VĂN HỌC KHÁI LUẬN CỦA ĐẶNG THAI MAI –

CHỖ MẠNH VÀ CHỖ YẾU

Trần Đình Sử

Công cuộc hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX tiến hành một cách toàn diện: từ sáng tác thơ văn cho đến phê bình, lý luận. Trong quá trình đó, sau một số sách về thể loại văn học, phê bình văn học, sau một số bài viết có tính chất bút chiến, thì cuốn Văn học khái luận của Đặng Thai Mai xuất hiện như một sự tổng kết, một sự tiếp tục luận chiến toàn diện trên nhiều vấn đề, tạo thành công trình lý luận văn học hiện đại đầu tiên, có hệ thống của lý luận văn học mác xít Việt Nam. Cuốn sách đã để lại những vấn đề đã giải quyết hoặc chưa giải quyết, vẫn đánh dấu một cột mốc trên tiến trình lịch sử lý luận văn học Việt Nam.

Thực vậy, so với những lý luận của Hải Triều, bước đầu vận dụng duy vật sử quan vào các vấn đề văn học, thì cuốn Văn học khái luận này là một bước tiến rõ rệt. Tác giả đã có cả một hệ thống vấn đề, vận dụng một khối lượng tri thức khá uyên bác và trình bày chặt chẽ. Cuốn sách gồm 7 chương, nêu lên những vấn đề cơ bản: định nghĩa văn học, văn học là một biểu hiện của hình thái ý thức xã hội, tính giai cấp (ông gọi là giai tầng) của văn học, luật tiến hoá và tính kế thừa (ông gọi là luật tiếp tục), chủ nghĩa hiện thực (tả chân), nhân cách nhà văn, nội dung và hình thức, điển hình và cá tính, tự do trong văn nghệ, tính dân tộc (tính quốc gia) và tính quốc tế. Ông đã trình bày khá rành mạch và uyển chuyển các vấn đề trên theo quan điểm mác xít đương thời, đã vận dụng các ý kiến của các tác giả nổi tiếng như Taine, Plêkhanốp, Mao Thuẫn, Chu Dương và nhiều nhà văn hoá khác, ông đã tranh biện lại với ý kiến của Tolstoi

, Baldensperger, Lưu Trọng Lư, Lan Khai, Hồ Phong, Hồ Hoài Thám. Ông chứng tỏ mình là một nhà lý luận văn học có bản lĩnh, có tư tưởng nhất quán, nhiều quan điểm của ông sẽ còn nhắc lại sau này trong cuộc tranh luận văn nghệ Việt Bắc năm 1948 hay trong cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn Giai phẩm năm 1957. Ông đã thể hiện chỗ mạnh và chỗ yếu của lý luận văn học một thời.

Ngày nay đọc lại vẫn còn nhiều vấn đề như đang gây tranh luận: bởi lý luận của ông thuộc dạng lý luận của một thời, khi lý luận mác xít đang bước đầu xây dựng. Đặt trong bối cảnh lúc ấy, khi các giáo trình lý luận văn học của Liên Xô như Timôphêép, Poxpêlốp mới định hình từ đầu những năm bốn mươi, các sách khái luận văn học của Ba Nhân, Lưu Diễn Văn ở Trung Quốc ra đời sau năm 1949, cuốn sách của Đặng Thai Mai cũng chưa thấy hơi hướng của cuộc toạ đàm văn nghệ Diên An, thì sự xuất hiện một cuốn sách như thế là rất bạo dạn.

Điều đáng chú ý thứ nhất là cuốn sách khẳng định ý nghĩa, vai trò của lý luận đối với văn học. Trước đó, phản ứng lại với những thứ lý luận thô sơ, Hoài Thanh đã hạ bệ lý luận một cách tàn nhẫn: “Lý thuyết về văn chương chẳng có nghĩa gì, chẳng ăn thua gì”, “Một trăm pho sách nói về lý thuyết văn chương chẳng có thể giúp người ta sáng tạo ra được một tác phẩm văn chương có giá trị”(1). Quan điểm này cũng phản ánh nhận thức chung của nhiều người. Đặng Thai Mai đã tổng kết: “Phần đông các nhà văn xứ ta vẫn ngộ nhận rằng lý luận văn nghệ chẳng ích gì. Trong một xã hội lạc hậu từ kinh tế cho đến trí thức thì lẽ cố nhiên vấn đề ấy chỉ là một xa xỉ phẩm của trí thức ít ai quan tâm đến”. Nhưng về lý luận, Đặng Thai Mai đã chỉ ra: “Hoàn toàn ỷ thị vào trực cảm, vào bản năng là một thái độ kiêu căng, điên rồ và nguy hiểm”, “Một nền văn nghệ sung túc, mĩ lệ bao giờ cũng phát triển trên một cơ sở lý luận vững chắc”. Đó là một ý kiến đúng đắn và sắc bén. Nhưng một vấn đề khác quan trọng không kém là lý luận như thế nào? Lý luận đúng đắn, toàn diện có tác dụng thúc đẩy văn nghệ, lý luận hạn chế sẽ phần nào kìm hãm văn nghệ.

