ĐẶNG ANH ĐÀO VỚI LỐI ĐỌC ĐA ÂM

     Các nhà nữ phê bình văn học Việt Nam rất đông đảo và tài năng. Tính từ trước 1945 có Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm, kể từ những năm 60 có Thiếu Mai, Ngọc Trai, Lê Thị Đức Hạnh, Phạm Tú Châu…Từ thời Đổi mới đến đây có thể kể Lộc Phương Thủy, Nguyễn Thị Bích Hải, Phan Diễm Phương, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ, Phan Thu Hiền, Tôn Phương Lan, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Thanh Xuân…, Tính từ đầu thế kỉ XXI có Cao Kim Lan, Trần Lê Hoa Tranh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần Huyền Sâm, …Trong bài này chúng tôi nói đến Đặng Anh Đào, một cây bút viết không nhiều mà có tầm vóc, uyên bác và đặc sắc.

     Đặng Anh Đào sinh năm 1934, là con gái thứ tư của giáo sư Đặng Thai Mai. Chịu ảnh hưởng của gia đình, từ nhỏ bà đã tự học tiếng Pháp. Sau khi tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội bà được phân công đi dạy PTTH. Giữa những năm 70  bà được điều động về dạy văn học phương Tây ở khoa Ngữ văn ĐHSP HàNội. Cuối những năm 70 bà bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nhân vật tích cực trong Tấn trò đời của H. Balzac”. Luận án này sau được xuất bản với tên gọi Balzac và cuộc săn lùng nhân vật tích cực trong Tấn trò đời (1997). Tôi nghĩ bà chọn đề tài như thế để cho dễ bảo vệ, vì nó hợp gu của các vị thích lí thuyết Xô viết. Còn riêng bà, bà rất hứng thú với lí thuyết phương Tây hiện đại về tiểu thuyết. Xem các đề tài bà hướng dẫn sinh viên, cao học, thấy bà đã vận dụng tự sự học vào nghiên cứu từ những năm 80. Bà đã có nhiều chuyến sang Pháp tu nghiệp. Về nước bà tham gia cùng đồng nghiệp dịch tiểu thuyết của V. Hugo và H. Balzac, Pascale Roze. Bà dịch chung với chị gái Đặng Thị Hạnh cuốn tiểu thuyết Thế kỉ ánh sáng của Alejo Carpentie, người Pháp gốc Cu Ba (1986). Bà đã nghiên cứu và soạn chuyên đề về tiểu thuyết phương Tây hiện đại, và đã xuất bản cuốn Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (92 trang, Nxb Giáo dục, 1995), trước đó bà công bố tập tiểu luận Tài năng và người thưởng thức (235 trang khổ nhỏ,Nxb Hội nhà văn, 1994). Cuốn này được bổ sung tái bản vảo năm 2018 ở Nxb Tri Thức, 362 trang khổ lớn hơn. Về V. Huygo bà có quyển Victor Hugo, bóng tối và ánh sáng (1996). Về văn học so sánh bà có cuốn Văn học Việt nam và phương Tây – tiếp nhận và giao thoa, viết chung, 1999, Nghiên cứu và thưởng thức văn học Pháp, 2018.

      Ngoài chuyên luận, tiểu luận, bà còn cùng với học giả Lê Hồng Sâm dịch các tác phẩm lí luận văn học của Pháp, như các cuốn Thi pháp văn xuôi (2004), Dẫn luận về văn chương kì ảo (2008) của Tz. Todorov, Bản mệnh của lí thuyết của Antoine Compagnon (2006). Cùng Lê Hồng Sâm viết Chân dung Victor Hugo (2002). Bà còn dịch Bên phía nhà Swann, (Marcel Proust, dịch chung cùng Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm, Dương Tường, 2013). Ngoài ra bà cũng thích viết văn. Bà đã xuất bản tập truyện Tầm xuân (2004), Mưa rào mùa hạ (2004), hồi kí Nhớ và quên (2011), Hoài niệm và mộng du (2019). Tính ra bà đã công bố trên dưới 20 tác phẩm.

