NGHĨ VỀ LỊCH SỬ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIÊT NAM HIỆN ĐẠI

Lịch sử phê bình không thể giản đơn là hàng bia Quốc tử giám hay gác khói Kì Lân  để ghi tên biểu dương các công thần trong lịch sử. Lịch sử phải là một hình thức phản tư, một phương pháp để nhìn lại lĩnh vực hoạt động của mình. Lịch sử phê bình chỉ xuất hiện khi ta nhìn nó theo một tiến trình thay đổi của các hệ hình tư tưởng văn học và sự vận động của nhà phê bình trong cuộc biến động đó. Nhưng khác với quan niệm chỉ nhìn hiện tượng từ ngữ cảnh phát sinh của nó, chúng tôi cho rằng muốn nhìn thấy quá trình ấy thì ngoài điểm nhìn nói trên, còn phải đứng ở thời điểm phát triển cao nhất của quá trình lịch sử để nhìn lại. Thời điểm hôm nay, khi văn học Việt Nam đã ở vào những năm 20 của thế kỉ XXI, thoát khỏi cái khung chính trị hóa, thoát khỏi các ràng buộc về phương pháp sáng tác, sáng tạo điển hình, phục vụ phong trào, có điều kiện tiếp nhận các tư tưởng lí thuyết khác nhau, đứng trước viễn cảnh hội nhập quốc tế, chính là thời điểm tốt nhất để  nhìn lại toàn bộ quá trình đó. Điều này cũng có nghĩa là chúng tôi đứng ỏ điểm mở nút của cốt truyện để kể lại toàn bộ câu chuyện của phê bình với các nhân vật đủ loại của nó.

       Tiến trình đổi thay của các hệ hình tri thức có tính nguyên tắc (episteme) làm nền tảng cho các hoạt động sáng tác và đánh giá. Khi một hệ tri thức mới lên ngôi, nó là quyền lực của chân lí, tri thức cũ bị tuyên bố là vô hiệu, thậm chí là phản động. Hệ hình nào cũng khó tránh có điểm mù trong nhận thức. Chúng ta đã lần lượt vượt qua hệ hình cổ điển với các tư tưởng nho giáo về văn học là chủ yếu hồi đầu thế kỉ, vượt qua chủ nghĩa cá nhân với kiểu phê bình ấn tượng là chủ yếu trước năm 1945. Chúng ta cũng đã đấu tranh, phấn đấu với nhiều mất mát để tạo dựng một hệ thống lí luận được coi là tiên tiến nhất thế giới trong 30 năm ròng chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhưng rồi ta cũng vượt qua quan niệm văn học chính trị  hóa một thời từ sau cách mạng tháng Tám đến 1975 với cả một hệ thống khuôn mẫu lí thuyết công thức, giáo điều trói buộc văn học. Đến sau thời điểm Đổi mới, phê bình văn học được trở về với chính nó, được tiếp xúc với rất nhiều nguồn lí thuyết của thế giới, nhìn lại lí thuyết phê bình miền Nam với một cái nhìn thân thiện và kế thừa các thành tựu của nó. Bây giờ thì văn học và phê bình của chúng ta có thể giao lưu với văn học thế giới rộng lớn, một chân trời mới đang mở ra. Chúng ta đã có phê bình cổ điển, phê bình tiểu sử, phê bình xã hội học, phê bình thi pháp học, phê bình cấu trúc, phê bình phân tâm, phê bình kí hiệu và đang hứa hẹn phê bình nữ quyền, sinh thái, xã hội học, chấn thương…