Điều đáng chú ý thứ hai là Đặng Thai Mai, tiếp nối các ông theo phái Hải Triều, xây dựng lý luận xem văn học là “một biểu hiện của các hình thái ý thức xã hội”, “xây dựng trên nền tảng sinh hoạt kinh tế xã hội”, “có sứ mạng bồi bổ cải tạo sinh hoạt về mặt tinh thần và cả mặt vật chất nữa”, văn học “luôn luôn diễn tiến theo phạm vi giai tầng, từ hữu qua tả, từ tư tưởng phong kiến đến ý thức hệ tư sản để mà xã hội chủ nghĩa hoá”. “Lĩnh hội luật tiến hoá của xã hội tức là nhận rõ sứ mạng ngòi bút phải viết cho một giai tầng nào”, tạo thành “nguyên tắc viết cho một giai tầng” của văn học. Từ lý luận đó ông khẳng định: “Trong giai đoạn ngày nay, phương pháp sáng tác cần phải đem nghệ thuật xã hội hiện thực chủ nghĩa mà đánh đổ văn học duy tâm và nghệ thuật lãng mạn, và một mặt nữa, phải đánh đổ những tư tưởng đã nhận xét xã hội một cách quá đơn giản theo quan điểm cơ giới”. Rõ ràng lý luận của Đặng Thai Mai đã góp phần khẳng định đắc lực cho đường lối văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam từ Đề cương văn hoá năm 1943 cho đến mãi sau này; góp phần xây dựng nền văn nghệ cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên ở đây không thể không nhận thấy nhược điểm trong lý luận của ông. Nhấn mạnh “sứ mệnh phục vụ giai tầng”(tức là giai cấp – TĐS), ông không thấy tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại  của văn nghệ. Nhấn mạnh tính chất ý thức hệ, ông không thấy nội dung đặc thù của văn học. Ông viết: “Văn học có khác triết học và khoa học thì cũng không phải là từ trong nội dung; chỗ phân biệt chỉ ở trong hình thức và lĩnh vực mỗi bộ môn khoa học mà thôi”(1). Cũng nên nói thêm là ông hiểu văn học rất rộng, ngoài thơ ca, tiểu thuyết, còn bao gồm cả văn hùng biện, văn học chính trị, triết học, văn khoa học. Và với quan niệm đó ông cũng xem nhẹ vai trò sáng tạo và hình thức của văn học. Ông viết: “Trong công cuộc tu dưỡng về văn học, sống, quan sát, lĩnh hội là bước đầu (có nghĩa là hàng đầu – T.Đ.S), là vấn đề chính của văn nghệ; kỹ xảo là vấn đề phụ”. Một chỗ khác ông viết: “Ta cũng không nên hoàn toàn phủ nhận cái giá trị của hình thức (tr.182) nghĩa là phủ nhận so với nội dung. Sau này ông vẫn nhắc lại tư tưởng đó: “Căn bản vẫn là vấn đề lập trường”, “cần phải tu dưỡng văn học về phần chính trị”. Tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu rộng và rõ ràng là phiến diện và giáo điều. Nhược điểm trên đây dẫu rằng có cội nguồn từ Biêlinxki, Plêkhanốp, thì nó cũng đánh dấu cái trình độ lý luận văn học mác xít ở giai đoạn mà cuốn sách thuộc vào. Những người nhấn mạnh vào “văn nghệ vị nhân sinh” trên thế giới xưa nay đều coi nhẹ hình thức và đặc trưng văn nghệ như vậy. Nhưng thử hỏi văn nghệ mà không có hình thức thì có thành văn nghệ không?

Điều thứ ba, tuy dành cả nhiệt tình hướng tới văn nghệ thời đại mới và coi trọng luật tiếp tục (tức là kế thừa – TĐS) của văn học, nhưng tác giả Văn học khái luận đã đánh giá rất thấp các thành tựu văn nghệ nước nhà lúc ấy. Về nội dung ông nhận định văn học truyền thống là phong kiến, và văn học mới chỉ là văn học thị dân, tiểu tư sản, còn về hình thức thì “nền văn nghệ nước ta chưa đến trình độ thành thục và còn cần phải thống nhất. Văn học nước ta ngày nay còn thiếu những thiên văn chương điển hình có đủ sinh khí để cảm động người đọc, nghĩa là vừa mô tả được cá tính, được ý thức cá nhân lại vừa có những tia hồi quang rõ rệt về bản chất của xã hội” (Sđd, tr.189). So sánh với các thành tựu rực rỡ của văn học giai đoạn này ta không thể không nói rằng nhà lý luận của chúng ta đã xa rời thực tế văn học dân tộc và đánh giá sai căn bản.

