THÚ CHƠI SÁCH CỦA HOÀNG TỘC NHÀ NGUYỄN

THÚ CHƠI SÁCH CỦA HOÀNG TỘC NHÀ NGUYỄN

  • Thay lời giới thiệu bản Kim Vân Kiều tân truyện hội bản lưu ở thư viện London Anh quốc được in lại ở Việt Nam
    Trần Đình Sử Bản Truyện Kiều lưu ở thư viện London nước Anh đã được nhiều người biết và đưa tin từ lâu. Nhưng nhiều người vẫn chưa thấy mặt. Mãi đến năm 2017 ông Nguyễn Khắc Bảo có cơ duyên nhận được bản chụp và đem phục in rất công phu, nhưng do in ảnh, chữ bị co ngắn lại, tranh bị mờ rất đang tiếc. Gần đây ông Dương Trung Dũng lại có được bản chụp nguyên khổ, ông lại có nhã ý phục chế để tranh được rõ hơn, nhưng lại không phải nguyên tác, bản nguyên văn chữ Hán Nôm và bản dịch in thành sách riêng, khó cho sự đối chiếu, lại cũng có chỗ tiếc. Nhưng các bản đó đem in rộng rãi cho bạn đọc thưởng lãm là một việc rất đáng quý.
    Tôi đọc bản Kim Vân Kiều tân truyện hội bản (bản tranh vẽ) này có cảm xúc rất lạ. Người Việt ta yêu quý và lưu giữ Truyện Kiều của Nguyễn Du đã lâu đời, song làm một quyển sách đẹp để chơi thì thật hiếm có. Trước đây từng đã có quyển Truyện Kiều viết bằng chữ quốc ngữ viết tay khổ lớn trên nền giấy in chìm màu vàng, cũng là quyển để chơi. Gần đây Nxb Thế giới và cty Mai Hà Books lại in khổ lớn, trên giấy vẽ rồng in chìm mau vàng, kèm các phụ bản của họa sĩ nổi tiếng, cũng là sách để chơi. Tôi cho rằng quyển sách hội bản này cũng được soạn để chơi trong cung đình. Tôi suy luận thế là vì mấy lẽ sau:
    Thứ nhất, thấy sách làm rất kì công. Bìa trước sau đều vẽ rồng năm móng, màu vàng, theo ông Bảo, là dấu hiệu của hoàng triều, bìa lót đầu và cuối sách đều màu đỏ sậm, tranh rồng mây màu vàng in chìm. Đây là sách làm thủ công độc bản không thể có hai. Nhà thường dân không mấy ai có điều kiện để làm công phu sang trọng như vậy.
    Thứ hai, sách chủ yếu vẽ tranh toàn bộ Truyện Kiều. Sách thông thường chỉ vẽ minh họa một vài cảnh, còn đây vẽ đầy đủ mọi sự kiện chi tiết của truyện, gần như một bộ tranh liên hoàn (truyện tranh). Người đọc có thể chỉ xem tranh với lời chỉ dẫn cũng nắm được truyện.
    Thứ ba, toàn truyện bị ngắt ra làm 143 đoạn dài ngắn khác nhau, có nội dung độc lập hoàn chỉnh ứng với nội dung một tranh. Như thế người đọc có thể không cần đọc liên tục, mà có thể mỗi lần đọc một vài đoạn, vài tranh, nhẫn nha vừa chơi vừa đọc. Người biết chữ thì không phải nói, mà người chưa biết chữ vẫn cứ thưởng lãm như thường.
    Thứ tư, xét về đoạn văn, 143 đoạn văn được ngắt ra cho thấy nghệ thuật viết truyện khúc chiết của Nguyễn Du, đoạn nào hoàn chỉnh đoạn ấy. Trước đây một số nhà nghiên cứu Truyện Kiều phân chia bố cục Truyênk Kiều làm 8 đoạn, khiến ác học giả phương Tây và Trung Quốc lầm tưởng Truyện Kiều có tám chương, không phản ánh được nghệ thuật viết truyện của tác giả. Cách chia 143 đoạn này lại cho thấy cách kể chuyện lớp lang của Nguyễn Du. Mỗi đoạn có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn.
