâu là viễn cảnh, nhưng ta thì đã già rồi, biết làm sao ! Đây là bi kịch nhân sinh khi con người cảm thấy lực bất tòng tâm. Trong lúc đó thì :

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

“Hàm ca” có nghĩa là đắm đuối vào việc uống rượu, ca vũ (Hán ngữ đại tự điển, quyển hạ, tr. 5895). Khổng Dĩnh Đạt giải thích : “hàm ca” là một biểu hiện đạo đức hư hỏng. Trời đất vô cùng mà đắm vào rượu chè ca vũ là biểu hiện suy đồi.

Dịch :

Trời đất vô cùng, một cuộc say

Trời đất vô cùng mãi say sưa đắm chìm trong cuộc xoay vần theo luật của nó, chẳng kể gì đến con người, làm cho con người thêm cô độc, tăng thêm tính bi kịch của người có chí khí. Hai câu thơ mở đầu đã bộc lộ cảm giác bi kịch : người sống không gặp thời, nêu ra chủ đề bài thơ.

Hai câu thực thể hiện mối quan hệ giữa con người và thời thế :

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Khi gặp thời thì người làm đồ tể, kẻ đi câu cũng dễ dàng lập được công danh. Người đồ tể đây ám chỉ Phàn Khoái đời Hán lúc trẻ làm nghề bán thịt chó ở chợ, sau theo Hán Cao Tổ đánh Tần, bảo vệ Hán Cao Tổ ở cuộc hội ẩm tại Hồng Môn không để cho Hạng Vũ giết hại. Kẻ câu cá đây là chỉ Hàn Tín, thuở hàn vi Tín đi câu để mưu sinh, sau giúp Hán Cao Tổ làm nên nghiệp lớn. Cả hai người đều phò Hán Cao Tổ, lúc gặp thời, nhà Tần để sổng con hươu (thất lộc), Hán Cao Tổ chém rắn trắng, nên đều thành công. Đặng Dung cho thành công như thế là dễ.

Vận khứ – vận hết, kẻ anh hùng cũng nhiều người nuốt hận. Ẩm hận – nuốt hận, nghĩa là ôm hận mà không cách gì nói lên được, một hình ảnh về sự cay đắng. Giang Yêm trong bài Hận phú có câu : “Từ xưa đến nay ai cũng đều chết cả, không ai là không uống hận mà im tiếng”. Hai câu này được dịch là :

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ

Anh hùng lỡ bước, ngẫm càng cay.

Hai câu luận nói rõ vào tình thế bất lực của mình :

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

“Trí chủ” là dốc lòng báo đáp ơn vua. “Phù địa trục” là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. Người xưa trong sách Bác vật chí đời Tấn nói đất có 3.600 trục, giằng kéo lẫn nhau. Khi có biến loạn, trục đất rời ra. Cả câu nói có lòng báo đáp ơn vua, ra sức đỡ trục đất nghiêng lệch.

“Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa. Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, ý nói đình chiến. Lúc này Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Nhiều sách giải thích câu thơ này là muốn đem lại hoà bình cho đất nước mà  không được, e không hợp. Bởi vì tại câu kết bài thơ tác giả vẫn mài gươm dưới trăng để đánh giặc, chứ đâu phải để cất gươm vào kho ! Cho nên câu này nên hiểu : Không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh.

Mặc dù hình ảnh “kéo sông thiên hà” là lấy từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ, nhằm rửa binh khí để cất đi không dùng nữa, nhưng ở đây Đặng Dung đã vận dụng sáng tạo thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Hai câu này được dịch là :

Vai khiêng trái đất mong phò chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Kết bài, nhà thơ nhắc lại tình thế lực bất tòng tâm :

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

Dịch :

Thù trả chưa xong đầu đã bạc

Nhưng tinh thần chiến đấu vẫn thường trực :

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

Dịch :

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày !

Long tuyền đây là tên chiếc kiếm báu. Tương truyền nước Sở có suối Long tuyền tôi thép làm kiếm sắc. Về sau Long tuyền dùng để chỉ kiếm sắc nói chung. Đã có kiếm sắc rồi mà nhà thơ vẫn mài kiếm, không chỉ mài ban ngày, mà còn mài dưới trăng khuya, thì ý chí chiến đấu báo đáp ơn nước vẫn không bao giờ nhụt, cho dù biết thời vận đã qua. Đó chính là cái chí đơn độc, âm thầm muốn cưỡng lại mệnh trời.

Đọc lại cả bài dịch của cụ Phan Kế Bính (chúng tôi mạn phép sửa vài chữ) :

Việc đời bối rối tuổi già vay,

Trời đất vô cùng, một cuộc say.

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ,

Anh hùng hết vận gẫm càng cay.

Vai khiêng trục đất mong phò chúa,

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày !

Bài dịch tất nhiên chưa được đẹp và trau chuốt như nguyên tác, vần điệu cũng chưa réo rắt thiết tha bằng bản Hán văn. Đó là vì nguyên tác sử dụng nhiều điển cố. Ít nhất có năm điển cố phải được giải thích thì mới hiểu được. Bản dịch khó lòng đạt được sự đăng đối chỉnh tề của nguyên tác. Tuy vậy nhìn tổng thể, ta hiểu được bài thơ nói đi nói lại về việc đời khó khăn mà tuổi già rồi (nại lão hà, đầu tiên bạch), về việc hết thời vận (vận khứ, vô lộ vãn thiên hà) nhưng tấm lòng trí chủ vẫn ra sức gánh vác, vẫn mài kiếm Long tuyền dưới trăng. Đó chính là nỗi niềm của nhà thơ muốn bộc bạch với trời đất và hậu thế.

Cảm hoài là một đóng góp vào truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của thời Lý – Trần. Cảm hứng bi tráng sầu hận sâu sắc, âm điệu thiết tha đã làm cho bài thơ khắc sâu vào lòng người.

Xin đọc thêm bài dịch của cụ Phan Võ :

Việc thế lôi thôi tuổi tác này,

Mênh mông trời đất hát và say.

Gặp thời đồ điếu thừa nên việc,

Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay.

Giúp chúa những lăm giằng cốt đất,

Rửa đòng không thể vén sông mây.

Quốc thù chưa trả già sao vội,

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy.

TỤNG GIÁ HOÀN KINH SƯ

(Phò giá về kinh)

(TRẦN QUANG KHẢI)

Trần Quang Khải (1241 – 1294), con trai thứ ba của Trần Thái Tông Trần Cảnh, là Thượng tướng, vừa là nhà ngoại giao, là nhà thơ. Ông không chỉ lập công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, mà còn để lại tập thơ Lạc đạo (Vui với đạo) nhưng thất truyền, hiện chỉ còn một số bài, mà bài Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) được mọi người yêu mến, nhớ thuộc.