      Nhà văn Nga V. V. Nabokov nói: “Sau quyền sáng tạo là quyền phê bình, đó là món quà quý giá nhất mà sự tự do suy nghĩ và ngôn luận mang lại cho chúng ta.”[1] Vai trò hàng đầu trong hình thành và phát triển của nhà phê bình là thị hiếu mà cũng có thể là ý thức sứ mệnh. Đi sâu vào sự chuyển biến của diễn ngôn phê bình ta sẽ thấy lối phê bình ấn tượng chú trọng thị hiếu cá nhân, nhấn nhá câu hay từ đắt kiểu cổ điển của Hoài Thanh, Xuân Diệu được giới nhà văn yêu chuộng, bao gồm cả Lê Đình Kỵ. Phê bình kiểu chân dung văn học trước 1945 trở thành hiện tượng phổ biến bởi cái tôi có sức hấp dẫn lớn và mới đối với người Việt.  Ý thức sứ mệnh có nghĩa rất lớn đối với Trương Tửu, Trương Chính, và nhiều nhà phê bình sau này như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vũ Đức Phúc và  rất nhiều người khác… Nhà xã hội học mác xít khẳng định mĩ học mới đầy tính chiến đấu, người yêu cái đẹp khẳng định giá trị thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật, thi pháp hoặc một phương pháp luận mới. Đến Nguyễn Văn Hạnh đã có quan niệm chỉnh thể sáng tác và đi tìm các nguyên tắc nghệ thuật tạo nên phong cách, nhưng ông chưa tạo được chuyển biến. Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh được phong cách của nhà văn. Phan Ngọc ở ngoại biên với thao tác cấu trúc đã tìm được các nguyên tắc tạo nghĩa của các hình thức văn học. Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn có thiên hướng phê bình văn hóa, phản biện. Đến thi pháp học, kí hiệu học, phân tâm học  (với Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Đức Hiểu, Lã Nguyên, Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử …) diễn ngôn phê bình là cuộc đi tìm ngôn ngữ biểu đạt có tính hệ thống xuyên qua ngôn ngữ nghệ thuật, không lặp lại kiểu phê bình cổ điển, vượt qua kiểu của Hoài Thanh, Xuân Diệu, có ảnh hưởng rộng rãi. Dĩ nhiên truyền thống phê bình cổ điển vẫn còn có không ít người nối tiếp. Các phê bình nữ quyền, sinh thái, chấn thương, hậu thực dân, xã hội học, văn hóa học…đi tìm sự khúc xạ của các vấn đề xã hội, văn hóa vào thế giới nghệ thuật, có thiên hướng ít quan tâm các giá trị nghệ thuật. Một phác thảo sơ lược cho thấy hướng đi của diễn ngôn phê bình văn học Việt nam hơn một thế kỉ. Nhưng Việt Nam là đất nước xa xôi, thường tiếp nhận ánh sáng của những vì sao khi đã lu mờ. Trên thế giới các đại lí luận đang vào hồi thoái trào, và lí luận văn học sẽ trở về theo một dạng thức nào đó.

      Lịch sử phê bình văn học không tránh khỏi câu chuyện đúng sai, mới, cũ, một câu chuyện vừa có ý nghĩa, vừa có tính tương đối. Đó là vì đúng sai mới cũ phụ thuộc vào hệ hình tri thức của thời đại. Khi một hệ hình tri thức đã qua, cái đúng  lại hóa sai, cái mới lại hóa cũ. Phê bình là phán đoán giá trị, mà phán đoán bao hàm một giả thiết, một khả thể, một “hư cấu” của câu chuyện, cho nên nó cũng có thể không đúng. Thời gian vượt qua tất cả, những gì đúng sai của thời này sẽ không còn y nguyên như với thời sau. Thời sau sẽ kể lại câu chuyện của mình. Nếu không nêu vấn đề đúng sai thì không thể thấy phê bình văn học vận động, nhưng xem nói đúng sai là đã giải quyết được vấn đề cũng chưa hẳn đúng, bởi lịch sử phê bình còn trở đi trở lại, còn đối thoại, trao đổi. Các giá trị bị chôn vùi thời trước, thời sau có người lại xới lên. Ví dụ như lối phê bình chân dung, tiểu sử, nhà văn của S. Beuve từng được đưa lên mây, rồi bị bao nhà văn và lí luận phê bình hạ xuống, rồi lại đưa lên, mà xem ra vẫn còn rất được ưa chuộng, phê bình nước ta càng ưa chuộng. Từ ngày đổi mới các nhàlí luận của ta không muốn nói tới “phản ánh”, nhưng xem các mô hình phê bình giới triệu ở trên ta thấy các nhà lí luận đều nói đến nó, vì không thể xóa bỏ quan hệ văn học với hiện thực được. Ta chỉ phê bình các cách hiểu thô sơ, dung tục, tuyệt đối hóa về nó mà thôi. Phê bình cổ điển vẫn có chỗ đứng vì tiếng Việt là tiếng đơn lập và âm tiết tính. Phê bình văn học Việt nam dù chưa mạnh, nhưng đã tồn tại, đã thành truyền thống mới, tùy mình có thấy hay không, không dễ bị cắt đứt ở khâu nào, dù là nhân danh cách mạng hay nhân danh đổi mới. Truyền thống và hiện đại luôn có sự liên tục. Phê bình là một ngành độc lập có trí tuệ, có tôn nghiêm, có đạo đức, có chân thành và có cái đẹp. Chân thành và cái đẹp sẽ giúp phê bình tiến bước.

