HÀ MINH ĐỨC – NGƯỜI TỔNG HỢP TRI THỨC

Giáo sư Hà Minh Đức thuộc thế hệ xây nền đắp móng cho ngành nghiên cứu văn học Việt Nam còn non trẻ bên cạnh các ông Phan Cự Đệ, Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Trinh, Vũ Đức Phúc, Phong Lê, … Từ những năm 60 thế kỉ trước, ông đã viết giáo trình đại học. Có thể nói ông là nhà phê bình văn học viết nhiều nhất trong các nhà phê bình văn học hiện đại Việt Nam. Ngòi bút của ông xông xáo bao quát một phạm vi rất rộng từ tư tưởng lí luận văn nghệ của các nhà kinh điển Mác Lênin, đến toàn bộ sự nghiệp trước tác của Hồ Chí Minh gồm văn, thơ, báo chí, văn chính luận, đường lối văn nghệ của đảng cộng sản Việt Nam. Từ Tự lực văn đoàn đến phong trào thơ mới, từ các nhà văn hiện thực trước năm 1945 đến thơ văn các tác giả qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và sáng tác trong chế độ mới, từ lí luận phê bình đến sáng tác thơ, sáng tác kí, hồi kí, thơ, viết chân dung đồng nghiệp, từ lĩnh vực văn học sang lĩnh vực báo chí, rồi chủ biên rất nhiều bộ sách, viết rất nhiều bài phê bình, tham gia rất nhiều hội thảo, trở thành nhiều ủy viên hội đồng rất sang trọng của nhà nước. Mối thâm tình với các nhà thơ văn nổi tiếng cũng để lại cho ông những tập ghi chép trò chuyện văn thơ lí thú. Ngoài ra, là một nhà giáo ông cũng viết, chủ biên nhiều giáo trình lí luận văn học, viết tác phẩm bình văn dành cho các em trên ghế nhà trường. Có lẽ chỉ có các sáng tác thơ văn của các tác giả từ ngày Đổi mới đến nay là ông ít quan tâm. Ông cũng ít tham gia các cuộc tranh luận lí luận văn nghệ. Ngoài lí luận văn học Mác Lênin và đường lối văn nghệ của đảng ông nói chung ít khi vận dụng, trích dẫn bất cứ trường phái lí luận văn học hiện đại nào trên thế giới.

   Hà Minh Đức sinh năm 1935, quê tại xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp văn năm 1957, được giữ lại làm giảng viên đại học từ đó, tính đến nay đã 65 năm cầm bút. Đó là 65 năm miệt mài, chăm chỉ lao động. Điều thú vị là lúc nào ông cũng tìm thấy hứng thú để viết, viết nữa, viết mãi cho tới nay.