Bài Tụng giá hoàn kinh sư (kinh sư tức là kinh đô) thuộc loại thơ tức sự, nhân có sự việc mà làm ra. Sự việc đây là phò giá hai vua (tức là vua Trần Thái Tông Trần Cảnh, tuy đã nhường ngôi cho con là Trần Hoảng vào năm 1258, nhưng vẫn trông coi chính sự, cho nên gọi là hai vua) về kinh đô. Đầu tháng 6 năm Ất Dậu 1285, quân ta giải phóng Thăng Long, từ 10 tháng 6 Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để chạy lên phía Bắc, Toa Đô từ Thanh Hóa ra Thiên Trường bị quân ta bắt và chém đầu. Ngày 9 tháng 7 năm ấy, cả triều đình và quân đội về lại Thăng Long. Trở về sau khi chiến thắng người xưa gọi là khải hoàn. Bài Phò giá về kinh này có thể nói là một bài ca khải hoàn của Tướng quốc Trần Quang Khải.

Âm vang chiến công oanh liệt còn náo nức trong lòng, hai câu đầu nhà thơ nhắc lại hai trận thắng :

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù.

Bến Chương Dương và cửa Hàm Tử là hai địa danh lịch sử nổi tiếng, nay ở đâu, qua bao nhiêu thế kỷ sử sách chỉ còn ghi lại chung chung, chưa được biết cụ thể. Nhưng tên gọi thì thật vang dội. “Cướp giáo” là hình ảnh hoán dụ chỉ việc tước vũ khí giặc, vô hiệu hoá quân địch, còn “bắt quân Hồ” là cách nói khác chỉ việc bắt quân Mông – Nguyên. Hồ là tên người Trung Quốc xưa dùng để chỉ chung các dân tộc sống ở phía bắc Trung Quốc và Tây vực. Quân Mông – Nguyên chính là quân Hồ. Chỉ hai chiến công đó đã đủ nói lên khí phách anh hùng của quân dân ta.

Nhưng hai câu sau đột ngột mở ra một viễn cảnh mới :

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu.

Người dũng tướng không tự thỏa mãn với các chiến công trước mắt mà luôn tính đến kế sách lâu dài cho đất nước. “Tu trí lực” nếu dịch sát phải là “nên dốc sức” xây dựng. Thời thái bình đối với Trần Quang Khải không phải là lúc ăn ngon, ngủ yên, vét của để hưởng thụ, mà là lúc cần phải dốc sức để tăng cường sức mạnh của nhân dân và quân đội, tiềm lực quốc phòng, thì đất nước mới được vững bền lâu dài.

Sử sách cho biết đến tháng 7 âm lịch năm Ất Dậu, tức tháng 8 năm 1285, Khu mật viện triều Nguyên lại bày kế hoạch ráo riết chuẩn bị xâm lược nước Đại Việt một lần nữa để phục thù. Chỉ do viên tướng thống lĩnh A Lý Hải Nha bị ốm chết vào tháng 6 năm Bính Tuất (tức tháng 7 năm 1286) thì Hốt Tất Liệt mới hoãn binh, và sang năm Đinh Hợi (1287) lại sang xâm lược lần thứ ba để tháng 4 năm 1288 bị đại bại thêm một lần nữa.

Câu thơ  Trần Quang Khải không chỉ thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước thiết tha, mà chủ yếu thể hiện tầm nhìn chiến lược xa rộng, niềm tin vào sức mạnh của nhân dân mình, đất nước mình. Bài thơ thể hiện một ý thức cảnh giác kín đáo : quân xâm lược tuy thua nhưng không từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng, nếu nước ta sa sút thì chúng sẽ thừa cơ lấn sang.

Bài thơ ngắn, hào hùng mà ý tứ thật sâu xa, đáng để muôn đời con cháu suy ngẫm

XUÂN HIỂU

(Sớm xuân)

(TRẦN NHÂN TÔNG)

Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông. Ông là một vị vua yêu nước và anh hùng, đã cùng vua cha lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, giành thắng lợi ở phía Tây và phía Nam, củng cố vững vàng biên cương Tổ quốc. Là người khoan hòa nhân ái, ông có sức cảm hóa đoàn kết muôn dân, tuyển dụng hiền tài, có tinh thần dân chủ. Ông là người có sáng kiến tổ chức Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng để nghe ý kiến của các tướng và của các bậc cao niên già cả.

Trần Nhân Tông còn là nhà văn hóa, nhà thơ xuất sắc của thế kỷ XIII. Ông sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, và đã sáng tạo nhiều tập thơ, văn. Thơ của ông tinh tế, tình tứ. Bài Xuân hiểu này là như vậy, nó thể hiện một hồn thơ trong trẻo, đa tình của ông.

Bài thơ viết về một thời điểm đặc biệt trong năm : buổi sáng sớm mùa xuân, tại đầu mùa xuân, khi sự chuyển mùa còn chưa hiện ra rõ rệt. Sự chuyển biến của tự nhiên từ mùa này sang mùa khác bao giờ cũng như vậy, từ đông sang xuân, từ xuân sang hè, từ hè sang thu… thời tiết chuyển dần dần, lặng lẽ, nhưng con người thì không dễ nhận biết ngay, vì họ đang thích nghi với thời tiết cũ. Rồi một lúc nào đó, khi có dấu hiệu rõ rệt, con người mới ngỡ ngàng nhận ra rằng mùa khác đã đến. Bài thơ này đã miêu tả cái cảm giác ngỡ ngàng, vui sướng khi nhận ra mùa xuân đã đến một cách bất ngờ.

Bài thơ có bốn câu mà có hai tâm trạng. Hai câu đầu là tâm trạng khi chưa biết xuân về. Hai câu sau tả cảnh xuân đến với tất cả sự hào hứng :

Ngủ dậy ngỏ song mây

Xuân về vẫn chửa hay.

Hai câu đầu đầy động tác : ngủ dậy, mở hai cánh cửa sổ. Chi tiết cánh cửa sổ làm cho động tác được cụ thể hơn. Khi mở cửa không hề biết xuân đã về, nhưng động tác thì đã cho thấy một tinh thần sảng khoái, dứt khoát.

Hai câu tả cảnh tiếp theo rất thần tình, lột tả được thần thái của mùa xuân. Mùa xuân đặc trưng bởi hoa nở, nhưng tác giả chưa nói tới hoa ngay, mà nói đến bướm :

Một đôi bươm bướm trắng

Mấy chữ “một đôi bươm bướm” cũng chan chứa tình xuân. Không phải là một con bươm bướm hay một đàn bươm bướm mà là một đôi. Màu trắng của bướm cũng thật tinh khiết, trang nhã. Câu kết thật hay :

Phất phới sấn hoa bay

Hai chữ “phất phới” lột tả trạng thái hào hứng, hăm hở bay tới bông hoa. Chữ “sấn” khá thần tình. “Sấn” là xông tới, chạy theo, có cái gì như sấn sổ, liều lĩnh một cách đáng yêu. Mùa xuân là mùa khí dương thịnh, mọi vật bừng thức và đi vào hoạt động với một tinh thần hăng hái, yêu đời. Đôi bướm tượng trưng cho tinh thần đó.

Cả bài thơ tràn ngập tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên. Trong bài thơ đâu chỉ có đôi bươm bướm hăm hở bay tới với các bông hoa. Cái động tác ngủ dậy mở một lúc hai cánh cửa cũng mang khí thế xuân mới. Bài thơ chỉ nhắc tới hoa mà không miêu tả hoa. Nhưng đôi bươm bướm trắng bay thẳng tới khóm hoa là quá đủ để nói về hoa thơm, hoa đẹp, hoa đầu mùa đang vẫy gọi.