    Thứ năm, xem quy cách biên soạn, đọc phần văn bản mỗi trang đập vào mắt là tính chất Hán Việt hỗn hợp. Đọc từ phải sang trái, ta thấy trước tiên là nhan đề đoạn bằng chữ Hán, lời tóm tắt nội dung đoạn bằng chữ Nôm, nguyên văn đoạn Truyện Kiều bằng chữ Nôm và những lời chú thích bằng chữ Hán. 143 trang, trang nào cũng thế. Các thứ chữ hỗn hợp với nhau có giá trị ngang nhau, không có chữ nào hơn kém. Ví dụ đoạn mở đầu 8 dòng, nhan đề là “Diễn Thúy Kiều tổng mạo”, lời tóm tắt bằng chữ Nôm là “Đây là Tổng mạo trong Truyện Thúy Kiều mà đắp ở trên quyển truyện để cho người ta dễ biết.” Tiếp đến là 8 dòng đầu tiên của truyện bằng chữ Nôm, và theo sau là 13 dòng chú thích bằng chữ Hán. Vì sao lại sử dụng hỗn hợp như thế, lí do có thể có một số nguyên nhân: hoặc ở đây không có ý thức phân biệt Nôm Hán, không xem Hán văn là ngôn ngữ ngoại lai, mà xem là chữ nho ta. Hoặc là do chưa quen dùng tiếng Nôm để đặt nhan đề khái quát như tiếng Hán, hoặc chưa quen dùng tiếng Nôm để viết câu văn xuôi giải thích các điển cố, cho nên phải dùng chữ Hán. Vì thế cho nên tỉ lệ lời văn Nôm của người biên soạn là rất thấp. Xét các tiểu đề chữ Hán nhiều chỗ không hay, mà xét các dòng chữ Nom văn cũng luộm thuộm.
    Thứ sáu, Xét các bức tranh, có thể nhận thấy một số đặc điểm sau đây. Chúng ta biết, các văn thi sĩ Việt Nam không thấy có truyền thống vẽ tranh đề thơ như người Trung Quốc. Cho nên muốn làm cuốn sách này bắt buộc phải cậy thợ vẽ. Thợ vẽ triều Nguyễn Không thiếu, họ chỉ là thợ, cho nên nói chung không đề tên. Tranh vẽ theo lối vẽ bạch miêu, chỉ dùng nét để tả vật, không vẽ bóng. Cách vẽ tả ý không theo chặt chẽ luật viễn cận. Các cảnh khác biệt về thời gian được không gian hóa, xếp nằm kề bên nhau. Có lúc thuyền xa vẽ bé lại, nhưng có khi nhà cửa xa vẽ to như ở gần. Cảnh trước cảnh sau về thời gian được vẽ như là đồng thời. (Ví như tranh 12 a, cảnh cha mẹ đi ăn sinh nhật nhà ngoại, cùng xuất hiện trên một bức tranh với cảnh Kiều sang nhà Kim Trọng). Cách vẽ núi, vẽ nước, mây, đất, đá, cây cỏ, đồ vật, nhà cửa, vẽ người, áo quần…về cơ bản giống với các tranh Trung Quốc. Nhà cửa vẽ theo ý niệm, không theo lối tả thực. Tuy nhiên một số chi tiết lại là của người Việt Nam, ví như bức mành mành treo trước mái hiên nhà (tranh ghi ở trang 7a, b), lúc cuốn, lúc buông. Cổng nhà có mái che. Một số chi tiết chứng tỏ tác giả tranh chưa biết phong tục Trung Quốc, ví như vẽ cái xe chở cô dâu không đúng, giống như xe kéo tay. Xe như thế thì không thể “Một xe trong cõi hồng trần như bay” từ Bắc Kinh đến Lâm Tri được. Thực ra phải là xe ngựa kéo, thùng xe bịt kín mới đi xa được. Mùa xuân ở phương Bắc hãy còn rất lạnh, xe như thế thì không chịu nổi. Có phần chắc là người vẽ không phải thợ Trung Quốc. Nhà ở, phòng ốc được vẽ thoáng, rộng, nhiều cửa, các mái nhà và bức tường mỏng manh như nhà xứ nhiệt đới. Bức