Tuy tuổi cao, nhưng Đặng Anh Đào thuộc lớp nhà văn sau năm 1975, vì bà tham gia phê bình văn học bắt đầu từ thời Đổi mới. Bà không chỉ là một chuyên gia lâu năm về văn học Pháp, một dịch giả có kinh nghiệm, một nhà văn viết có duyên, mà còn là một nhà phê bình văn học tài hoa. Tuy là con gái một nhà lí luận lớn của Đang, nhưng Đặng Anh Đào là nhà phê bình văn học tự do với cá tính mạnh mẽ. Bắt đầu từ thời kỳ Đổi mới bà viết chuyên đề lí luận và một loạt bài thưởng thức và phê bình văn học, thể hiện một lối đọc đa âm mới mẻ. Những tập sách của bà đã tự giới thiệu về các lí thuyết mới và một lối phê bình văn bản  khác hẳn với lối đọc truyền thống.

Chuyên luận Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây nói về những tan vỡ của các công thức và khái niệm cũ, những cách tân của tiểu thuyết mới, tiểu thuyết của Hemingway, Kafka, tiểu thuyết châu Mĩ La Tinh vào thời điểm những năm 80, giúp người đọc hiểu về nhân vật, tâm lí nhân vật, nhân vật và cốt truyện, người kể chuyện, điểm nhìn, dòng ý thức. Trong tiểu thuyết của Kafka, Hemingway, điểm nhìn người kể chuyển cho nhân vật, tâm lí nhân vật bị giảm xuống tối thiểu, chỉ có hành động, mà tẩy trắng định ngữ và trạng ngữ. Nhân vật bị trừu tượng hóa về cái tên, gần như vô danh, chủ yếu thể hiện một ý niệm. Đối với A. Greimas nhân vật chỉ là một tác tố, một vai hành động chứ không có tâm lí. Cốt truyện biến dạng vì không có sự kiện, mà chỉ là một số tâm trạng (như Vụ án), những câu chuyện để kể vể một câu chuyện khác, nhân vật được nhìn qua ống kính vạn hoa. Chương độc thoại nội tâm và dòng tâm tư (dòng ý thức) đã trích dẫn rất nhiều ý kiến trái chiều về hiện tượng nghệ thuật này, nhưng rất tiếc lại không dẫn một ví dụ nào của Joyce hay của Virginia Woolf. Thiết nghĩ chỉ cần dịch một đoạn văn của hai nhà văn trên là vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Riêng chương viết về thời gian trong tiểu thuyết hiện đại chưa nếu được nét đặc điểm nào quan trọng cả. Bà cũng lưu ý các quan niệm tiểu thuyết của Liên xô, của Hà Minh Đức, của Từ điển văn học của ta lúc ấy đều còn rất cũ (tr. 86-87) và giới thiệu ít nhiều quan niệm nhân vật của tự sự học Pháp và quan niệm đa thanh của M. Bakhtin. Bà là một trong những người giới thiệu M.Bakhtin rất sớm vào Việt Nam qua kênh tiếng Pháp, đồng thời đối thoại với học giả này. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại là một đề tài rộng lớn, với 92 trang thì còn quá ít, song cũng đem lại cho  bạn đọc những thông tin mới mẻ về tiểu thuyết hiện đại và những đổi mới của nó. Sự lựa chọn tài liệu và cách viết ở đây trước hết nhằm vào đối tượng sinh viên và học viên cao học Việt Nam, và do vậy cũng sẽ thích hợp với đông đảo độc giả Việt Nam hiện nay. Phải nói rằng một thời gian rất dài trong lý luận tiểu thuyết của ta với tinh thần độc tôn chủ nghĩa hiện thực đã triệt để khai thác lý luận tiểu thuyết hiện thực thế kỷ XIX và hầu như hoàn toàn dị ứng với những tìm tòi của các nhà tiểu thuyết phương Tây hiện đại thế kỉ XX. Vì thế công trình của  Đặng  Anh Đào có tác dụng giúp hiểu thêm về thực chất của những tìm tòi phức tạp đó. Người viết chuyên luận cũng có thái độ phân tích khách quan, không tán dương. Chuyên đề đã gây cảm hứng cho nhiều học viên đi sâu nghiên cứu về Hemingway, Kafka.