    Trong sự nghiệp của Hà Mình Đức, việc viết về quan điểm văn nghệ Mác Lênin và đường lối văn nghệ của đảng là một nhiệm vụ quan trọng. Ông đã có một chuyên luận trình bày các quan điểm kinh điển đó. Đáng chú ý nhất là công trình lí luận về thơ, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974)[1] mà Chế Lan Viên nói trong lời Tựa, loại này còn “ít lắm”, mà đến bây giờ vẫn chưa nhiều hơn. Cuốn sách xuất phát từ các quan điểm về thơ của Hồ Chí Minh Nay ở trong thơ nên có thép, của Sóng Hồng (Trường Chinh), cuả Tố Hữu Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí, thì dù có bàn gì đi nữa cũng không thể ra khỏi các định hướng đó. Đích đến của công trình là khẳng định khả năng phản ánh hiện thực khách quan, thể hiện tình cảm cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, viết về cái mới xã hội chủ nghĩa. Vì thế ngay trong mục Xung quanh một định nghĩa về thơ, Hà Minh Đức đã không khẳng định tính chất mơ hồ đa nghĩa (ambiguité) của thơ (tr.22) mà tìm cách dung hòa ý của Trường Chinh với tính chất của thơ: “tư tưởng rõ nét”, “mục tiêu xác định”, nhưng thể hiện ẩn hiện trong dòng chữ để khêu gợi trí tưởng tượng (tr.33), thiết nghĩ đó thực ra là định nghĩa phù hợp với đặc trưng của thơ tuyên truyền hơn. Bởi hạt nhân của trữ tình chính là tình cảm, chứ không phải “tư tưởng”, “mục tiêu”. Trong chất thơ ông nhấn mạnh đến “cảm xúc trực tiếp” từ đời sống, kiểu Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi, “thơ là tiếng lòng, nhưng cũng là cuộc sống” để khẳng định tính hiện thực của thơ. Tuy nhiên vấn đề phức tạp hơn. Các cảm xúc trực tiếp như căm thù, ghét, yêu, buồn cười, chán…không thể làm ngay ra thơ, bởi thơ là nghệ thuật gián tiếp, chỉ khi cơn giận trực tiếp qua đi thì nhà thơ mới viết được về thể nghiệm cảm xúc của mình. Người ta vẫn nói phong cách của thơ là “sự hồi tưởng”(E. Shtaiger, Các khái niệm cơ bản của thi pháp). Ở mục nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ, trước tiên ông nhấn mạnh “đời thơ và đời cách mạng là một”. Đứng trước các quan niệm phân biệt nhà thơ và cái tôi trong thơ, ông tìm cách dung hòa và kết luận, chúng “không đồng nhất, nhưng hoàn toàn thống nhất” (tr. 72). Điều đó là đúng, vì trong thơ nhà thơ luôn nắm quyền chi phối phát ngôn trong thơ, cái tôi có nhiều hình thức biểu hiện, khi thì trực tiếp, khi thì nhập vai. Chương Cảm xúc và suy nghĩ trong thơ là một chương quan trọng, đặc sắc, thể hiện nhiều suy nghĩ sâu sắc của tác giả về thơ trữ tình, nêu ra nhiều vấn đề thực tế của loại thơ này rất đáng quý. Đáng tiếc là tác giả không phân biệt tình cảm và cảm xúc. Tình cảm là nền tảng của thơ, cảm xúc là nghĩa tố của thơ. Cảm xúc là mối cảm gắn với tiếp xúc, kích thích tạo ra nghĩa và kiến tạo nên kết cấu, cấu tứ.  Chương Vấn đề phản ánh hiện thực ở trong thơ khẳng định mối quan hệ thơ với hiện thực là đúng, nhưng thường xuyên phản đối các khuynh hướng thơ khác là cái mode thời đại vô sản hẹp hòi, thu hẹp lĩnh vực của thi ca. Là người có tri thức rộng, Hà Minh Đức không phủ nhân yếu tố phi lí tính trong thơ. Nhưng ông mô tả thơ như môt quá trình nhận thức, khái quát cũng phủ nhận thơ như là một trực giác. Tác giả phê phán khuynh hướng thi vị hóa hiện thực trong thơ, cũng như khuynh hướng tuyệt đối hóa hiện thực trong thơ kiểu Xuân Diệu. Có lẽ cái khuynh hướng giới hạn thơ trong quan niệm phản ánh duy vật này đã khiến cho Chế Lan Viên, khi viết Tựa cho sách này đã nói, ông giới thiệu sách này, nhưng không có nghĩa là ông đồng nhất với quan điểm của tác giả. Ông nói thêm, nếu đồng nhất như thế thì không ai dám viết lời tựa cả. Chương sáu Truyền thống và sáng tạo trong thơ mang các nội dung quen thuộc. Chương cuối dành cho Hình thức của thơ. Lời đầu chương là nêu cao khẩu hiệu chống chủ nghĩa hình thức trong thơ như một nghi thức để xác định lập trường và những dặn dò về thống nhất nội dung hình thức đầy ở các trang nghe rất nhàm chán. Quan niệm hình thức thơ của ông rất đơn giản, thể thơ, dòng thơ, nhịp thơ, kết cấu thơ. Đọc các trang này ta thấy ông hoàn toàn xa lạ với các suy nghĩ về thơ trên thế giới. Cuốn sách đã thể hiện một cố gắng lớn của Hà Minh Đức để xử lí một đề tài lớn và khó, nhất là phù hợp với diễn ngôn lí luận xã hội chủ nghĩa về thi ca đương thời. Ông không quan tâm đến lí thuyết hình thức chủ nghĩa về thơ của R. Jakobson. Ông thể hiện một sự hiểu biểu biết sâu rộng về thơ và có vốn tri thức về thơ nước ngoài đã qua bộ lọc lí luận xô viết, đối với một người chưa đến 40 tuổi thật là đáng quý. Môt công trình có tính khảo cứu như vậy đối với Hà Minh Đức và đương thời phải nói là tương đối hiếm.

