NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH – MỘT CÁCH VIẾT KHÁC VỀ CHIẾN TRANH

Trần Đình Sử

    Đã hơn ba mươi năm từ ngày tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (tên ban đầu là Thân phận của tình yêu) của nhà văn Bảo Ninh  (tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê Bảo Ninh, Quảng Bình) ra đời và nổi tiếng khắp thế giới. Nó được xem là “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới”… Tiểu thuyết đã được dịch ra 15 thứ tiếng, và có những thứ tiếng có hai phiên bản, giới thiệu ở 18 nước trên thế giới. Trên tờ quảng cáo bản dịch tiếng Trung ghi rõ, “Bốn lần được đề cử giải Nobel”. Nhiều người đã đem Nỗi buồn chiếntranh của Bảo Ninh đặt cùng hàng với Phía Tây không có gì lạ của Remarque, Người đọc của Bernhard Schlink (Đức), Người đua diều của Khaled Hosseini (Ba tư). Đã có rất nhiều bài phê bình và cả những luận văn về tác phẩm này, hầu như không còn gì để viết nữa. Nhưng phần nào đó, số phận tác phẩm vẫn chưa xong xuôi. Vẫn còn những ý kiến trái chiều. Tác phẩm sau khi xuất bản đã được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1991, rồi bị cấm từ năm 1993 đến 2005, đến 2006 lại được phép xuất bản trở lại. Năm 2011 được giải thưởng châu Á của Nhật Bản (Nikkei Asia Prizes). Nhưng ở Việt Nam cho đến nay tác phẩm vẫn chưa lọt vào Giải thưởng nhà nước, vì thiếu một ít phiếu bầu, mặc dù theo tôi, nó đã xứng đáng từ lâu, đã được liệt vào hàng kinh điển thế giới. Một số trường Đại học ở Mĩ liệt vào loại sách bắt buộc phải đọc. Nhà văn Diêm Liên Khoa cũng liệt vào sách phải đọc đôi với học viên lớp sáng tác mà ông phụ trách. Nhưng đã đưa vào chuyện bầu chọn, thì cũng phải chấp nhận ý kiến của một vài ủy viên hội đồng.

     Bảo Ninh là nhà văn cựu chiến binh, tuy quê Quảng Bình, nhưng sinh năm 1952 tại Nghệ An, trong một gia đình nhiều đời nho gia, bố là nhà ngữ học nổi tiếng Hoàng Tuệ, từng làm viện trưởng, Viện ngôn ngữ học, nghiên cứu về chuẩn tiếng Việt và nhiều vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ của nhà nước. Sau năm 1975 Hoàng Ấu Phương được giải ngũ, học trường viết văn Nguyễn Du khóa ba, bắt đầu viết văn từ năm 1987. Thời đi bộ đội Phương từng đọc tiểu thuyết Phía tây không có gì lạ (hoặc Mặt trận phía tây vẫn yên tĩnh) của nhà văn Erich Maria Remrque (1898-1970) viết về thế chiến lần thứ nhất. Sau hòa bình thân phụ nhà văn là Hoàng Tuệ sau chuyến đi Pháp có mang về tập tiểu thuyểt Cuộc đời và số phận của Grossman  (1905 – 1964), viết về cuộc sống người dân xô viết trong chiến tranh chống phát xít. Cả hai cuốn sách có tính phản tư về lịch sử đều có ảnh hưởng đến tư tưởng và nghệ thuật của Bảo Ninh.

     Nỗi buồn chiến tranh thuộc loại tiểu thuyết chỉ có một nhân vật chính là Kiên xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Các nhân vật khác đều là phụ, xuất hiện thấp thoáng trong các tình tiết. Kiên là nhân vật chính mang ba vai: Anh là người chiến sĩ sống sót sau chiến tranh của một đơn vị, là người không thể tự giải thoát khỏi các hồi tưởng về cuộc chiến tranh vừa qua và các đồng đội đã mất như một chứng bệnh trầm cảm. Kiên là người đánh mất mối tình đẹp đẽ của mình. Kiên là người viết tiểu thuyết với ý thức sứ mệnh. Với ba vai đó, tiểu thuyết thể hiện ba nội dung cơ bản: Cuộc chiến tranh khốc liệt với vô vàn chết chóc, biến dạng nhân tính. Chiến tranh và sư hủy diệt hạnh phúc đời thường. Ý thức về chuyện viết văn về đề tài chiến tranh, muốn vượt qua truyền thống cũ.