Bài thơ cho thấy một trình độ thơ ca điêu luyện, tinh tế biết chừng nào của các tác giả đời Trần.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BỐN BÀI THƠ CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

MỜI TRẦU

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là người đàn bà có số phận bi kịch. Bà tài cao chí lớn nhưng lại chịu một đời tình duyên hẩm hiu. Bà khao khát cuộc đời cao đẹp trong trắng mà buộc phải chấp nhận cuộc đời phàm tục, ô trọc. Điều đáng quý ở bà là tuy hờn giận cuộc đời đầy phản trắc đen bạc mà bà vẫn giữ mãi ước mơ về hạnh phúc đằm thắm. Mời trầu là một mong muốn hạnh phúc lứa đôi thắm thiết giữa một môi trường bạc bẽo, phản trắc.

Mời trầu là một nghi thức giao duyên, tỏ tình của trai gái. Mời trầu, bỏ trầu, nhận trầu tượng trưng cho tình yêu trai gái, và khởi đầu nhân duyên. Ca dao có bài :

    Vào vườn hái quả cau xanh,

Bổ ra làm sáu, mời anh xơi trầu.

    Trầu này têm những vôi tàu,

Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay.

    Trầu này ăn thiệt là say,

Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng.

    Dù chẳng nên vợ nên chồng,

Xơi dăm ba miếng, kẻo lòng nhớ mong,

(Việt Nam thi văn hợp tuyển)

Có lẽ ai mời trầu cũng bắt đầu bằng việc giới thiệu miếng trầu đem mời. Cô gái dân gian đã xiết bao trân trọng, chăm chút, có thể nói là làm dáng, làm sang cho miếng trầu đem mời người bạn. Cô giới thiệu từ việc hái, việc bổ cau, việc têm trầu và cả cách têm, cách pha chế nữa ! Và lời mời mới nhũn nhặn làm sao !

Hồ Xuân Hương mời trầu một cách khác hẳn, không giống cách mời xã giao thông thường, bình thường.

Bài thơ của bà cũng bắt đầu bằng việc “giới thiệu” miếng trầu của mình. Bà đã già dặn, để không tô vẽ, mỹ hoá, làm dáng. “Quả cau nho nhỏ” gợi lại “Quả cau nho nhỏ, Cái vỏ vân vân” xinh xinh, ngon lành. Nhưng “miếng trầu hôi” thì không phải là miếng trầu ngon lành lý tưởng rồi, cái tiếng “hôi” nghe cũng không đẹp, không nhã tý nào ! Đáng chú ý là bà rất đỗi thành thực, công bố rõ ràng trầu tôi là miếng trầu hôi, như muốn nói : trầu của tôi nó thế đấy, có thế nào mời thế ấy, không màu mè tô vẽ như ai, nhưng đây là trầu tay tôi quệt, với tất cả tấm lòng thành. Bà Hồ Xuân Hương giới thiệu miếng trầu như giới thiệu một tấm lòng thành thật, pha chút khiêm nhường. Cách mời cũng không văn vẻ : “Này của Xuân Hương…”, một lời mời thân mật, thẳng thắn của người đã chán mọi sự màu mè hào nhoáng.

Hai câu sau là phần “ngỏ ý”, nhưng là một lời ngỏ ý đặc biệt, nghe như lời bảo ban, khuyên nhủ của một bậc đàn chị : “Này này chị bảo cho mà biết…”. Trong lời bảo ban này có một tấm lòng thành thật khát khao hạnh phúc lứa đôi tươi đẹp (“Có phải duyên nhau thì thắm lại”, tức ăn trầu) và một lời “răn” trước (“Đừng xanh như lá, bạc như vôi !” tức không ăn ). Lời ngỏ ý vừa nói với bạn, lại vừa như nói với đời. Lời mời này thật khiến ai được mời khó xử. Bà không ảo tưởng với đời, biết đời lắm kẻ xanh như lá, bạc như vôi. Nhưng đời cũng có kẻ chân thật, có nơi hy vọng. Nhưng câu thơ cuối cùng có nghĩa là “Xin đừng từ chối, không ăn”, vì không ăn, thì miếng trầu vẫn “xanh” và “bạc” chứ không “thắm” !

Mời trầu là niềm khát khao giao duyên của một tấm lòng thành thật, nhưng không ảo tưởng với đời.

ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Đề thơ là một phong tục văn chương của Trung Quốc xưa, đến đời Đường đã rất thịnh hành. Khách du sơn ngoạn thuỷ, thăm thú thắng cảnh đền đài, hứng tình làm thơ, vung bút đề thơ để lưu bút tích và bày tỏ cảm xúc, chí khí của mình. Ta đã biết tương truyền bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu đề ở lầu Hoàng Hạc, làm thi tiên Lý Bạch bối rối. Hoặc bài Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ đề trên cánh cửa một trang viện vắng bóng người đẹp. Ở nước ta, tục này cũng thịnh hành, trên nhiều hang động đẹp đều lưu bút tích thi nhân.

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoạn, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ đề nơi nào phải đúng với tình cảnh, sự tích nơi đó, xem như cảm nghĩ về nơi được đề.

Sầm Nghi Đống là Thái thú đất Điền Châu, Quảng Tây, Trung Quốc, tùy tướng của Tôn Sĩ Nghị trong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1789. Đống được Nghị giao cho giữ đồn Khương Thượng, Đống Đa. Khi bị quân Tây Sơn đánh, bí thế đã thắt cổ tự tử. Để giữ mối quan hệ bang giao hai nước, Quang Trung cho người Hoa lập miếu thờ Sầm Nghi Đống tại Ngõ Sầm Công, phía sau phố Hàng Buồm ngày nay (Theo Nguyễn Lộc. Hồ Xuân Hương, thơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1968). Theo sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (NXB Văn hóa, Hà Nội. 1963) thì ghi chú có hơi khác : Đống được giao trấn thủ Ngọc Hồi, đồn Ngọc Hồi thất thủ, Đống tự tử. Về sau có đền thờ ở gò làng Ngọc Hồi.  Chưa rõ ai đúng.

Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền :

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.

Những ai được lập đền, dù là quân giặc, đều được coi là thần, để người thường đến thắp hương cúng bái, cầu vọng. Nhưng Hồ Xuân Hương thì chỉ “ghé mắt trông ngang”. “Ghé mắt”, theo Từ điển Tiếng Việt là “nghiêng đầu và đưa mắt nhìn”, chỉ thuần túy là động tác, không hàm ý kính trọng. “Ghé mắt trông ngang” chớ không phải trông lên, đã thể hiện một thái độ bất kính đối với “vị thần” xâm lược thất bại. “Đền Thái thú đứng cheo leo” hẳn là đền xây trên gò, và người ta không dễ trông ngang. Rõ ràng Hồ Xuân Hương cố tình chọn một cái nhìn coi thường đối với vị Thái thú ở nơi tha hương này. Chữ “cheo leo” cũng hay, nó chỉ một thế đứng cao nhưng không có nơi bấu víu, dễ đổ ụp xuống. Chữ “kìa” cũng hàm ý bất kính, bởi nó kèm theo các động tác chỉ trỏ, mà đối với các nơi đền đài linh thiêng, người đến viếng không được nói to, giơ tay chỉ trỏ như đối với đồ vật. Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất linh thiêng, cung kính của một ngôi đền.