tường ngăn nhà Kiều và nhà trọ của Kim Trọng quá thấp. Họa sĩ phải tưởng tượng nhiều để vẽ. Trừ bức tranh bìa vẽ ba chị em nhà Kiều, bức tranh thứ hai ứng với Lời dẫn là hình tác giả Nguyễn Du, bức cuối vẽ những người đọc ứng với đoạn kết, còn lại 143 bức vẽ 143 cảnh trong truyện. Tác giả ở trước và người đọc ở sau ôm lấy tác phẩm. Nó thể hiện một quan niệm khá hiện đại là tác giả-tác phẩm và người đọc không tách rời. Tác giả thể hiện ở văn bản, còn người đọc thể hiện ở phần phân đoạn, chú giải. Đáng chú ý nhất là hình tượng tác giả Nguyễn Du ở trang đầu, ứng với phần Tiểu dẫn. Đây có thể là hình ảnh mà mọi người đọc trông đợi. Tiếc là lịch sử không để lại một hình ảnh vẽ hay chụp của Nguyễn Du nào cả. Có tranh vẽ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, tranh truyền thần của Phan Huy Ích ở nhà thờ của ông, Thế mà Nguyễn Du không để lại gì, có lẽ bởi nhà ông rất nghèo, con cái cũng không thấy thành đạt, không có người hương khói chu đáo. Ở đây ta thấy hình ảnh một người thường, không phải ông quan mũ cao áo rộng. Đây là một nhà nho đầu đội khăn đóng, áo dài, râu ba chòm, khuôn mặt đôn hậu, mắt đăm chiêu như đang tìm tứ và câu chữ. Người vẽ tranh cách thời Nguyễn Du đã hơn 70 năm, nhưng ở trong triều, chắc cũng biết đôi điều về tác giả Truyện Kiều, liệu bức tranh có thông tin gì về tác giả thực hay không? Có lẽ chỉ là hình vẽ chung chung, không phải chân dung của Nguyễn Du. Cái bình phong sang trọng sau lưng nhà thơ có lẽ là chỉ vẽ trang trí. Bức tranh người đọc ở cuối sách, hai người nam, người nữ đi guốc cong, ngồi tách bạch. Hai người nam, một người cầm sách cuộn lại, đang đọc, đưa mắt thăm dò ý tứ người bạn, còn người kia, một tay chống cằm, một tay để duỗi trên bàn, như đang suy ngẫm về ý nghĩa của truyện. Người thiếu nữ tay cầm quạt mắt cũng đăm chiêu. Cả bức tranh khắc họa rất khéo tác động và sức rung cảm của Truyện Kiều đối với người đọc. Các bức tranh vẽ Kiều sau này, phần nhiều đều vẽ các nhân vật, chưa thấy ai vẽ về người đọc Kiều cả. Thật là một sáng tạo. Bí ẩn hơn cả là bức tranh về Thúy Kiều ở đoạn “Diễn Thúy Kiều tổng mạo”, nhà cửa, giường nằm, bàn viết có nghiên mực, có chồng sách, và xa xa có nấm mồ của Đạm Tiên, xa hơn là biển nước với những chiếc thuyền có buồm, bầu trời mây, trăng, ở cùng trong một vũ trụ. Nhưng cả trong nhà lẫn ngoài nội, dưới bàn, dưới giường đều để cỏ mọc lan ra như thể nhà vô chủ, con người như ở dưới gầm trời, nó cho thấy tự nhiên là vĩnh cữu, mà con người chỉ là tạm bợ. Và Kiều một tay cầm bút, một tay đỡ hờ chiếc nôi, trong đó có một trẻ hài nhi còn nằm ngửa. Mọi người đều biết Kiều không có con, vậy trẻ hài nhi đây có ý nghĩa gì? Phải chăng người vẽ muốn nói đó là kiếp sau, mà nàng phải tu thân thì mới mong nó thành người thoát khỏi định mệnh trớ trêu, tạo vật đố tài? Như vậy các bức tranh gợi mở những điều thú vị.
