GS. TS. NGND Trần Đình Sử

TRỌN ĐỜI VÌ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC CỦA ĐẤT NƯỚC

Không cứ là những người theo đuổi chuyên ngành Văn học, Lý luận văn học, rất nhiều thế hệ học sinh Việt Nam đã từng ít nhất một lần nhìn thấy hoặc nghe đến tên ông – GS.TS Trần Đình Sử. Bởi một lẽ đơn giản, ông từng tham gia biên soạn, chủ biên và tổng chủ biên của khá nhiều bộ sách trung học. Đối với nhiều thế hệ sinh viên, cử nhân chuyên ngành Lý luận văn học, ông không chỉ là một người thầy tâm huyết và tận tụy trên dòng sông tri thức mà còn là một nhà khoa học, một nhà lý luận – phê bình văn học, một nhà Thi pháp học đáng kính. Và trên hết, ông là một người công dân mang nặng trách nhiệm với sự nghiệp khoa học và giáo dục nước nhà.

Một hành trình trải nghiệm đáng giá

GS.TS Trần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 trong một gia đình viên chức nghèo tại thành phố Huế. Để rồi, vùng đất kinh đô xưa mang trong mình vẻ đẹp “chẳng nơi nào có được”, vừa cổ kính với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, vừa nên thơ với sông Hương, núi Ngự, biển Cảnh Dương,… lại thâm trầm sâu lắng với những điệu hát câu hò xưa, cứ thế thấm đẫm vào tâm tính và cốt cách ông.

Một thời ấu thơ với biết bao kỷ niệm vẫn in đậm trong tâm trí ông: “Tôi nhớ những ngày tháng Tám năm 1945, nhà tôi ở cửa Nhà Đồ, thành phố Huế, một hôm tự nhiên ba tôi đem về cờ đỏ sao vàng, đem cả gươm và dáo dài. Tôi nhớ đã cùng ba tôi đi xem vua Bảo đại thoái vị. Tôi được đỡ leo lên cột điện có dóng sắt đóng chéo rất đau chân để nhìn sang Ngọ môn”… Sau Cách mạng, gia đình ông chuyển ra Quảng Trị. Cha ông tham gia công tác trong uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh cho đến năm 1954 rồi tâp kết ra Bắc. Tại Quảng Trị, ông từng tích cực tham gia đội thiếu nhi cứu quốc xã, tham gia diễn kịch cương do các anh bên Ty công an tỉnh dàn dựng. Khi đến tuổi cắp sách tới trường, ông vào học ở trường tiểu học Triệu Nguyên. Hết lớp 4, năm 1952, ông được tỉnh uỷ Quảng Trị cho ra học ở Trại Thiếu sinh Quảng Trị tại Hà Tĩnh. Sau năm 1954 thì được chuyển sang trường Học sinh miền Nam, lúc đầu ở Diễn Châu, sau chuyển ra Đan Phượng, Hoài Đức rồi  Thượng Cát, Từ Liêm, sau đó thì về trường Phổ thông cấp 3 Hà Nội, rồi Nguyễn Trãi 3 Cửa Bắc. Trong suốt quá trình tích lũy kiến thức ấy, ông nhận ra thiên hướng và niềm yêu thích đặc biệt đối với văn học nghệ thuật trong con người mình. Để rồi, sau khi tốt nghiệp phổ thông Trung học, ông không ngần ngại mà chọn khoa Trung văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội làm nơi nuôi dưỡng ước mơ.