Hồ Xuân Hương không chỉ nhìn ngang ngửa, chỉ trỏ trước một ngôi đền, bà lại còn tự ví mình, so sánh mình với người được thờ nữa :

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu !

Cái ý nghĩa “đổi phận làm trai” đã thể hiện cái mặc cảm phụ nữ thua kém nam giới mà xã hội phong kiến đã áp đặt vào ý thức nhà thơ. Nhưng mặt khác, nó cũng thể hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận của bà. Cái cách bà tự xưng là “đây” để đối lại với Sầm Nghi Đống là “đấy”, thì dù bà chưa đổi phận được, bà cũng đã tự coi mình ngang hàng với bậc mày râu và rất coi thường vị nam nhi họ Sầm. Mặc dù trong xã hội có mặc cảm thua lép ở giới phụ nữ, thì cá nhân Hồ Xuân Hương không chịu thua lép ! Câu kết “… há bấy nhiêu” có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm nhiều gấp nhiều lần, so với sự nghiệp của Sầm, song đúng hơn, nên hiểu là một lời dè bỉu : sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư, nó quá ít đối với một đấng nam nhi đấy !

Bài thơ là một khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ. Thái độ “bất kính” của bà là một thách thức đối với ý thức trọng nam khinh nữ, thách thức với các “sự nghiệp anh hùng” của nam nhi, thách thức đối với thần linh. Bài thơ thể hiện mạnh mẽ nhu cầu giải phóng cá tính của con người, bất chấp các ước lệ ràng buộc của xã hội phong kiến.

BÁNH TRÔI NƯỚC

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Bài thơ Bánh trôi nước của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một bài thơ tứ tuyệt xinh xắn làm theo lối thơ “vịnh vật”. Đó là lối thơ xuất hiện vào thời Lục Triều ở Trung Quốc (thế kỷ III – VI) và thịnh hành ở nước ta từ thế kỷ XV với thơ Nôm Nguyễn Trãi và đặc biệt là Hồng Đức quốc âm thi tập. Các “vật” được vịnh bao gồm động vật như con hạc, con bướm, con ve… ; thực vật như cây mai, cây đào, cây trúc… ; đồ vật như cây đàn, cái bút, cái quạt… ; con người như ông vua, người đẹp… Thơ vịnh vật có hai yêu cầu. Một là, miêu tả cho giống với đặc điểm sự vật được vịnh, sao cho người ta đọc lên là nhận được ra. Hai là, ký thác tâm tình, mượn sự vật mà gửi gắm tình cảm, ý chí, tư tưởng. Thơ vịnh càng giống càng khéo, gửi gắm tâm tình càng sâu càng hay. Do vậy “vịnh vật” cũng tức là “vịnh hoài”, làm thơ tỏ nỗi lòng.

Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh vật độc đáo : vịnh món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà dễ thường cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình :

Thân em thì trắng, phận em tròn,

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

          (DƯƠNG QUẢNG HÀM.

Việt Nam thi văn hợp tuyển, Hà Nội, 1950)

Đây là lời “tự giới thiệu” của bánh : từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân làm bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão (nát).

Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân (tấm lòng son). Thiếu nhân bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một ly.

Nhưng bài thơ đâu phải là tác phẩm quảng cáo cho một món ăn dân tộc. Thơ vịnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Bài thơ của Hồ Xuân Hương, vì thế, còn là lời tự bộc bạch của một tấm lòng phụ nữ. Ta có thể nói nhà thơ mượn lời cái bánh trôi để nói lên thân phận và tấm lòng người phụ nữ. Bánh trôi là một hình ảnh gợi hứng, một ẩn dụ, một biểu tượng. Có người liên hệ hình thức bài thơ này với hình thức câu đố, song nói chung bản thân câu đố không có chức năng biểu cảm, trong khi đó vịnh vật (hay vịnh sử cũng thế) phải có chức năng biểu cảm mới được. Cái lấp lửng của câu đố là để đánh lừa, gây nhiễu từ phía người phán đoán, còn cái song quan của thơ vịnh là phương thức biểu cảm của nó. Chúng ta hãy xem bài thơ này không đố ai cả. Nhan đề bài thơ đã nói rõ nó tả cái gì ngay từ đầu rồi.

Thân em thì trắng, phận em tròn

Muốn cho lời thơ vịnh vừa tả vật, vừa ký thác, thì lời thơ phải lấp lửng, “song quan”, mở ra hai cửa, cửa nào cũng hiểu được. Có bản chép “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, Hà Nội, 1963) thì câu thơ trần trụi như là chỉ tả cục bột. Chữ “thân” và chữ “phận” mới gợi lên suy nghĩ về một cuộc đời. Và do vậy, các chữ “trắng”, “tròn” mới gợi lên hình bóng một người con gái đẹp xinh, phúc hậu. “Thân trắng” vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. “Phận tròn” vừa có nghĩa là bánh trôi được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

Bảy nổi ba chìm với nước non

“Bảy nổi ba chìm” là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, vùi dập, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. “Nước non” là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người. Ở đây hàm ý chỉ mối tình, tình duyên. Trong bài Tự tình, Hồ Xuân Hương có câu : “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Câu này tỏ ý từng trải, sướng vui, đau khổ đều đã chịu đựng.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Hoặc sinh ra xấu, đẹp, hoặc gia cảnh giàu, nghèo, hoặc lấy chồng tốt, xấu, đều do một “tay kẻ nặn” là tạo hóa, số phận làm ra hết. Trong xã hội cũ, trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm thấy thương thân, xót thân rất rõ qua các đối lập :

    Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ?

    Thân em như thể cánh bèo,

Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi.

Tuy chưa có cách gì làm đổi thay được số phận oan trái, bất công, người phụ nữ vẫn giữ lòng thủy chung, trinh bạch :

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Người phụ nữ vẫn giữ niềm thủy chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thủy chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được đời mình, tất cả đều phó mặc cho “tay kẻ nặn”, thì chẳng đáng thương hay sao ? Chẳng phải là hình ảnh chân thực về thân phận người phụ nữ hay sao ? Bánh trôi nước là bài thơ cảm thương về thân phận, tố cáo số phận. Đặt trong văn cảnh văn học đương thời và trong thơ nữ sĩ thì cảm nhận thương thân rất rõ rệt, một cảm xúc còn được thể hiện trong nhiều bài khác nữa.

TỰ TÌNH (II)

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Bài Tự tình (II) này là một bài trong chùm tự tình của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Tự tình là kể nỗi lòng, một đề tài thường thấy trong thơ xưa.

Mở đầu là một âm thanh trong đêm khuya :

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Những người có nhiều tâm sự thường không ngủ say, đêm khuya chỉ một âm thanh nhỏ cũng dễ dàng đánh thức. “Văng vẳng” là âm thanh từ xa vọng lại, cũng là âm thanh nghe từ trong giấc ngủ. Đáng chú ý là chữ “dồn”. Trống cầm canh đêm khuya là thứ trống giữ nhịp, thay gác, vốn bình thường hết sức, chẳng có gì gọi là dồn hay không dồn. “Dồn” đây là cảm xúc của nhà thơ. Trống canh là tín hiệu thời gian đang thúc giục.