    Thứ bảy, Xét ở lịch sử văn bản, bản này có thể không có giá trị như nhiều bản khác bởi thời điểm chép tay của nó là 1894. Đây là bản chép tay của hoàng gia triều Nguyễn, theo ý kiến nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo, có thể được soạn theo bản cổ đời Tự Đức (1947-1883), thuộc vào hệ bản kinh cùng với các bản chép tay của Nguyễn Hữu Lập (1870), bản của Kiều Oánh Mậu (1902), rồi các bản này ảnh hưởng đến các bản Bùi Kỉ, Trần Trọng Kim (1925), bản của Thạch Giang (những năm 60), Đào Duy Anh (những năm 70) sau này. Bên cạnh đó là các bản phường với bản Liễu Văn Đường (1871), Duy Minh Thị (1872)…Nhưng bản này không có tên người chép tay, cũng không có tên người họa sĩ vẽ tranh, không ghi thời điểm làm sách. Tuy suy đoán là bản của hoàng gia, lại có ghi chú năm 1894 của ai đó bằng bút mực ở lề trên, tức đời vua Thành Thái, cùng thời với bản của Kiều Oánh Mậu. Đó không phải là niên đại của văn bản. Do vì thế mà theo tôi, lại có chỗ giống và không giống với bản kinh đời Tự Đức. Bản đời Tự Đức do Nguyễn Hữu Lập chép năm 1870, bản chép tay Tăng Hữu ứng năm 1874 và bản chép tay Đào Nguyên Phổ mang về cho Kiều Oánh Mậu 1902 đều ghi tên là “Đoạn trường tân thanh”, còn bản này lại tự gọi là Kim Vân Kiều tân truyện, giống như cách gọi tên của bản phường, và số câu cũng giống bản phường, 2354 câu, giống với các bản khắc ván đời Tự Đức. Bản Kinh chép tay đời Tự Đức nhiều hơn 4 câu, 3258 câu. Vậy bản này tuy của hoàng gia, mà lại giống với bản phường, có thể không bị vua quan Tự Đức sửa chữa. Lại nữa, bản Kiều này không kị húy tên của Tự Đức, các chữ Thì, chữ Nhậm vẫn viết bình thường như bản Kiều Oánh Mậu, chứng tỏ được chép vào triều đại sau, đời Thanh Thái (1889- 1907). Nhìn chung nó không có giá trị đặc biệt đối với nghiên cứu văn bản Truyện Kiều như các bản Liễu Văn Đường, Duy Minh Thị, cũng như các bản chép tay đời Tự Đức. Nhưng là bản được trình bày mĩ thuật hiếm có, thể hiện thị hiếu chơi sách của các vị hoàng gia, yêu thích sách đẹp, trang nhã, cầu kì, quý phái.
    Thứ tám, đọc những dòng chú thích, chú giải thì thấy có nhiều vấn đề. Chú thích Truyện Kiều có lẽ bắt đầu từ bản Kiều quốc ngữ của Trương Vình Ký năm 1875. Họ Trương là người Tây học, là nhà bác học, đã biết chú thích kiểu Tây là thế nào, giải quyết vấn đề gì, cho nên chú thích của ông khá bổ ích. Đoạn trường tân thanh của Kiều Oánh Mậu có 581 chú thích. Có lẽ do thiếu quan niệm chú thích là thế nào, các chú thích phần nhiều đều dư thừa, có chỗ không không phù hợp, khoe chữ, nói chung không bổ ích gì nhiều. Bản Kim Vân Kiều tân truyện hội bản lưu ở thư viện Anh quốc này có 697 chú thích. Các nhà chú thích Hán học phần nhiều có lẽ muốn chỉ ra nguồn gốc của hình ảnh, từ ngữ của Nguyễn Du theo quan niệm của Hoàng Đình Kiên đời Tống, theo Đỗ Phủ, Hàn Dũ, làm thơ làm văn không chữ nào không có lai lịch (vô nhất tự vô lai lịch). Vậy muốn chứng minh Truyện Kiều văn hay như họ Đỗ họ Hàn thì phải chỉ ra lai lịch các chữ của chúng. Thế là các nhà chú thích thi nhau đi tìm lai lịch. Ai nhớ có câu thơ, văn nào hao hao thì chép ra, không