        Về hình thức thơ ca ông cũng có viết chung với Bùi Văn Nguyên Thơ ca Việt nam, hình thức và thể loại (1971), ông phụ trách phần viết về hình thức thể loại thơ mới. Có nhiều ví dụ hay, rất đáng quý.

        Ngoài những cuốn sách vừa nêu, có thể kể Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc, viết năm 1961, khi ông mới 26 tuổi. Tiếc là nhãn quan xã hội học mác xít,cái nhìn giai cấp luận nặng nề đã không cho ông đi sâu hơn vào nghệ thuật và tư tưởng của Nam Cao. Cách tiếp cận này lẽ ra phải được vượt qua từ lâu, mà vẫn còn tồn tại dai dẳng.

        Đề tài lớn của Hà Minh Đức là thơ văn Hồ Chí Minh. Ông đã viết Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc (1979), Tác phẩm văn của chủ tích Hồ Chí Minh (1985), Báo chí Hồ Chí Minh (2000). Về văn học trước 1945, ông viết Một thời đại trong thi ca (1996) về phong trào thơ mới, Khảo luận văn chương (1998) đề cập tới  phong trào thơ mới, dòng văn học lãng mạn, dòng văn học hiện thực, kịch nói. Nhìn lại văn học Việt Nam 1900 – 1945 (Xem tuyển tập, do Trần Khánh Thành tuyển chọn và viết lời Bạt[2]), ông phân tích hầu hết các tác phẩm văn chính luận tiểu phẩm, tiểu thuyết trong giai đoạn này.