Trơ cái hồng nhan với nước non

“Hồng nhan” là danh từ vốn chỉ vẻ đẹp phụ nữ, rồi chỉ người phụ nữ đẹp một cách trang trọng. Đem ghép chữ “cái” vào thành “cái hồng nhan” làm cho hồng nhan được vật thể hoá, xóa đi màu sắc văn chương, để hiện ra một thiếu phụ cô đơn. “Trơ” đây không chỉ là trơ trọi, cô đơn, mà còn có gì như là vô duyên vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương, đáng giận. Cái tiếng trống thời gian nó đang đánh vào cảm thức cô đơn của nàng. Người phụ nữ đây tỉnh dậy không chỉ thấy mình nằm một mình trơ trọi, mà cảm thấy rõ cái phận hồng nhan vô duyên của mình. “Nước non” là hình ảnh của vũ trụ, của đời, của thế giới. Một số phận dang dở giữa đời.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Chén rượu tình mới thoảng qua, mới có chút say đã hết, lại tỉnh. Vừng trăng chưa tròn đang khuyết mà đã xế. Một cảm giác về sự dở dang, chưa được thỏa mãn đủ đầy trong hai câu thơ. Câu thơ cũng có mơ hồ. Vầng trăng chưa tròn mà đã xế, hay đang khuyết, chưa tròn, đang đợi đến lúc tròn ? Hình như có cả hai. Vầng trăng vừa có thật, vừa tượng trưng.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Đây là cảnh thực của đêm trăng bóng xế mà ánh sáng của nó xiên ngang mặt đất, “đâm toạc chân mây” hay còn là ký ức những đêm tình ái đã qua ? “Xiên ngang”, “đâm toạc” có thể là những từ tả cảnh, nhưng có lẽ đúng hơn là tả tình, chúng gợi nhắc những kỷ niệm, đồng thời là cả khao khát nữa những động tác mạnh mẽ đầy sức sống.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tý con con.

Thời gian trong bài thơ đâu phải chỉ là một đêm. Đó chỉ là một đêm trong vô vàn đêm, trong năm này qua năm khác. Xuân đi xuân lại lại. Thời gian tuần hoàn. Xuân vẫn đang còn. Nhưng cuộc đời tình ái thì ít ỏi quá. Người ta còn gọi tình người là khối tình, tấm tình, ở đây chỉ gọi là mảnh tình, cái mảnh như là mảnh vỡ, mong manh, không nguyên vẹn. Một mảnh tình đã bé nhỏ đến thế, mà cũng chỉ được “san sẻ tý con con” !…

Cả bài thơ là một nỗi khao khát tình duyên, nỗi than đời bất công, nỗi khao khát ái ân chưa được thỏa mãn, là tình cảnh đáng thương của người phụ nữ dở dang, lẽ mọn, một biểu hiện thương thân của con người cá nhân đã thức tỉnh.

Cái đáng chú ý của bài thơ còn ở chỗ này : Ngày xưa những nỗi khát thèm ái ân, tình duyên, dưới mắt lễ giáo phong kiến được coi là tội lỗi, là cấm kỵ, người khát khao chỉ nên bấm bụng chịu đựng cho đến trót đời. Nhưng Hồ Xuân Hương đã chân thành nói toạc ra tất cả, biến nó thành sự thường tình, đương nhiên. Cái lớn lao trong thơ Hồ Xuân Hương là đem những nhu cầu chính đáng của con người bị xã hội chôn vùi trong cấm kỵ mà nói to lên, xé toạc cấm kỵ, trả về cho đời sống con người.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BA BÀI THƠ THU CỦA NGUYỄN KHUYẾN

THU VỊNH

Vịnh mùa thu là một đề tài truyền thống bắt đầu từ thi ca Trung Quốc. Nếu ai có chút ý thức so sánh thì dễ dàng nhận thấy Thu vịnh của Nguyễn Khuyến là bài thơ thuần túy Việt Nam.

Thật vậy, từ những bài thơ thu đời Hán, đời Ngụy Tấn, sang đời Đường Tống những bài thơ về mùa thu đều nhuốm màu sắc đau thương và u sầu. Mùa thu là mùa điêu linh và tàn tạ, là mùa nhớ thương của những kẻ xa nhà, mùa sầu muộn ai oán của những kẻ bị biếm trích tha hương. Không lấy đâu xa, chỉ dẫn hai bài thơ của Đỗ Phủ là cảm thấy được màu sắc ấy.

Bài Đăng cao :

Gió cấp trời cao vượn nỷ non,

Bến trong cát trắng lượn chim cồn.

Rào rào lá trút rừng cây thẳm,

Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn.

Thu quạnh nghìn khơi lòng khách não,

Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn.

Gian nan khổ hận đầu thêm bạc,

Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn.

(NAM TRÂN dịch)

Bài Thu hứng :

Lác đác rừng phong hạt móc sa,

Ngàn sơn hiu hắt, khí thu lòa.

Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,

Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.

Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,

Thành Bạch chiều vang bóng ác tà.

(NGUYỄN CÔNG TRỨ dịch)

Gió rít, mây đùn, lá rụng, nước cuốn, hiu hắt lạnh lùng… đó là những nét tiêu biểu của mùa thu phương Bắc, giục người may áo ấm, gợi nhớ người thân phương xa. Mùa thu là mùa của sầu hận và cảm khái.

Mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến rõ ràng là những nét thu phương Nam. Đó là mùa trong sáng, trời cao xanh thắm, gió nhẹ, nước trong yên tĩnh. Bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến rõ ràng bắt nguồn từ cảm xúc mùa thu của quê hương Việt Nam :

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu…

Nhà thơ Xuân Diệu bình luận :

“Trong ba bài thơ, bài này mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Mang cái thần của cảnh mùa thu. Cái hồn, cái thần của cảnh thu là nằm ở trong bầu trời, ở trên trời thu”. Và rồi nhà thơ khai thác mọi chi tiết để phân tích cái cảm giác cao trong bài. Sự phân tích thật tinh tế. Song bài thơ đâu phải chỉ là tả chân, tả thực, cốt vẽ ra cho được cái thần, cái hồn. Đề bài thơ tuy gọi là Vịnh mùa thu, song không giản đơn là bài thơ tả cảnh, mà còn là bài thơ về sự vỡ mộng mùa thu, vỡ mộng nhàn ẩn theo chí Đào Tiềm.  Chính vì vậy bài thơ như chia làm hai nửa : Năm câu đầu là niềm cao hứng về mùa thu, ba câu cuối là niềm cụt hứng.

Thật vậy, năm câu đầu đã miêu tả một cảnh thu làng quê điển hình tĩnh lặng và êm đềm. Trời thu xanh ngắt lồng lộng như thấy được nhiều tầng. Cái nhìn nhà thơ từ trời cao hạ dần xuống thấp. Cây trúc non vút lên bầu trời hơi uốn cong trong gió nhẹ như cần câu lơ phơ, chứng tỏ là gió nhẹ hắt hiu, trời rất yên tĩnh. Mặt nước ao hồ cũng rất tĩnh lặng, tựa hồ như ngưng kết lại thành khối : “Nước biếc trông như tầng khói phủ”.