       Lịch sử phê bình văn học không hề giản đơn chỉ là lịch sử của các tư tưởng và phương pháp nghiên cứu. Đó còn là lịch sử của những con người đã dấn thân vào văn học. Lịch sử phê bình văn học cũng chính là lịch sử của các nhà phê bình. Lịch sử phê bình và lịch sử các nhà phê bình không thể tách rời. Là một diễn ngôn về văn học, tiếng nói của nhà phê bình không biệt lập, mà là sự tương tác, không chỉ là tiếng nói của cá nhân họ, mà họ cố gắng để nói lên tiếng nói của một lớp người rộng lớn hơn, một giới, một tầng lớp, dân tộc hoặc của nhân loại. Và mối quan hệ xã hội phức tạp đã khiến cho diễn ngôn phê bình của nhà văn thường xuyên thay đổi, vận động theo xã hội, không ai đứng yên. Nhà phê bình và lịch sử không phải lúc nào cũng đi cùng chiều. Vì thế có tất yếu và ngẫu nhiên, có bi kịch, hài kịch, có kẻ lạc lối, có khi ra ngoại biên, có khi lại từ ngoại biên vào lại trung tâm, có người không ngừng chỉnh sửa các nhận định cũ khi hệ hình tri thức đã thay đổi, có người khư khư ôm các nguyên lí cũ, hóa ra tự bỏ lại phía sau. Các chân dung phê bình ở đây đã phần nào tái hiện các quá trình tiếng nói phê bình trong lịch sử, giúp ta hiểu hơn logic của lịch sử và sự lựa chọn cá nhân  của mỗi người.

       Kể từ ngày trong bài Bàn về quốc học, Phạm Quỳnh đã nhận ra thực trạng sự thiếu vắng một nền “quốc học” ở ta, vì nước ta tuy có tiếng ham học, “nhưng cả nước chỉ như một cái trường lớn, mà thầy trò chỉ học mấy quyển sách giáo khoa cũ, già đời vẫn không thoát khỏi cái tư cách học trò”, “chưa hề thấy thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt ra ngoài vòng giáo khoa mà bước lên tới cõi học thuật nữa.” Chỉ xét riêng về mặt phê bình văn học, thì các nhà phê bình văn học nước ta tuy thời nào cũng ham học, mà cũng chưa thoát khỏi thân phận học trò, hết học Tàu lại học Pháp, lại học Liên Xô, Trung Quốc, từ ngày đổi mới mở rộng học sang Anh, Mĩ, Pháp, Đức… Lẽ dĩ nhiên trong quá trình ấy ta đã có không ít công trình có tính sáng tạo, có kiệt tác, nhưng nhìn chung, con đường học thuật, chuyện “lập môn hộ riêng” còn đang ở phía trước.

Trong công trình này chúng tôi buộc phải dừng lại trước các nhà phê bình theo khuynh hướng hậu hiện đại, như hậu thực dân, nữ quyền luận, sinh thái, chấn thương, xã hội học, tự sự học hậu kinh điển…Bởi thế hệ dấn thân vào các lĩnh vực này đều mới bắt đầu, chưa định hình thành những gương mặt. Sẽ có các công trình khác đề cập đến họ.

      Lịch sử hơn một trăm hai mươi năm của đất nước ta là một lịch sử đầy những biến động dữ dội. Nền văn học hiện đại của ta vừa hình thành non trẻ đã chịu liền biết bao đổi thay đột ngột về hệ giá trị, tính nhân văn, hệ phương pháp. Có những hệ tư tưởng thù địch hủy diệt nhau một mất một còn rất thảm khốc. Văn hóa văn học Việt nam không có một thời gian bình yên đủ dài để cho các giá trị được kết tinh, để các thế hệ sau có dịp kế thừa  những người tiền bối, đủ tạo nên một cái nền khả dĩ vững chắc với các truyền thống của riêng nó đủ cho văn học và phê bình tồn tại và phát triển. Cả một tiến trình văn học bị băm vụn nát, nửa đoạn nửa đời. Và biết bao nhân tài nước Việt trong lĩnh vực này không ai có được một cuộc đời trọn vẹn dành cho văn học. Họ đã tự thay đổi mình theo yêu cầu của thời đại, theo điều kiện lịch sử, ai cũng dang dở nửa chừng. Tranh luận với Phạm Quỳnh, ông Phan Khôi trong bài đáp lại ông Phạm cho rằng, muốn xây dựng quốc học thì phải vừa “phá hoại” (phá) vừa “kiến thiết” (xây), mà phải dùng cách “biện luận” đúng/sai để thực hiện, chứ không thể dùng bạo lực mà áp đặt. Cách dùng bao lực ngôn từ có thể nhất thời thắng thế, nhưng chắc chắn thất bại lâu dài. Xét riêng về phê bình văn học cũng như vậy. Chúng ta đã có một nước Việt nam thống nhất, hòa bình, chỉ mong được thịnh vượng, hùng mạnh, dân chủ, không chỉ để cho nhân dân được nghỉ sức, mà còn để cho văn hóa văn học có cơ hội phát triển, hồi sinh, để cho phê bình văn học có nền móng và các nhà lí luận phê bình có thể làm ra cái gì riêng vẻ vang cho văn hóa nước nhà.


[1] Trích dẫn từ sách: V. V. Prozorov chủ biên, nhiều tác giả, Lịch sử phê bình văn học Nga, Nxb Cao đẳng, Moskva, 2002, tr. 10.

Advertisement

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s