Tốt nghiệp Đại học với thành tích thủ khoa vào năm 1961, ông được trường Đại học Sư phạm Hà Nội giữ lại làm giảng viên. Một năm sau, ông được cử sang Trung Quốc tu nghiệp tại trường Đại học Tổng hợp Nam Khai, Thiên Tân, từ 10/1962 đến tháng 3/1965, sau đó chuyển về Bắc Kinh cho đến Cách mạng văn hoá thì về nước tháng 3/1966. Sau khi về nước, ông được cử vào dạy tại Bộ môn Lý luận văn học, Khoa Văn, trường Đại học Sư phạm Vinh. Khoảng thời gian ấy tuy là chiến tranh, trường học lại ở nơi chiến sự ác liệt, nhưng tinh thần miệt mài, say mê học tập, nghiên cứu của cán bộ giảng viên trong trường đã khích lệ ông rất nhiều. Cùng với những ảnh hưởng từ các đồng nghiệp, nhu cầu muốn dạy tốt bài học cho sinh viên càng thôi thúc ông miệt mài cố gắng.

Năm 1976, tạm gác lại công tác chuyên môn, ông sang Nga (Liên Xô cũ) làm nghiên cứu sinh tại trường Đại học Tổng hợp Kiev. Đến tháng 11/1980, ông bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ với đề tài “Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học” tại Viện văn học Ucraina. Trở về nước, năm 1981, ông được chuyển ra công tác tại Đại học Sư phạm Hà Nội – nơi đã dìu dắt những bước chân đầu tiên để ông đến với sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu khoa học, với niềm đam mê đặc biệt dành cho lĩnh vực Lý luận văn học.

Một hành trình đã đi qua với biết bao gập ghềnh, từ thuở ấu thơ trên quê hương hay qua nhiều vùng quê, đến thời sinh viên sôi nổi và tràn đầy nhiệt huyết trên giảng đường Đại học, cho đến những năm tháng đầu tiên chính thức bước chân vào sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu, tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau, GS.TS Trần Đình Sử đã từng tận mắt chứng kiến biết bao biến động, sự kiện lịch sử của đất nước, của thế giới, mà mỗi sự kiện, mỗi giai đoạn đều giúp ông nhận ra nhiều điều thú vị trong lĩnh vực mình đang theo đuổi. Đó là những ngày chiến tranh leo thang, phá hoại của Đế quốc Mĩ; ngày cả nước tang tóc khi Bác Hồ từ trần; ngày vui toàn thắng, cả Hà Nội đổ ra Bờ hồ Hoàn Kiếm ăn mừng, rồi ngày thống nhất đất nước… Ông cũng chứng kiến cả những ngày đất nước triền miên trong gian khổ khi vừa mới bước ra khỏi chiến tranh, cùng với cả nước tham gia vào công cuộc đổi mới… Để rồi, mỗi giai đoạn đều đánh dấu bước chuyển mình nhất quán trong sự nghiệp của ông.

Trọn đời vì sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp khoa học đất nước và dấu ấn mang tên “Thi pháp học”

Để nói hết về những đóng góp của GS.TS Trần Đình Sử cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của đất nước thì quả thật rất khó cho những người viết về ông. Bởi nó là vô giá, là một hành trình không có điểm dừng. Trong một bài viết giới hạn, chúng tôi chỉ có thể điểm qua một số dấu ấn tiêu biểu.

Kết tinh sự nghiệp của GS.TS Trần Đình Sử trước hết phải kể đến lĩnh vực lý luận – phê bình văn học. Ông là một trong số không nhiều những cây bút nghiên cứu, phê bình văn học xác lập được tư tưởng học thuật của mình. Tên tuổi của GS.TS Trần Đình Sử gắn với xu hướng nghiên cứu, phê bình theo hướng thi pháp học hiện đại. Ông là người đi tiên phong trong việc giới thiệu một cách hệ thống và đầy đủ thi pháp học hiện đại với tư cách một bộ môn khoa học từ lý thuyết đến diện mạo, tinh thần, thao tác nghiên cứu. Ông giới thiệu thi pháp học vào Việt Nam, soạn chuyên đề, dịch sách, hướng dẫn nghiên cứu, tự mình viết các chuyên luận… Nhà nghiên cứu văn học Lã Nguyên từng nhận xét về GS.TS Trần Đình Sử: “Ông xứng đáng được gọi là nhà thi pháp học Việt Nam. Có thể gọi như thế, trước hết vì gần như suốt đời, ông gắn bó với nó…”. Toàn bộ công trình nghiên cứu thi pháp học của ông có thể chia thành ba nhóm: Lịch sử thi pháp học; Lí thuyết về thi pháp học và Nghiên cứu thi pháp tác giả, tác phẩm, thi pháp thời đại văn học.