          Cuốn Tài năng và người thưởng thức nêu cao vai trò của người đọc trong kĩ nguyên của lí thuyết tiếp nhận. Tôi hỏi bà nếu có một cuốn tuyển các bài phê bình của bà thì nên đặt tên gì cho thích hợp? Bà trả lời: “Đọc giữa những dòng đen trắng”. Rồi bà nói thêm, “một lối đọc đa âm”. Cái tên ấy đã nói rất nhiều điều. ” Những dòng đen trắng” là biểu tượng của văn bản, là thế giới những con chữ của một âm bản mà trải qua hoạt động đọc sáng tạo của người đọc sẽ hiện ra một thế giới muôn màu lung linh. “Những dòng đen trắng” cũng có nghĩa là tuy văn bản viết bằng giấy trắng mực đen, song ý nghĩa của nó không phải là hai năm rõ mười mà ở đó còn có tính đa nghĩa, đa âm, phức điệu hàm ẩn. Trong bài Hai bí quyết của phê bình, bà cho biết, chi khi gặp tác phẩm mà ý nghĩa của nó còn ẩn trong kí hiệu, chưa trở thành thông điệp, thì nhà phê bình mới có đất dụng võ. Còn khi thông điệp của tác phẩm đã phơi trắng phớ cả ra thì còn gì nữa mà phê bình. Cho nên các tác phẩm văn học tuyên truyền thì chẳng có gì nữa để mà phê bình. Thứ hai, phê bình văn học phải tắm mình trong tình thời sự nóng hổi, đây là sự khác biệt với nghiên cứu. Tôi thì không dám tán thành hoàn toàn quan điểm này, bởi vì như thế, thì phê bình bị thu hẹp vào trong hoạt động báo chí. Đó chỉ là một quan niệm cũ mà trên thực tế Đặng Anh Đào cũng không tuân thủ.

          Một thời gian dài hễ nói tới tác phẩm là ta nghĩ ngay tới nội dung phản ánh hiện thực, đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác giả mà ít quan tâm tới giá trị thẩm mỹ của từ ngữ. Nếu có chú ý đến từ ngữ thì cũng chỉ quan tâm từ ngữ như là cái vỏ của hình tượng mà không để ý đầy đủ đến phương diện nghệ thuật riêng, không quan tâm tới tính liên văn bản, tính phức điệu của nó. Định nghĩa hình tượng văn học của L. I Timôpheev trong sách Nguyên lý văn học không hề liên quan tới ngôn từ. Điều đó làm mất đi một phần không nhỏ giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật của tác phẩm văn học.

          Cũng một thời rất dài, nói tới việc đọc tác phẩm văn học, ta chỉ hiểu khái niệm “đọc” theo quan niệm truyền thống, tức là lối “đọc thánh thư”, một lối đọc đi tìm ý nghĩa ban đầu của tác giả trong tác phẩm một cách thụ động, chạy theo cái ảo ảnh về nguyên ý của tác giả đã đúc kết, gửi gắm vào văn bản, mà không nhận thấy đọc trước hết là một hoạt động đối thoại, một hoạt động sáng tạo nghĩa của người đọc dựa vào các loại ngữ cảnh, bao gồm ngữ cảnh văn học, văn hoá, truyền thống trong nước hay thế giới, và thị hiếu riêng của người đọc. Cách đọc “đa âm” là cách bà đối thoại với Bakhtin. Nếu Bakhtin dùng đa thanh để nói về cấu trúc tiểu thuyết, thì bà dùng khái niệm đó để nói về sự đọc, cách đọc.