Có bản chép là “từng khói”, có bản chép là “tầng khói”, đều chỉ một lớp không gian, do hơi nước bốc lên nhưng chưa tan trên mặt nước, do yên tĩnh quá, không có gió mạnh. Người xưa cảm nhận hơi nước mùa thu như là “khói thu xây thành” (Tản Đà) hay như “thành xây khói biếc” (Nguyễn Du). Đó là câu thơ nói về sự tĩnh lặng đến ngưng đọng. Nếu thay chữ “tầng khói” thành chữ “làn khói” thì mất nghĩa.

“Song thưa để mặc bóng trăng vào” là câu thơ nói tấm lòng rộng mở trước thiên nhiên, thể hiện qua chiếc cửa sổ có song thưa phóng khoáng. Ngôi nhà phương Đông thường không bao giờ khép kín, mà chỉ là tượng trưng với chiếc cửa sài, cửa song. Nguyễn Du từng gọi song trăng, song đào là vì vậy. Hai chữ  “để mặc” mang một cử chỉ phóng khoáng làm cho thiên nhiên có được quyền chủ động, và con người thì đắm chìm vào cảnh thu, có thể nói “ta và vật hòa chung” trong giấc mộng thu. Đây là cảnh thu phương Nam ,khác hẳn mùa thu phương Bắc mang hơi gió rét mướt.

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” cũng nói cái ý yên tĩnh, bất biến. Hoa năm ngoái không phải là hoa của năm ngoái khô đi, sót lại, mà là hoa vẫn y như hoa năm ngoái, không đổi thay. Đây là nhà thơ kế thừa nét thi pháp thơ Trung Quốc miêu tả cảnh thiên nhiên bất biến. Thôi Hộ đời Đường có câu thơ tạm dịch ra là :

Người xưa không biết đi đâu,

Hoa đào xưa vẫn nở chào gió xuân.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều lấy ý câu này mà dịch thành: “Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Câu thơ Nguyễn Khuyến với mấy chữ “hoa năm ngoái” chứng tỏ ông chịu ảnh hưởng của Nguyễn Du, một cách dùng ẩn dụ, vứt bỏ cái ý so sánh “vẫn như năm ngoái” của hai tiếng “y cựu” trong nguyên văn thơ Đường. “Hoa năm ngoái” gợi cái ý thời gian bất biến đến ngưng đọng. Vậy là từ “Nước biếc trông như tầng khói phủ” đến “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái “nhà thơ có đủ một ảo giác về một khung cảnh tĩnh lặng tuyệt đối cho tâm hồn đã mệt mỏi trước biến động của thời cuộc được nghỉ ngơi.

Nhưng câu thơ : “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” đã phá tan cái ảo giác yên tĩnh ấy. Một tiếng trên không là âm thanh ngang trời. Ngỗng đây là ngỗng trời, không phải loài ngỗng nhà không biết bay, chữ Hán gọi là chim nhạn, hồng nhạn, loài chim nước, ở phương Bắc do mùa đông nước đóng băng, chúng phải dời về phương Nam kiếm thức ăn từ mùa thu. Tiếng nhạn kêu rất to, vang động tới một hai cây số vẫn nghe thấy. Theo truyền thống thì cứ nên gọi chim ấy là chim nhạn :

Một tiếng trên không nhạn nước nào ?

Về âm hưởng, “nhạn” hay “ngỗng” đều là vần trắc cả, nhưng nếu dịch thành “ngỗng” thì chưa chính xác, vì phải nói là ngỗng trời mới rõ nghĩa.  Hơn nữa “nhạn” là tên gọi thi vị, là ngôn từ thơ, còn “ngỗng” là tên gọi cọc cạch, phi thơ. Nhà thơ Quách Tấn đã có nhận xét tinh tế về việc lựa chọn chữ “ngỗng” này. Nguyễn Khuyến đã chọn chữ “ngỗng” cọc cạch hẳn là có ý riêng của mình. Thêm nữa, xưa nay không ai lại đi hỏi “ngỗng nước nào” bởi biết nó ở phương Bắc, bởi chim nhạn, chim ngỗng trời đều thuộc vào loại chim trời, cá nước, không bao giờ ở trong một biên giới nào cả. Trong tâm thức mọi người, chim nhạn là từ phương Bắc bay về rồi, còn gì phải hỏi ! Phải có một ngữ cảnh đặc biệt nào đó mới nảy ra câu hỏi “ngỗng nước nào”. Một danh từ ngỗng phi thơ, lạc hệ thống và một câu hỏi phi lôgíc, nhưng chính vì thế mà nó gợi lên cái ý về một âm thanh xa lạ phá vỡ cái yên tĩnh của mùa thu phương Nam. “Ngỗng nước nào” là câu hỏi phủ nhận kiến thức thông thường để phiếm chỉ một giống chim nước khác xâm chiếm bầu trời ám chỉ sự hiện diện của thực dân Pháp. Thì ra khung cảnh mùa thu yên tĩnh trên kia chỉ là ảo giác !

Hiểu được hình ảnh ẩn dụ này ta sẽ dễ dàng đồng cảm với hai câu thơ cuối. Bình luận hai câu thơ cuối, nhà thơ Xuân Diệu viết : “Cả khung cảnh mùa thu thanh thoát ấy dẫn đến ý hai câu kết : Sao ta còn bị buộc chân ở đây,  sa lầy trong vòng danh lợi ố bẩn phi nghĩa này ? Sao ta chưa trả mũ từ quan quy khứ như Đào Uyên Minh cho nhẹ nhõm trong sáng ?”. Ý nghĩ của nhà thơ Xuân Diệu có thể đúng nếu ai đó xác nhận bài thơ này làm vào lúc Nguyễn Khuyến chưa từ quan quy ẩn. Đào Uyên Minh từ quan về ở ẩn năm 41 tuổi, còn Nguyễn Khuyến về ở ẩn năm 49 tuổi, về tuổi có sau họ Đào. Nhưng chúng tôi hiểu cái thẹn của nhà thơ Nguyễn Khuyến theo một hướng khác. Về tài năng Nguyễn Khuyến có thể không thẹn với ai. Nhưng đất nước Việt Nam thời ấy đâu là nơi có thể quy ẩn ? Ông Đào Tiềm có cả một đào nguyên cách biệt của mình để mà cày cấy, ẩn cư tự do, còn Nguyễn Khuyến thì ẩn vào đâu được ? Đào Tiềm không thấy nói phải lo thuế má, còn Nguyễn Khuyến thì :

Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,

Nửa công đứa ở, nửa thuê bò…

(Nhà nông than thở)

Quan Tây đã can thiệp vào đời sống nông thôn của nhà thơ rồi.

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Ngẫm ra lại then với ông Đào.

Ông Đào đây là Đào Tiềm.