Khác với xã hội học Mác xit, thi pháp học là chuyên ngành nghiên cứu văn học như một nghệ thuật, giúp khám phá những sáng tác. Thi pháp học nhấn mạnh đến nguyên tắc sáng tạo văn học lạ hoá và hư cấu, tạo ra một chỉnh thể có tính kí hiệu. Nó nghiên cứu thi pháp như hệ thống các phương thức, phương tiện tạo nên tác phẩm nghệ thuật, khẳng định tính quan niệm, tính chủ thể của sáng tác, nhận rõ sự khác biệt giữa hình tượng nghệ thuật với các hình ảnh sao chép giản đơn từ thực tế, từ đó chỉ ra nội dung, tính sáng tạo và cá tính của nghệ sĩ. Như thế thi pháp học góp phần khắc phục quan niệm phản ánh giản đơn và xã hội học dung tục, xác nhận tính chỉnh thể trong sáng tạo văn học.

GS.TS Trần Đình Sử đến với thi pháp học bắt đầu từ thực tế lý luận văn học những năm 60. Đó là khi ông bắt đầu giảng dạy Lý luận văn học tại trường Đại học Sư phạm Vinh và nhận thấy những điểm bất cập trong các giáo trình giảng dạy. Đó là sự sơ lược, nặng về các nội dung chính trị, thiếu nội dung khoa học về nghệ thuật. Lý luận ấy chỉ quan tâm chủ yếu tới các thuộc tính xã hội của văn học mà ít quan tâm tới tính nghệ thuật. Qua các khái niệm về đặc trưng, tác phẩm, thể loại, lí luận ấy không dạy người ta cảm nhận được cái hay, cái thú vị của tác phẩm văn học… Và rồi, ông bắt đầu nghiên cứu các vấn đề mĩ học như cái đẹp, phong cách, tính chủ quan, tính sáng tạo của văn học. Ông học tiếng Nga và đọc các tài liệu của Bakhtin, Likhachev, Pospelov… đăng trên các tạp chí Nga hồi ấy. Trước đó, trong thời gian tu nghiệp ở Trung Quốc, ông cũng đã đọc nhiều tác phẩm lý luận nước ngoài. Sau đó, ông đã viết một tiểu luận 100 trang về “Đặc trưng của văn học như là chỉnh thể” vào năm 1971. Tiểu luận nhận được sự đánh giá cao của giới chuyên môn khi phân biệt hình tượng tái hiện, hình tượng tượng trưng và hình tượng sáng tạo, phân biệt khái quát nhận thức và khái quát nghệ thuật… Đây có thể coi là dấu mốc vô cùng ý nghĩa trong sự nghiệp chuyên sâu về Thi pháp học của GS.TS Trần Đình Sử.