Vấn đề đầu tiên đối với nhà văn là viết về chiến tranh như thế nào? Khi bắt đầu tiểu thuyết Kiên đã tự nêu câu hỏi: “Vì sao anh lại chọn chiến tranh và vì sao nhất thiết phải là nó?” (tr. 70) Anh chọn nó chính là để thay đổi nó. Vấn đề chính là ở chỗ, cách nhìn về chiến tranh. Cuốn sách đã đi ngược lại với truyền thống thể hiện chiến tranh đã thành công thức truyền thống. Một số người cho rằng, viết như thế là “xúc phạm” người đã khuất, vì không viết họ như những anh hùng. Nhưng chiến tranh là một đề tài rộng lớn, mà các hành động anh hùng trong chiến đấu chỉ là một phương diện. Chiến tranh còn là chết chóc, là hủy diệt, là mất mát đau thương là nhũng điều không thể không viết. Đất nước ta ở vào một vị trí địa chính trị thế nào đó mà thường phải đương đầu với chiến tranh và buộc phải sống còn. Có nhân vật nổi tiếng đã có lần do thói quen, buột mồm nói với một thủ tướng nước ngoài, rằng nước tôi tự hào đã đánh thắng mấy đế quốc to, vị thủ tướng kia đã trả lời, nước tôi cũng tự hào là xưa nay không phải đánh nhau với ai cả. Câu trả lời cho thấy, hòa bình quý giá hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào. Đó cũng là tư tưởng của Hồ Chí Minh khi ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19-12 năm 1946. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp, sang cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết về chiến tranh ở Việt nam ra đời trong nhu cầu giáo dục truyền thống anh hùng. Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Hồ Phương, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Chu Lai,Nam Hà …và biết bao nhà văn Việt Nam khác đã sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh như thế. Trước đó đã có biết bao tác phẩm phản ánh chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, Trung Quốc cũng nhằm giáo dục truyền thống anh hùng. Các tiểu thuyết chiến tranh, do yêu cầu tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đầu và chiến thắng đều thể hiện nhất loạt, ta thắng địch thua, ta chính nghĩa, địch phi nghĩa. Ta dũng cảm, địch hèn nhát. Trong chiến tranh chỉ ta là người, còn địch là thú vật. Mà đã chính nghĩa thì hi sinh là chuyện đương nhiên, là lương tâm và tất yếu, chỉ biết rằng cuối cùng ta phải thắng, địch phải thua. Đó là công thức chung, nhưng chỉ là một chiều. Có cách hiểu chiến tranh như trẩy hội. Có nhà thơ đã viết “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Lại có nhà thơ viết “Vui gì hơn làm người lính đi đầu, Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa”. Ông cũng thấy “máu và hoa”, nhưng với ông, máu cũng như hoa, tô thắm ngọn cờ, vẫn cái nhìn một chiều.

    Là nhà văn, Bảo Ninh nghĩ: “Nghề văn là nghề  chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình là kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình, những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui.”[1] Cái khó ở đây là ở chỗ, đối với “những giá trị, những ý nghĩa vừa cố định, vừa đổi thay không ngừng” nhiều người chỉ thấy mặt cố định, mà không thấy sự đổi thay của chúng.