        Vận dụng quan niệm của Bakhtin vào Việt nam, bà lưu ý truyện Việt nam phát tích từ truyện cổ tích nhiều hơn là từ thần thoại. Không chỉ vì thần thoại Việt nam không có hệ thống, mà chủ yếu vì cổ tích khép kí và có hậu. Tiểu thuyết đòi hỏi một tinh thần dân chủ, nó khó thích hợp với nguyên lí “văn dĩ tải đạo”. Nguyên lí này có các biến thể trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, khi đất nước chưa thật sự dân chủ hóa. Theo bà Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn là đơn âm, tải đạo, còn Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải là đa âm. Do đó truyện kể đơn âm không thể là tiểu thuyết, bởi “con người không bao giờ trùng khít với hoàn cảnh, cũng như hoàn cảnh không bao giờ hoàn toàn trùng khít với ngôn từ dùng để miêu tả nó.”(Bakhtin). Ta thấy Đặng Anh Đào rất mạnh dạn sử dụng lí thuyết mới để đánh giá các tác phẩm đương đại.

          Tiểu luận, phê bình của  Đặng Anh Đào đã trình bày cho người đọc Việt Nam một lối đọc mới mẻ với những cơ sở lý luận mới. Bà không tòm tắt tác phẩm rồi bình luận, mà dựa vào lí thuyết để nêu ra, rất ngắn gọn, rất nhiều vấn đề của văn học. Nói về khả năng tái sinh của Chí Phèo, trên cơ sở đa âm, bà cho rằng một tác phẩm văn học (như một mẫu gốc), có khả năng đẻ ra tác phẩm khác. Chí Phèo của Nam Cao là tác phẩm đa nghĩa: Có thể hiểu là khát vọng đổi đời, lại có cách hiểu Chí Phèo là thằng rạch mặt ăn vạ. Nếu khai thác cách hiểu sau thì Chí sẽ tuyệt tự. Đặng Anh Đào có một loạt bài bình luận về Nguyễn Huy Thiệp. Đọc Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình thấy những vấn đề mới: truyện không theo mẫu cổ tích có hậu, có nhân vật cô đơn, nhân vật không điển hình, cái tên “truyện ngắn” ở Việt nam có phần không ổn, song ngắn vẫn là một ưu thế. Đọc Con gái thủy thần, nhà phê bình chỉ ra các yếu tố phản cổ tích của nó: huyền thoại tan vỡ, truyện kể xưng tôi, nhiều nhân vật dị dạng như thằng ngốc, loại nhân vật mồ côi, nhiều nhân vật hoạt động, cuối cùng phát hiện thấy mình bị bỏ lại. Đọc Vàng lửa nhà phê bình nhìn thấy khoảng cách với cách mạng Pháp bị triệt tiêu để không còn là sử thi nữa, và nhìn thấy sự tầm thường của lịch sử. Đọc Nguyễn Thị Lộ nhà phê bình thấy khoảng cách với nhân vật lịch sử bị xóa bỏ, nhân vật cô đơn hiện ra. Sáng tác mới phải được nhìn trong ánh sáng của lí thuyết mới. Qua các bài phê bình này, ta có thể  nói, Đặng Anh Đào là thuộc vào nhưng người sớm nhất vận dụng M. Bakhtin vào phê bình truyện ngắn đổi mới của Việt Nam. Đọc truyện ngắn hiện đại Việt Nam, bà ghi nhận hai hình thức nổi bật, hai vệt sáng:đó là hình thức nhại, và truyện ngắn mini. Những tác giả và tác phẩm khá quen thuộc như Chuyện người con gái Nam Xương, bài thơ Tây Tiến, Ông đồ, bài bút ký Tháng ba rét nàng Bân, thơ Hồ Chí Minh…. qua lối đọc của tác giả đã hiện ra những đường nét và màu sắc mới bất ngờ đến thú vị. Bạn đọc tinh ý sẽ thấy thấp thoáng trong các bài viết việc sử dụng những khái niệm mới như ” mã”, “tín hiệu”, “liên văn bản”, “biểu tượng”, “grotesque”, “hình thức tự sự hiện đại”, “sự biến thái của hình ảnh”, “tính phức điệu”, “đa âm”…Có thế nói không có quan niệm mới thì không có lối đọc đó. Những khái niệm mới được tác giả vận dụng thích đáng không những không che lấp mà ngược lại còn làm nổi bật lên phẩm chất thẩm mỹ của văn bản. Lối đọc của tác giả sẽ là một gợi mở rất quý báu đáng để các nhà văn, các giáo viên trung học tham khảo trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học văn học ở nhà trường hiện nay. Những khám phá về hình thức này còn có thể mở rộng ra để tìm hiểu những biến thái về hình thức thơ hay truyện trong cả một thế kỉ.