Trong hoàn cảnh ấy mà muốn làm thơ siêu thoát kiểu Đào Tiềm thì cũng đáng thẹn thật. Cái lớn của nhà thơ là biết thẹn cùng cái thẹn của đất nước.Bài thơ mới đầu siêu thoát mà rút cục chẳng siêu thoát được nào. Thu vịnh không đơn thuần là bài thơ tả cảnh mà là thơ giãi bày tâm sự, nó nói lên tâm trạng nhà thơ thân quy ẩn mà lòng không quy ẩn, thấm đượm một chút u hoài về hiện tình đất nước thời ấy.

THU ĐIẾU

Nguyễn Khuyến là nhà thơ viết nhiều bài thơ đặc sắc về quê hương, làng cảnh, thiên nhiên. Trong số đó, có chùm thơ thu khá nổi tiếng, bao gồm : Thu điếu (Câu cá mùa thu), Thu vịnh (Vịnh mùa thu), Thu ẩm (Uống ruợu mùa thu). Mỗi bài có một cái hay, riêng Câu cá mùa thu thể hiện tấm lòng tìm về nơi trong sạch, yên tĩnh.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã cho thấy một cảnh câu cá với ao thu và thuyền câu. Chiếc thuyền bé tẻo teo làm cho ao trở nên rộng ;

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Nhưng cái đáng chú ý trong cảnh này là không khí “lạnh lẽo” của mùa thu và làn nước “trong veo”, gợi ra một khung cảnh thật tinh khiết. Cả ao và thuyền như chỉ gợi ra cảnh câu cá, đúng hơn là một biểu trưng câu cá, tựa như cảnh câu cá xinh xắn giữa một hòn non bộ nào. Nghĩa là nước trong, thuyền bé, gợi ra một cái thú chơi thanh tao, thoát tục, chứ không phải cuộc làm ăn kiếm lợi của một ngư ông.

Phong cảnh ao thu thật tươi tắn và yên tĩnh :

Sóng biếc theo làn hơi gợn tý,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Hai câu thơ dùng nét động để miêu tả cảnh tĩnh.

“Sóng biếc” tương phản với “lá vàng” làm cho màu sắc sáng tươi, nổi bật, mỹ lệ. Nhưng đáng chú ý hơn là không khí vắng lặng ngự trị cả không gian. Sóng biếc theo làn gió nhẹ chỉ hơi gợn một tý, một cái gợn rất mơ hồ, phải chú ý lắm mới thấy rõ. Có lẽ do thuyền câu bất động. Còn chiếc lá vàng rơi vừa khẽ, vừa nhanh (“khẽ đưa vèo”), không gây được một xao động nhỏ nào trong cái tĩnh mịch chung quanh.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

“Tầng mây lơ lửng” ở giữa trời, chứng tỏ trời trong xanh, yên tĩnh cao vút thăm thẳm như mở ra chiều cao sâu vô tận. “Ngõ trúc quanh co”, chứng tỏ ngõ dài, uốn khúc, có chiều sâu, và vẫn “vắng teo”. Cả hai chiều không gian cao, rộng đều vắng lặng hầu như tuyệt đối. “Khách” là người khác, đối lại với chủ. “Khách vắng teo” là biểu trưng cho khung cảnh thanh tao, thoát tục như trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm : “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao”. “Khách vắng teo”chứng tỏ ông câu cá hình như hoàn toàn làm chủ khung cảnh nên thơ, vắng lặng của mình.

Biết bao thời gian đã trôi qua trong cảnh câu ấy ? Có lẽ là rất lâu. Tư thế ngồi của ông câu cũng bất động. Nhưng không hẳn :

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được

Mấy chữ “lâu chẳng được” nói lên rằng không thể ngồi được lâu. Bởi vì :

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Có người hiểu câu kết là : “Cá đâu như đang động dưới chân bèo”. Lại có người hiểu : “Cá đâu có đớp động dưới chân bèo”. Có lẽ cách hiểu đúng hơn là cá đớp động dưới chân bèo làm ông không yên. Tại sao đi câu mà lại không thích cá đớp mồi, chỉ thích được tựa gối ôm cần ngồi thật lâu ?

Nguyên người xưa có kẻ lấy câu cá làm việc đợi thời, đợi người xứng đáng để ra giúp nước, như Lã Vọng đời nhà Chu buông câu bên dòng Vị Thủy, gặp Văn Vương và ra phò tá. Nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường có câu thơ : “Câu người, không câu cá, Bảy mươi gặp Văn Vương” (“Điếu nhân bất điếu ngư, Thất thập đắc Văn Vương”). Đời nhà Hán, Nghiêm Tử Lăng cũng lấy việc đi câu để từ chối việc làm quan với nhà Hán. Nhà thơ Lục Du đời Tống có câu : “Nghiêm Quang câu lười tuy quên hết điều lo nghĩ, Từ bỏ giang sơn mọi sự đều mới mẻ” (Nghiêm Quang điếu lãn tuy vong dạng, Trừ khước giang sơn vạn sự tân). Trong bài thơ Đề canh ẩn đường của Từ Trọng Phủ của Nguyễn Trãi cũng có câu :  “Thương ta lâu nay bị cái mũ nhà nho làm hỏng việc, Vốn ta là người chỉ ưa cày nhàn câu quạnh thôi” (Ta dư cửu bị nho quan ngộ, Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân). Nguyễn Trãi cũng là người thích cày nhàn, câu quạnh.

Vậy là trong văn thơ có truyền thống lấy việc câu cá để từ chối việc làm quan, và coi câu cá là việc “câu người”, “câu quạnh”, “câu lười” để đợi thời. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã lấy cớ  đau mắt bỏ quan về làng năm 49 tuổi, vì không muốn hợp tác với triều đình bất lực, bán nước của nhà Nguyễn.  Nhưng ông cũng không được yên. Đương thời, Vũ Văn Báo, Tổng đốc Nam Định, vâng lệnh Pháp mời ông lại ra làm quan, ông từ chối. Hoàng Cao Khải mời ông làm gia sư, ông miễn cưỡng phải đi, sau giao cho con trai Nguyễn Hoan đi thay. Sau cuộc vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức, ông cũng bị nghi kỵ. Bài Thu điếu này phải chăng cũng thể hiện khát vọng câu thanh, câu vắng cho tâm hồn của một  nhà thơ có phẩm cách, thanh cao và nỗi phiền muộn kín đáo vì không được để yên.

Là nhà thơ Việt Nam, Nguyễn Khuyến câu vắng tại ao nhà. Ao thu của ông mang nhiều nét đẹp nên thơ của làng quê thân thuộc, gần gũi. Nhưng nơi tâm khảm sâu xa, ông  câu trong, câu tĩnh cho tâm hồn, lánh xa cục thế rối ren mà ông tự thấy bất lực.  Hai câu cuối cho thấy niềm thất vọng, bởi ông không “câu vắng” được lâu tại ao nhà.

THU ẨM

Thu ẩm vốn là một hứng thú của nhà thơ xưa và cũng là một đề tài trong văn chương cổ điển.