     Là người lính đã trải qua chiến tranh, nhà văn Bảo Ninh, sau khi chiến tranh đã kết thúc, đã nói lên một tiếng nói khác, có phần ngược lại: “Nỗi buồn chiến tranh”. Là nhân chứng của chiến tranh, là người đã chứng kiến biết bao chiến sĩ của ta đã hi sinh thảm khốc, ông đã thấy những giá trị đổi thay. Trong cuộc tọa đàm về tiểu thuyết này tại báo Văn Nghệ sau khi được giải, số 37 năm 1991, tôi đã nói, cuốn tiểu thuyết  đã “lộn trái cuộc chiến tranh, để cho ta thấy, chiến tranh như là chiến tranh”. Hào quang vẫn còn, nhưng chiến tranh cũng chỉ là chiến tranh. Trong chiến tranh các chiến sĩ chỉ  là những công cụ giết người, bên này không giết được bên kia thì bị bên kia tiêu diệt. Mà bên kia nhiều khi cũng là người mình. Bao lực, dã man, khốc liệt, mất hết nhân tính là bản tính của chiến tranh. Tuy nhiên Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết đã vượt lên chiến tranh. Ở đây chiến tranh chỉ là bối cảnh, còn nội dung tiểu thuyết là nỗi buồn đau triền miên mà chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn của chết chóc hủy diệt, nỗi buồn của tuổi trẻ phôi pha, nỗi đau của tình yêu tan vỡ. Trong phỏng vấn của nhà văn nước ngài, Bảo Ninh cho biết,  tiểu thuyết về chiến tranh đương thời phần lớn là công thức, thuyết huấn và giải tạo. Hồi còn ở bộ đội Bảo Ninh còn là người thủ thư của đơn vị. Những quyển sách như thế các chiến sĩ không đọc, có người đem vứt đi, có khi sách không liên can gì chiến tranh thì được đọc, ví như cuốn truyện ngắn Bút kí của người đi săn của Ivan Turgenev. Nhà văn Nga K. Simonov từng nói: “Viết về chiến tranh rất khó, viết về chiến tranh như về ngày hội, long trọng và nhẹ nhàng thì không nên. Đó sẽ là giả dối. Chỉ viết về những ngày đêm khói lửa, chỉ viết về sự bẩn thỉu, lầy lội của chiến hào và sự lạnh lẽo của băng tuyết, chỉ viết về cái chết và máu- điều đó cũng giả dối nốt mặc dù nó là sự thật, nhưng chỉ viết về điều đó- mà quên đi tâm hồn, trái tim của những con người đang chiến đấu trong cuộc chiến tranh này”.Viết về chiến tranh là viết về thể nghiệm đời sống đau đớn của những người trải qua chiến tranh, đó là quan điểm nhân văn. Nhân vật chính của tiểu thuyết Bảo Ninh là Kiên đã suy nghĩ theo hướng khác: không đi học sĩ quan để “làm hạt giống cho cho những vụ mùa chiến tranh liên miên”, “sẵn sàng chịu mọi tai họa của chiến tranh, tuy nhiên không bao giờ là những người chủ chiến.” (tr.25). Đối diện với “đại gia đình những người tử trận, họ chung nhau một số phận”. “Không có người vinh kẻ nhục, không người hùng kẻ nhát, không có người đáng sống và kẻ đáng chết. Chỉ có người tên tuổi còn đó, người thì thời gian đã xóa mất rồi, và người thì chỉ còn chút xương, người thì đọng chút bùn lỏng. Dằng đặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết,lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh.” (tr. 33). Trong tiểu thuyết ông viết: “Chính nghĩa đã thắng, cái thiện cũng đã đánh bại cái ác, nhưng đồng thời, cái chết, bạo lực, sự tàn sát cũng thắng.” Trong bộ phim The Vietnam War của PBS (Mĩ), Bảo Ninh được phỏng vấn và ông trả lời: “Chiến tranh không có kẻ thắng, chỉ có hủy diệt, tan nát và vỡ vụn.” Một chỗ khác ông viết: “Đứng trước chiến tranh, mọi người đều là kẻ thua trận.” Rõ ràng quan điểm nhà văn là nhất quán. Tư tưởng của Bảo Ninh cũng gặp nhiều đồng điệu của đồng nghiệp. Nhà thơ Nguyễn Duy trong một tác phẩm đã viết: “Xét cho cùng sau mỗi cuộc chiến tranh, Phe nào thắng thì nhân dân đều bại.”[2] Với ý tưởng đó nhà văn đã thay đổi cách nhìn và cách viết.  

    Nhà văn Kiên trong tiểu thuyết không chấp nhận viết về chiến tranh theo kiểu “nhằm vào đầu nhau mà khạc đạn.” trong “thâm tâm luôn muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước.”(tr.70). Ông không miêu tả, kể chuyện về cuộc chiến, không kể lại bất cứ trận đánh nào, mà kể về suy nghĩ, cách ứng xử về cuộc chiến. Hiện lên trước mắt ta là nhân vật Kiên, người lính trinh sát năm xưa nay đi tìm và quy tập hài cốt các đồng đội đã hi sinh, với vô vàn hồi tưởng về những đồng đội và những cái chết, hồi tưởng về người yêu và tình yêu đã mất, với khát vọng viết lại “nội dung của lời trăng trối” của người lính chống Mĩ (tr.91). Ông không viết về chiến tranh, nên thoát khỏi khuôn sáo chủ nghĩa anh hùng của một thời. Trong tiểu thuyết của ông không có nhân vật nào xuất hiện như là anh hùng chiến trận cả. Ông không viết về thắng lợi như các tác phẩm viết để tuyên truyền. Ông cũng không viết theo kiểu con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy. “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời  một cách đủ ngành ngọn…”(tr. 72).