tính có thích hợp và có xác đáng hay không. Vì thế mà chữ nào cũng chú. Cách làm đó làm giảm sút giá trị sáng tạo của Truyện Kiều, làm nát Truyện Kiều. Truyện Kiều viết bằng tiếng Việt, không thể chữ nào cũng có lai lịch Hán, cho nên trở thành suy diễn. Ngay dùng chữ Hán thì cũng như nhà văn Hán, từ ngữ là của chung, việc gì phải mượn của ai. Vì thế phần lớn chú thích không thật sự cần thiết hoặc sai nghĩa. Ví dụ, 8 câu đầu, có 8 chú thích, thì đều không ổn. Chú “trăm năm” thì dẫn tích Trang Tử là lặp ý. Chú “Chữ tài chữ mệnh ghét nhau” thì dẫn câu “Đa tình tự tích chiêu đa đố”, không nói được cái ý về định mệnh. Chú chữ “bể dâu” mà dẫn Thiệu Ung đời Tống thế kỉ XI thì không nói được gốc tích của chữ này. Chú cái ý “đau đớn lòng” bằng dẫn câu Tống thư cũng lặp ý, thừa. Chú cái ý “bỉ sắc thử phong” bằng câu “Trời có đầy vơi, người có phong sắc” thì lại lặp lại ý, chứ không làm sáng tỏ ý. Chú cái ý “trời xanh đánh ghen” bằng câu “Thiên địa phong trần hồng nhan đa truân” là vô nghĩa, vì đây chẳng có thiên địa phong trần nào cả. Câu “Cảo thơm lần dở trước đèn” vốn không cần chú mà lại dẫn câu “hoàng quyển thanh đăng” cũng là trùng lặp ý. “Phong tình có lục” mà chú “Minh sử đã chép rõ ràng”, thực là nói theo nhà tiểu thuyết mà không có căn cứ. Việc giới thiệu Vương ông có ba con, lại chú chuyện Vương bà đi bói là không cần thiết. Chú “tóc mây” bằng câu trong Kinh Thi không hợp, chú “tuyết nhường màu da” bằng câu phú của Tống Ngọc cũng thừa. Chú “làn thu thủy, nét xuân sơn” bằng câu “Thu thủy vi thần, xuân sơn như tiếu” không rõ nghĩa như chú của các bản khác. Xét thế thì thấy phần chú thích nhìn chung ít hoặc không có giá trị. Nó phản ánh trình độ của người chú tương tự như mấy cụ đồ giảng nghĩa cho học trò ở trường làng, chắc cũng một kiểu như thế, có phần dễ dãi, không thấy suy nghĩ thấu đáo. Cách chú thích ở đây có phần non kém hơn chú thích của ông phó bảng Kiều Oánh Mậu, mà chú của ông Mậu cũng có rất nhiều cái thừa. Phải chăng vì thế mà sách không ghi tên người chú thích ? Tuy vậy bất luận thế nào, tình trạng chú thích như vậy có thể coi như thông lệ của một thời. Chúng ta sẽ không chê bai, xem thường người chú ở đây, mà từ đây có thể kiến tạo lại tâm thế người đọc thời ấy. Tìm cái “tầm đón nhận” của người đọc thời ấy. Đó là người đọc chưa có ý thức phân biệt văn chương Việt và văn chương Hán, mà là văn chương Hán Việt hỗn hợp. Mỗi khi đọc một câu văn Việt, họ liền liên tưởng tới một câu văn, thơ Hán, tìm thấy sự tương tự là có thú vui. Đọc để biết trình độ chú thích một thời cũng vui.
    Tóm lại, đây là bản Kiều tuy không có tên người biên soạn, người vẽ tranh nhưng đã biên soạn công phu, mĩ thuật, đáp ứng nhu cầu chơi sánh của người trong hoàng tộc. Cầm một quyển sách như thế lên tay ta có thể cảm thấy được niềm say mê, trân trọng của cổ nhân đối với một tác phẩm kinh điển của dân tộc.
    Chúng tôi rất trân trọng bản sách của ông Dương Trung Dũng chế tác lại, xin vui mừng giới thiệu để đọc giả cùng đọc.
    Hà Nội, 22- 4- 2022.
Advertisement

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s