Trong ba bài thơ về mùa thu của cụ Yên Đổ, bài Thu ẩm có nhiều nét đặc biệt mới mẻ, độc đáo. Nếu hai bài  Thu điếu, Thu vịnh trời trong xanh, cao rộng bao nhiêu thì không gian trong bài Thu ẩm này thấp nhỏ bấy nhiêu :

Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Năm gian nhà tức là nhà tranh năm gian ở thôn quê, có vẻ là nhà to, song gọi là nhà cỏ, gợi một vẻ tuềnh toàng, lại thấp le te thì cảm thấy thấp lắm. Thường hai chữ “le te” chỉ dùng để hình dung túp lều rất thấp và rất bé nhỏ (Từ điển Tiếng Việt, 2000). “Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe” thì cũng không nhìn thấy chiều sâu, chiều xa như “ngõ trúc quanh co”. Lưng giậu có thể chỉ là giậu trước nhà, làn khói nhạt không nhất thiết là “Khói bếp nhà ai thổi cơm chiều” như nhà thơ Xuân Diệu tưởng tượng, mà rất có thể chỉ là sương khuya lởn vởn trông như khói. Bài thơ không có  bầu trời, bởi ánh trăng cũng được nhìn phản chiếu từ dưới ao. Tóm lại, nhà cỏ, ngõ tối, lưng giậu, làn ao cho thấy một tầm nhìn thấp, hẹp và hạn chế. Ánh sáng trong bài cũng hạn chế. Đom đóm lập lòe, thứ ánh sáng đã yếu ớt lại còn lập lòe khi sáng khi tắt. Ánh sáng trăng phản chiếu từ dưới nước cũng theo làn sóng mà khi lóe, khi tắt. “Bóng trăng loe” là bóng trăng lúc đầu chỉ một chấm, sau to ra, tỏa sáng rồi lại tắt, để sau đó lại loe ! Tất cả nói lên một đêm thu khuya vắng, tĩnh mịch. Bài thơ không có một âm thanh nhỏ, dù chỉ là tiếng lá bay “vèo”.

Đó chính là cái không gian mà nhà thơ ngồi một mình uống rượu, độc ẩm, một không gian thuần túy Việt Nam, không có chút đường nét nào của không gian trong thơ cổ hoặc thơ Trung Hoa.

Bài thơ nhan đề là  Thu ẩm mà đã viết đến nửa bài rồi, vẫn chưa thấy rượu đâu. Nó khác hẳn bài Thu điếu, ngay hai câu đề đã có đủ ao thu và thuyền câu. Bài Thu vịnh ngay câu đầu đã thấy “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”. Nguyễn Khuyến là bậc cực sành thơ. Thế mà ở bài này cho đến hai câu 5, 6 vẫn chưa thấy nói về uống rượu :

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe !

Những vấn đề chẳng liên quan gì đến mùa thu, đến rượu cứ day dứt nhà thơ. Tôi không nghĩ đây là bài thơ viết về nhiều thời điểm như nhà thơ Xuân Diệu nghĩ. Thơ trung đại có thể tả cảnh vật bằng cách tổng hợp nhiều thời điểm. Song ở bài thơ này, cái da trời xanh ngắt này không xuất hiện trong cảnh mà xuất hiện trong ý nghĩ. Nó thuộc một không gian khác. Có thể là bầu trời xanh nhà thơ thấy ban ngày bây giờ vẫn còn ám ảnh trong tâm trí. “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”, một câu hỏi nêu ra không phải nhằm để trả lời vào vấn đề. Nó giống như loại câu hỏi : “Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu ?” hoặc  “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non ?”. Có thể xem đó là câu hỏi để bày tỏ sự bất lực trước các hiện tượng thực tế. Đó là  câu hỏi về số phận. Cũng giống như nhận xét trong câu 6 : “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”. Mắt đỏ hoe, có thể do đau mắt, do uống rượu (đối với người có tửu lượng thấp), cũng có thể do khóc nữa !

Mùa thu khí trời se se lạnh, chính là mùa uống rượu. Rượu là chất kích thích làm say người, gây hưng phấn. Người ta uống rượu để hưởng lạc (chả thế mà tửu hay đi với sắc !) để mua vui, tìm cảm hứng, và để giải sầu. Nguyễn Khuyến cũng uống rượu mùa thu như một thói quen – “Rượu tiếng rằng hay” – hay rượu.  Nhưng “Thu ẩm” chỉ là một hư đề, bởi trong bài thơ nhà thơ đâu có chút gì hào hứng trong men rượu ? Một tâm tư sầu nặng day dứt choán hết cả tâm hồn. Cái màu xanh ngắt của trời thu thân thương thế và đẹp thế cũng làm ông xốn xang đến buột ra câu hỏi :  “… ai nhuộm mà xanh ngắt ?”. Câu hỏi không phải để khen, để thưởng thức, cũng như cặp mắt “đỏ hoe”, chẳng phải là tính chất của đôi mắt thông thường, bình thường. Nhẽ ra da trời không nên xanh thế, một màu “xanh ngắt” không hợp thời, cũng như mắt lão cũng chẳng nên “đỏ hoe” như thế ! Cái phong cảnh đêm thu thấp và tối như trên cũng không hề mang hương vị đồng quê, không gợi thú điền viên, không có chút gì thi vị. Bao nhiêu hứng thú của cái cuộc thu ẩm ở đây dường như đã mất hết sạch. Uống rượu bây giờ chỉ là để mà tìm sự nguôi quên :

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy,

Độ năm ba chén đã say nhè.

Vào câu kết, chủ đề thu ẩm mới được nói tới. Thu ẩm đây là độc ẩm. Uống rượu một mình lai rai, người xưa gọi là nhàn ẩm. Đào Uyên Minh xưa thích rượu, uống rượu để lánh đời. Cách uống rượu của ông rất nhàn nhã : nửa bầu rượu, một chiếc đàn, vừa uống vừa chơi đàn. Có rượu ngon thì tối nào cũng uống, uống say say thì làm thơ mua vui. Bạch Cư Dị cuối đời cũng thích nhàn ẩm, tự xưng là “Túy ngâm tiên sinh”. Cái thú nhàn ẩm là chỉ uống ngà ngà, vừa say vừa tỉnh. Thiệu Ung đời Tống có câu thơ : “Rượu ngon nên uống vừa chếch choáng, Hoa đẹp nhìn thành hoa bán khai”. Ông Nguyễn Quỳ Sinh đời Thanh trong sách Trà dư khách thoại viết : “Khi uống ngà ngà, sắp say mà chưa say, trong người khoan khoái dễ chịu, như gặp hòa khí gió xuân, đó mới thật là chân thú. Nếu uống rượu cho say bét nhè, không còn biết gì nữa, thì còn gì là thú ?”.

Xem thế thì Nguyễn Khuyến độc ẩm mà không có nhàn ẩm. Hai câu cuối cho thấy đến lúc này nhà thơ vẫn chưa uống rượu. Nếu đã uống, ông sẽ viết : “Mới năm ba chén đã say nhè”. “Độ năm ba chén” là sự  ước lượng về tửu lượng. Nếu muốn say nhè thì chỉ năm ba chén, cái thứ chén hạt mít như ta thấy Nguyễn Khuyến cầm trong bức ảnh. Chưa uống nhưng ông đã nghĩ đến sự say, một cái say làm quên mọi bức xúc trong lòng.

Thu ẩm của Nguyễn Khuyến là bài thơ chan chứa ưu tư sầu khổ, không hề là bài thơ về thú uống rượu mùa thu.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?