Ông từ bỏ phương pháp hiện thực xã chủ nghĩa với nhân vật điển hình, con người mới, chủ nghĩa anh hùng, hoàn cảnh điển hình, chi tiết điển hình trong quá trình phát triển của lịch sử,  mà viết theo dòng chảy của hồi ức và tâm trạng. Chi tiết hiện thực của ông rất nhiều, nhưng không sắp xếp theo thứ tự lí tính. Truyện của ông không có cốt truyện, không có trật tự thời gian tuyến tính, không có kết cục rõ ràng. Nhân vật của ông không sống hân hoan với thời đại mới sau chiến thắng chấn động địa cầu, mà sống với quá khứ. “Không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hi vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu giúp tôi, mà trái lại, những tấm thảm kịch của quá khứ đã nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những những tấn trò đời hôm nay.” (tr. 59). Người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông không điều khiển được cái viết, “không phải là anh, mà là một cái gì đấy đối lập, thậm chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi phạm, không ngừng lật ngược tất cả những  những giáo điều cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi,  mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của nghịch lí hiểm nghèo ấy của bút pháp.” (tr. 62). “Trong từng chương một Kiên viết về chiến tranh một cách rất tùy ý như thể ấy là  một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới, như thể cuộc chiến của riêng anh” (tr. 63). “Ngấm ngầm anh tin mình tồn tại ở đời với một thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt đối bí ẩn.” Kiên là một trường hợp điển hình  của chứng PTSD, chứng rối loạn tâm lí hậu chấn thương, và nhờ hồi tưởng, nhờ viết tiểu thuyết mà đã vượt qua cơn bệnh. Nhưng Kiên vẫn không phải là người đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết, mà phải là một người khác tỉnh táo hơn. Khi được hỏi, mối quan hệ giữa nhân vật Kiên và Bảo Ninh như thế nào, thì nhà văn trả lời:“Kiên là nhân vật hư cấu, hoàn toàn không phải tôi, đời sống và chiến đấu của anh ta cực kì khác tôi, nhưng Kiên cũng chính là tôi.” Kiên là nhân vật hư cấu, nhưng Kiên cũng chính là Bảo Ninh. Bảo Ninh đã thay đổi cách viết về chiến tranh. Những ai đã đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh sẽ không thể nào viết lại chiến tranh theo kiểu cũ được nữa.