          Nhưng lối đọc của tác giả không giản đơn chỉ đóng khung trong từng tác phẩm được đọc, mà qua đó còn đối thoại với quan niệm văn học và cách đọc, thị hiếu văn chương thịnh hành đương đại. Chỉ qua chùm bài đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như  Khi ông tướng về hưu xuất hiện, Biển không có thuỷ thần…. là ta thấy rõ điều đó. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp gợi cho ta suy nghĩ lại về vai trò của nhân vật, về khái niệm điển hình, về thị hiếu người đọc. Đọc Cánh đồng bất tận, là người đến sau, bà chỉ ghi nhận những chi tiết ấn tượng mà tác phẩm để lại cho người đọc, không bàn về tư tưởng. Đọc Gió lẻSầu trên đỉnh Puvan bà cũng chi ghi nhận “một miền hoang dã”. Bà phát hiện cái độc đáo của truyện ngắn của Trần Thùy Mai, cũng như chỉ ra cách “điển hình hóa” của Ba người khác của Tô Hoài. Các bài viết của Đặng Anh Đào cho thấy vấn đề đổi mới văn học không chỉ là đổi mới sáng tác mà còn là đổi mới cả thị hiếu, lí luận và lối đọc nữa.

     Một đề tài khác nổi bật trong phê bình của Đặng Anh Đào là các tiểu thuyết phương Tây với độc giả Việt Nam. Người Việt thích lối văn biền ngẫu, nhịp nhàng, ngọt ngào cổ điển, mà văn Hugo có đặc điểm ấy, bản dịch của nhóm Lê Quý Đôn mà Huỳnh Lý là tiêu biểu đã khai thác và truyền đạt thành công. Nhưng đồng thời người Việt cũng tiếp thu cái lạ của nghệ thuật baroc của Hugo, là bởi trong nghệ thuật Việt Nam có yếu tố đó: cái thanh cái tục, cái thô kệch xen nhau. Cũng với cách cảm thụ đó người Việt đã Việt hóa rất nhiều văn của Balzac qua cách viết lại câu văn, lược bỏ, thêm thắt…bởi không quen với lối văn của ông! Bà phân tích tính phi lí và chất hài  hước đen trong tác phẩm của Kafka.

          Đó cũng là một tiếng nói đối thoại với tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Tất nhiên trong sách của bà đôi khi ta bắt gặp một vài chỗ do đọc chưa kĩ mà đã nhận định vội vàng, nhưng đó là những tiểu tiết.

          Đặng Anh Đào đã viết phê bình và chuyên luận với một phong thái tự do thoải mái, hóm hỉnh, mà không thiếu sự tinh tế, mang lại cho những trang viết có nhiều ánh lửa lung linh hấp dẫn, nhẹ nhàng. Bà thường không viết dài, mà để cho người đọc tiếp tục suy ngẫm.

Advertisement

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s