Sau khi bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ tại Liên Xô và trở về nước, bắt đầu giảng dạy ở Bộ môn Lý luận văn học tại Đại học Sư phạm Hà Nội từ giữa những năm 60 của thế kỷ XX, ông dần dần nhận thấy tính chất công thức, sơ lược của lý thuyết theo quan điểm mĩ học Mác-Lênin thời ấy, chủ yếu dạy về quan điểm triết học và chính trị, không giúp nhiều cho người học thấy được đặc trưng, sự phong phú, vẻ đẹp cũng như giá trị văn hoá của sáng tác văn học. Nhờ tự học tiếng Nga và đọc các sách báo Nga hồi ấy, ông nhận ra giới trí thức Liên Xô đã có một bộ phận đi tìm những con đường tiếp cận mới, trong đó có Thi pháp học và ông cũng xác định được hướng đi rõ ràng cho mình. Tháng 5/1981, ông công bố bài tiểu luận “Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều”. Đến năm 1982, ông tiếp tục cho công bố bài tiểu luận “Cái nhìn nghệ thuật trong Truyện Kiều” và được giới nghiên cứu chú ý, đánh giá cao. Hướng nghiên cứu của ông đã mở ra triển vọng mới trong việc khắc phục lối nghiên cứu xã hội học tầm thường và sơ lược. Sau đó, ông mở chuyên đề Dẫn luận thi pháp học tại Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội và gây được tiếng vang lớn. Năm 1983, Hội đồng lí luận và Hội nhà văn, các bộ môn văn học trong và ngoài trường mời ông báo cáo. Bộ Đại học cũng tổ chức Hội thảo cho cán bộ các Khoa Ngữ văn, do ông và GS.TS Nguyễn Kim Đính báo cáo. Năm 1985, ông hoàn thành chuyên luận trên 300 trang về “Thi pháp thơ Tố Hữu”. Đây được coi là cuốn sách thành công nhất về sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu khi GS.TS Trần Đình Sử đã chỉ ra chất thơ và hệ thống nghệ thuật độc đáo trong những sáng tác được coi là “Biên niên sử của cách mạng Việt Nam”.

Năm 1988, lần thứ hai ông quay trở lại Nga tu nghiệp. Lần này, ông đã có dịp đọc thêm nhiều sách báo khoa học của Nga thời cải cách của họ. Sau khi về nước vào năm 1990, ông được tín nhiệm bầu làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, đảng ủy viên khoa. Công việc bận rộn hơn nhưng ông vẫn luôn miệt mài với công tác nghiên cứu khoa học. Từ 1985, ông bắt tay vào việc viết lại giáo trình lý luận văn học vì giáo trình cũ đã trở nên lạc hậu. Các phần ông viết đã góp phần đổi mới nội dung dạy học, đưa vào những nội dung trước đó chưa có. Đảm nhận cương vị Chủ nhiệm khoa một khoá, đến năm 1995, ông viết đơn xin thôi, để dành sức cho chuyên môn. Cho đến nay, ông đã hoàn thành trên 10 cuốn chuyên luận, ngoài “Thi pháp thơ Tố Hữu” còn có các cuốn tiêu biểu như Thi pháp văn học trung đại (1998), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995), Văn học và thời gian (2001), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại (1993), Thi pháp Truyện Kiều (2002), Đọc văn học văn (2001), Lí luận và phê bình văn học (1996), Trên đường biên của lí luận văn học (2014), Tự sự học Lí thuyết và ứng dụng (2017, chủ biên), Dẫn luận thi pháp học (2004, 2017)… Nhà nghiên cứu văn học Lã Nguyên nhận xét về cuốn“Thi pháp truyện Kiều” của GS Trần Đình Sử: “cuốn sách của Trần Đình Sử đầy những phát hiện; phát hiện nào cũng sâu sắc góp phần nâng sự hiểu biết và trình độ cảm thụ của người đọc đối với Truyện Kiều lên một tầm cao mới”. Còn về cuốn “Trên đường biên của lí luận văn học”, ông nhận xét: “Tôi gọi đây là cuốn sách bàn luận về sự khủng hoảng của lí luận văn học và suy ngẫm, tìm kiếm lối thoát cho sự khủng hoảng ấy”

Bên cạnh những chuyên luận, GS.TS Trần Đình Sử còn có trên 250 bài báo khoa học. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả uy tín. Những công trình dịch của ông về lĩnh vực lý luận – phê bình văn học cũng chính là những cuốn cẩm nang cho những người học tập và làm công tác nghiên cứu văn học nhiều thế hệ. Những công trình dịch tiêu biểu nhất của ông phải kể đến như “Dẫn luận nghiên cứu văn học” (G. N. Pô-xpê-lốp, đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng); “Những vấn đề thi pháp Đốt-tôi-ép-xki (M. Ba-khơ-tin, đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn); “Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc” (I. N. Li-xê-vích)…