    Toàn bộ tiểu thuyết được kể bằng ngôi thứ ba với điểm nhìn duy nhất của Kiên, và nhiều khi Kiên gạt bỏ luôn ngôi thứ ba để đứng ra kể chuyện xưng “tôi” theo ngôi thứ nhất, nhất là khi nói về cách viết tiểu thuyết. Chỉ có chương cuối cùng là lời của một người đọc đặc biệt xưng “tôi” biên tập lại bản thảo dang dở và đánh giá đúng bản thảo. Cái “tôi” này cũng chẳng phải ai xa lạ, rất có thể là cái “tôi” đã xuất hiện trong văn bản. Người đọc xưng “tôi” này đã vượt qua các định kiến của những người hàng xóm, coi Kiên là “nhà văn phường”, một kẻ dị biệt, thị dân, tiểu tư sản, cực đoan, bạc nhược, để hiểu được “có chung một nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ.” Toàn bộ tiểu thuyết được thể hiện bằng những hồi tưởng đứt đoạn của Kiên. Bảo Ninh thích dùng lối tạt lùi (Flashback) để nhớ lại một chi tiết ngắn của quá khứ, làm cho cả tiểu thuyết được dệt bằng các đoạn hồi tưởng ngắn và suy ngẫm. Sẽ là ngây thơ nếu ai đó tin vào lời của nhà văn Kiên trong truyện, để tin rằng tiểu thuyết viết lộn xộn, tuỳ tiện vô thức. Chính những tạt lùi ngắn ngủi đã băm vụn cuộc chiến đã qua, để không tái hiện hoàn chỉnh nó nữa, vì ai cũng đã biết hết, mà chỉ tái hiện các mảnh vụn, những mảnh ghép làm nên “cuộc chiến của riêng Kiên” và nỗi buồn của anh mà mọi người chưa biết. Điểm nhìn của nhân vật Kiên và của người kể chuyện Kiên không trùng khít, bởi điểm nhìn sau hàm chứa một thái độ phản tư, phân tích những gì đã nhìn thấy và hồi tưởng, một điểm nhìn hậu chiến, điểm nhìn của người đã ra khỏi cuộc chiến và suy tư về nó, vượt lên nó. Nhìn bề ngoài. tất cả các chương của cuốn tiểu thuyết đều song hành trên một mặt bằng thời gian, bất cứ lúc nào Kiên đều có thể trở đi trở lại với những thời điểm quen thuộc với anh trong cuộc chiến, như thể thời gian không trôi qua. Nhưng đọc kĩ, sẽ thấy, cốt truyện chủ yếu là câu chuyện viết tiểu thuyết của Kiên. Từ chuyện đi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ, Kiên nảy ra ý muốn kể lại lời trăng trối của những người đã mất, rồi tiếp theo là chuyện viết, cách viết, viết thâu đêm, viết rồi bỏ, chuyện vô vàn cái chết, chuyện gia đình của Kiên, chuyện tình tan vỡ của Kiên, chuyện Kiên bất lực với câu chuyện và biến mất, và kết thúc bằng môt ai đó biên tập tiểu thuyết và tiểu thuyết đã hoàn thành. Một siêu tiểu thuyết (metafiction), trong tiểu thuyết hàm chứa một tiểu thuyết, tiểu thuyết về ý thức đổi mới cách viết một đề tài.   Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh mang một chủ đề kép. Nó không chỉ nêu một cách nhìn khác về chiến tranh, mà còn đề xuất một cách viết về đề tài chiến tranh, đề xuất một đổi thay về phương pháp sáng tác nữa. 

   Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh còn là một tiểu thuyết xuất sắc về ngôn ngữ văn học. Toàn bộ tác phẩm không phải lời kể chuyện thông thường, mà là lời độc thoại của nhân vật mà người kể chuyện mượn để làm điểm tựa, lời của nhân vật Kiên. Vì thế đọc tiểu thuyết như là đọc lời bộc bạch, trữ tình, tâm sự của một tâm hồn. “Giấc mơ lay thức tâm hồn Kiên. Thì ra, anh, Kiên cũng có một thời trai trẻ trung, cái thời mà giờ đây khó lòng mường tượng lại được nữa, cái thời mà toàn bộ con người anh, nhân tính và nhân dạng, còn chưa bị bạo lực của chiến tranh hủy hoại, cái thời anh cũng ngập lòng ham muốn, cũng biết say sưa, si mê, cũng trải những cơn bồng bột, và cũng ngốc nghếch ngẩn ngơ, cũng từng ta nát cả cõi lòng vì tình yêu thương đau khổ, vì ghen tuông tủi hờn và cũng đáng được ưu ái như các bạn anh bây giờ. Chao ôi, chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà,  là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của giòng giống con người!” Câu văn dài với nhiều thành phần phụ, với các từ trùng điệp, lặp lại, ngân nga như thơ, như ru người đọc vào hồi tưởng mà chìm ẩn trong nhịp điệu ấy là nỗi niềm tiếc nuối vô hạn và nỗi buồn sâu thẳm. Có người tiếc là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh giàu chất trữ tình quá. Theo ông có lẽ phải viết với lời văn giễu nhại. Ý kiến đó theo tôi không đúng. Người ta có thể giễu nhại một cuộc cách mạng văn hóa kệch cỡm, nhưng không thể giễu nhại một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, thống nhất đất nước. Nhưng khúc trữ tình với khúc ai ca cũng có khác nhau. Nỗi buồn chiến tranh vẫn chỉ là nỗi buồn, nỗi đau, mà chưa phải là thể loại khúc ca, bài ca.

Hà Nội, 1 tháng 5 năm 2022.


[1] Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, bản 2011, Nxb Trẻ, người trích nhấn mạnh. Các trích dẫn trong bài này đều lấy từ bản sách này.

[2] Đề từ Bên thắng cuộc của Huy Đức.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s