Điều thứ tư, điều cổ vũ nhất khi đọc lại tác phẩm này là Đặng Thai Mai đề cao vai trò chủ thể, vai trò nhân cách của nhà văn đối với sáng tạo văn nghệ. Ông viết: “Nếu khối óc nhà văn không có những luồng sóng bất bình, nếu như tâm hồn kẻ cầm bút không cảm thấy những nỗi đau đớn, thiếu thốn của kiếp người; những điều mong mỏi thiết tha của thời đại, nếu không lĩnh hội được tính cách luôn luôn biến thiên của thế giới, của nhân sinh, nếu như đối với hiện tại, với tương lai, không có một yêu cầu, một hy vọng tin tưởng gì, thì cái thứ văn mơn trớn béo tốt như đầy thịt, trơn như tảng trán hói của nhà trưởng giả, cũng chỉ là một “văn chơi” mà thôi, chả có ý nghĩa gì là văn học!”. Một chỗ khác ông viết: “Một trường hợp đáng sợ hơn là nhà văn không có nhân cách xứng đáng với nghề nghiệp của mình. Trên văn đàn cũng như trên trường chính trị ta vẫn thấy những hạng người không có một tý cốt cách, những nhà văn sĩ “bò sát” chỉ ton hót một hạng thống trị, hoặc là a dua theo thời thượng. Trong lúc họ hy sinh bản ngã để chuốc lấy những danh giá lợi lộc nhất thời cố nhiên là họ chỉ có thể viết được những áng văn công thức mà thôi. Một nghệ sĩ không bao giờ đem nghẹ thuật phụng sự một thế lực không chính đáng; và cũng không bao giờ hy sinh tràng kỳ (durée) cho hiện tại” (Sđd, tr.166). Câu này đúng cả ngày nay và vĩnh viễn.

Điều thứ năm, đáng cho ta khâm phục là trong cuốn sách của mình Đặng Thai Mai đã giải quyết khá trọn vẹn vấn đề mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Ông phân biệt tính dân tộc và tính nòi giống mà nhiều người lúc ấy nhầm lẫn; ông cũng phê phán quan niệm về một tính cách Việt Nam thuần tuý, hoàn toàn. Ông nói: “Nếu chủ trì (tức chủ trương – T.Đ.S) rằng dân tộc tính thì phải cự tuyệt quốc tế tính thì lại là một quan điểm sai lầm. Và nếu như cho rằng một nền văn học thế giới trước hết cũng phải biểu hiện dân tộc tính, rồi mới có ngày biểu hiện được quốc tế tính thì lại là một sự hội ngộ về văn học, về lịch sử” (tr.250). Ông cho rằng vay mượn, bắt chước mà sáng tạo được cái mới vẫn rất hay. Đặng Thai Mai tràn trề lạc quan đối với xã hội mới. Ông viết: “Một cuộc đời quốc gia sắp đổ sụp cũng vẫn là một cuộc đời sắp đổi mới” (tr.256). Ông dự báo: “Thời kỳ này không phải là một thời kỳ “anh hùng ca”, và thơ trữ tình lối cổ xưa, và thơ anh hùng ca sẽ có một nội dung khác hẳn” (tr.259). “Ta không bao giờ khinh rẻ năng lực và giá trị của ta, nhưng ta cũng không ngần ngại gì mà không đón lấy những luồng sinh khí ở ngoài khơi thổi tới”.

Tóm lại lý luận văn học của Đặng Thai Mai qua Văn học khái luận, dù còn những chỗ chưa thấu đáo, non yếu, vẫn là lý luận văn học của một lực lượng cách mạng đang lên, của một dân tộc đang đến gần một vận hội mới. Nó đầy sức sống và lòng tự tin, có ý nghĩa thực tiễn, đặt nền móng cho một giai đoạn văn học. Như Đặng Thai Mai đã tranh luận, phê phán những người đương thời để xây dựng lý luận của mình, chúng ta ngày nay cũng cần nhận rõ chỗ ưu, chỗ nhược của ông để mà đi tới, đặng xây dựng nền lý luận văn học Việt Nam trong thời kỳ mới./.

                                                     Tháng 12-2002

                               Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đặng Thai Mai

                                     Tạp chí Văn học, số 2, tháng 2-2003


(1) Lời nói đầu cuốn Văn chương và hành động. Hoài Thanh – Lê Tràng Kiều – Lưu Trọng Lư, 1936.

(1) Đặng Thai Mai, Toàn tập, tập, Sđd, tr.102.

Advertisement

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s