Qua quá trình nghiên cứu, GS.TS Trần Đình Sử đã đề xuất ba phạm trù chủ chốt trong thi pháp học là “hình thức quan niệm”, “quan niệm nghệ thuật về con người” và “thế giới nghệ thuật”. Đây là sự sáng tạo độc đáo của ông trên cơ sở tiếp nhận lí thuyết văn học Nga. Ở cấp độ văn bản hình tượng, ông tiếp cận sáng tác văn học từ hai bình diện tổ chức chủ quan, trong đó ông thường sử dụng các khái niệm “hình tượng tác giả”, “kiểu tác giả”, “kiểu nhà thơ”, có hình tượng tác giả của thể loại văn học, lại có kiểu tác giả trung đại, cận đại, hiện đại… ; và bình diện tổ chức khách quan thường được mô tả chủ yếu bằng hai phạm trù “không gian và thời gian nghệ thuật”… Như vậy, ông đã tạo ra một hệ thống dày đặc các khái niệm và phạm trù thi pháp học, trao cho chúng những nội hàm xác định, xây dựng được một tòa nhà thi pháp học bề thế, cân đối và hoàn chỉnh. Ông đã khắc phục tận gốc sự chia cắt cứng nhắc, giả tạo hình thức và nội dung từng tồn tại dai dẳng bao nhiêu năm kìm hãm lý luận và cả sáng tác văn học ở ta. Phải đặt vào mạch thi pháp học truyền thống và trên cái nền của nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam ở đầu những năm 80 của thế kỉ trước, mới thấy hết tính chất cách tân và bước đột phá của hướng tiếp cận thi pháp học trong những công trình nghiên cứu của ông. Trong các tư tưởng và công trình của GS.TS Trần Đình Sử có nhiều dấu ấn của văn học Nga. Tuy nhiên, ông không mô phỏng, bắt chước bất kỳ hệ thống lý thuyết nào của các học giả Nga. Ông tiếp thu các lý thuyết hiện đại, biến chúng thành tri thức, sử dụng chúng như công cụ khám phá chất liệu là văn học dân tộc, Việt hóa chúng triệt để, để sáng tạo ra thi pháp học mang hồn vía của riêng mình, tạo ra một hệ thống lý thuyết làm việc, giúp cho việc sử dụng thuận tiện và thiết thực. Chính điều đó giải thích vì sao suốt nhiều năm nay, các công trình nghiên cứu thi pháp học của GS.TS Trần Đình Sử có sức hấp dẫn mạnh mẽ đến thế đối với giới nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam.

Là một nhà nghiên cứu lý luận – phê bình văn học nhưng GS.TS Trần Đình Sử vẫn luôn là một người thầy chuyên tâm, tận tụy với công tác chuyên môn là giảng dạy, đào tạo, gắn bó trước sau với sự nghiệp giáo dục của đất nước. Ông đã đào tạo hàng nghìn sinh viên cùng rất nhiều Thạc sĩ và Tiến sĩ ngữ văn. Ông bắt đầu tham gia đào tạo sau đại học từ năm 1981, bắt đầu đào tạo tiến sĩ từ năm 1991. Cho đến nay, ông đã hướng dẫn cho trên 30 Tiến sĩ bảo vệ luận án thành công. Trong số đó, có nhiều người đã trở thành Thứ trưởng, Viện trưởng, Trưởng Phó khoa, Hiệu trưởng trường chuyên, Phó chủ tịch tỉnh và phần lớn là giảng viên các trường Đại học. Ngoài ra, ông còn làm chủ biên và tham gia viết nhiều giáo trình Đại học, sách giáo khoa THPT và THCS. Nếu tính tất cả các sách mà ông đã viết và chủ biên cho Đại học và Phổ thông thì có khoảng hơn 150 cuốn. Ông đã tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa đổi mới từ năm 1990 đến năm 1994. Sau đó lại được mời chủ trì biên sọan chương trình THPT mới, tham gia biên soạn sách giáo khoa THCS, rồi sau đó là tổng chủ biên bộ sách giáo khoa THPT cho đến năm 2006… Bên cạnh đó, ông còn là chủ biên của 6 cuốn giáo trình được tái bản nhiều lần. Trong quá trình biên soạn chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn THPT, ông đã đóng góp nhiều ý kiến về khoa học giáo dục, trở thành một chuyên gia được mời tham khảo ý kiến của Bộ. Ông đặc biệt chú trọng đến sự thay đổi lối giảng văn cũ kĩ chủ yếu là dạy đọc chép, khắc phục cách hiểu môn văn hẹp hòi chỉ là đọc các áng văn, thơ và đề xuất cách hiểu văn nghĩa rộng. Bằng cách đó học sinh biết tiếp cận với các loại văn bản có nội hàm văn hoá của dân tộc để sau khi tốt nghiệp học sinh không xa lạ với văn hoá nước nhà và khoa học hiện đại.

Vốn nặng lòng với sự nghiệp khoa học và giáo dục đất nước, năm 2008, ông về nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên Cao học, viết báo cáo, tranh luận trên báo chí. Ông quan niệm, khoa học cũng như mọi sự trên thế giớí đều không ngừng thay đổi, thi pháp học cũng thế. Giải thưởng cho tác phẩm “Tiến ra đường biên của lý luận văn học” mà Hội Nhà văn Hà Nội trao cho ông chính là minh chứng cho những nỗ lực không ngừng nghỉ của ông trong nghiên cứu. Và dù tuổi đã cao, sức khỏe chẳng còn dẻo dai nhưng ông vẫn tích cực với các hoạt động xã hội. Ông vào Hội nhà văn năm 1990, sau đó tham gia vào Hội đồng lý luận phê bình văn học của Hội nhà văn Việt Nam liên tục cho đến 2014. Ngoài ra, ông còn được mời tham gia Hội đồng lí luận văn học nghệ thuật Trung Ương từ năm 2003 đến năm 2012. Tham gia Hội đồng bộ môn Ngữ văn của Bộ giáo dục nhiều khoá…

Bằng những cống hiến miệt mài cho đất nước, ông đã vinh dự nhận được những phần thưởng xứng đáng như: Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (2000); Giải thưởng Văn học của Hội nhà Văn Việt Nam (1997); Giải thưởng Văn học của Hội nhà Văn Hà Nội (2015); Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; Giải thưởng Văn hoá Phan Châu Trinh ở hạng mục nghiên cứu có giá trị lâu dài (2017); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Huân chương Lao động hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Ba… Năm 1990, ông được phong hàm Phó Giáo sư, đến năm 1996, ông nhận học hàm Giáo sư. Năm 2008 ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, năm 2010 được chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

Nhìn lại chặng đường sự nghiệp trải qua hơn nửa thế kỷ của GS.TS Trần Đình Sử, bất cứ ai cũng có thể thấy được những đóng góp to lớn của ông cho sự nghiệp giáo dục và khoa học, đặc biệt là khoa học lý luận – phê bình văn học Việt Nam. Chẳng thế mà có người từng ví, ông giống như một con nhện miệt mài giăng tơ, dệt nên cả một tấm thảm mênh mông của nền lý luận – phê bình văn học Việt Nam đương đại. Hậu bối có người học ông, có người không được học ông, nhưng các trang lý luận phê bình có giá trị suốt mấy chục năm qua gần như phải đặt trên tấm thảm tiền định ấy…

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s