      Trong thời đổi mới Hà Minh Đức cũng cố gắng đổi mới cách nhìn đối với các hiện tượng văn học. Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê (1994) thê hiện một cái nhìn từ phương diện văn hóa. Nam Cao đời văn và tác phẩm (1996), nghiên cứu các mặt phân tích tâm lí, tự phê phán, phong cách độc đáo, tầm quan trọng của hoàn cảnh trong sáng tác của nhà văn Nam Cao. Đây là một cố gắng để vượt lên cuốn sách năm 1961. Về văn học thời đại mới ông viết Thơ Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (Xem tuyển tập), bao quát hết sáng tác của các nhà thơ tiêu biểu. Văn xuôi Việt Nam sau cách mạng tháng Tám bao quát hết các tác giả tiểu biểu cho đến trước thời đổi mới. Kí viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1980). Về văn học nhà trường ông cũng có sách Nhà văn và tác phẩm. Trừ các bài phê bình tác phẩm văn học, thể hiện cách đọc riêng của ông, phần lớn các chuyên luận của ông đều có tính biên soạn, tổng hợp và tổng kết. Chẳng hạn thơ ca Hồ Chí Minh được phát hiện từ năm 1960, nhưng năm 1979 ông mới ra chuyên luận Hồ Chí Minh nhà thơ lớn của dân tộc. Ở chuyên luận này với 7 chương ông khái quát những vấn đề lớn nhất trong thơ của Hồ Chí Minh. Thơ Mới đã được nhìn lại từ sau năm 1985, thì  đến năm 1996 ông mới có chuyên luận Một thời đại trong thi ca (1997) tập hợp các bài viết cùng chủ đề. Trong tập này Hà Minh Đức có 10 bài tiểu luận bàn về tình yêu quê hương đất nước, giá trị nhân bản, thơ lãng mạn và 7 bài bàn về bảy nhà thơ. Không có mục nào bàn về tác hại của thơ mới. Quan trọng nhất là bài Khải luận vốn là bài viết cho Tổng tập văn học Việt Nam tập 27 năm 1989 về thơ Mới. Đây là một nổ lực rất lớn để viết về thơ Mới sao cho thỏa đáng hơn sau bao năm nó bị vùi dập, thể hiện quan điểm đổi mới của ông. Xuất phát từ quan điểm xã hội học ông vẫn khẳng định thơ mới thuộc “ý thức hệ tư sản,” vẫn là thơ “lãng mạn thoát li”, “quan điểm sáng tác của các nhà thơ lãng mạn có nhiều mặt hạn chế” nhưng đã cố gắng mềm hóa các nhận định, phân tích sự gắn bó với đời sống của thơ mới, thậm chí khẳng định “Nguyễn Bính có quan niệm sáng tác thi ca không lãng mạn thoát li mà gắn bó với cuộc đời”. “Cách cảm nhận của nhiều nhà thơ đã đi vào bề sâu của sự sống, tiếp cận với nhiều mặt cụ thể của hiện thực”. Ông cũng có ý bỏ nhận định thơ mới là đồi trụy. Có khi liên hệ thơ và thực tại, ông nói như tự mâu thuẫn: “Thơ mới không phải là tiếng nói thoát li đã quên lãng đi thực tại ấy, mà là tiếng nói buồn thương trước cuộc đời” (tr.11). Đó là một thay đổi đáng quý theo quan niệm xã hội học. Theo tôi mệnh đề xem “thơ mới là thoát li thực tại” là đánh giá thơ mới theo tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực, chứ không phải theo mĩ học của chủ nghĩa lãng mạn. Trong lí thuyết phương Tây khái niệm chủ nghĩa lãng mạn hiện không rõ ràng. Từ điển thuât ngữ văn học của M. H. Abrams[3] không có thuật ngữ này, sách Dẫn giải ý tưởng văn chương của Henri Benac[4] chỉ một trạng thái tâm hồn. Theo đó khi Xuân Diệu nói: “Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ, mà vạn vật là muôn đá nam châm” thì ông cũng gắn với hiện thực theo cách lãng mạn. Vấn đề lãng mạn trong văn học Việt nam có lẽ nên có cách xem xét khác với quan niệm ý thức hệ, chính trị, thì mới mong có sự nhận thức thật thỏa đáng trọn vẹn. Trong tập Tự lực văn đoàn, trào lưu và tác giả (2007) ông có 270 trang viết về văn đoàn này, và hơn 300 trang tuyển các bài viết nhiều chiều của các tác giả tiền chiến, hậu chiến, miền Bắc, miền Nam trước 1975. Trong mục Khái quát chung về Tự lực văn đoàn Hà Minh Đức chống khuynh hướng “đề cao quá mức” của Phạm Thế Ngũ, chống phê phán “cực đoan” của Vũ Đức Phúc, nhưng vẫn trên nguyên tắc đánh giá có tính chính trị của Trường Chinh đã nêu. Nghĩa là về nguyên tắc chính trị thì không thay đổi. Ông lấy ý kiến của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao để bác lại Phạm Thế Ngũ, thì theo tôi, vẫn là ý kiến của trường phái văn học này chống trường phái văn học kia, chứ không phải là ý kiến đánh giá của nhà nghiên cứu. Từ năm 1989 trong hội thảo chuyên đề nhiều nhà văn đã đánh giá lại có mức độ hơn, song vẫn đối lập với chủ nghĩa hiện thực. Trong chương Xu hướng dân tộc và chống lễ giáo phong kiến trong văn chương Tư lực văn đoàn có 2 ý: 1. Xu hướng dân tộc và 2. Sự giải phóng cá nhân và cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến. Hà Minh Đức ở đây cũng dựa vào ý kiến người khác để nói hơn là nêu ý của mình. Chương Nghệ thuật văn xuôi Tự lực văn đoàn gồm 18 trang nói về nghệ thuật tiểu thuyết, gồm cốt truyện, nhân vật, tả cảnh thiên nhiên, vừa nghèo nàn, vừa trùng lặp chương Thế giới nhân vật ở trên, vì tác giả là chuyên gia về thơ, chưa có quan niệm đầy đủ về nghệ thuật của tiểu thuyết. Trong tập này có tám bài phân tích tám tiểu thuyết Tự lực văn đoàn khá tốt, có thể giúp người mới học cảm nhận được nội dung của mỗi tác phẩm.

 Trong phong trào Đổi mới Hà Minh Đức cũng có bài Nhìn lại tác phẩm Mười năm của Tô Hoài và Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan. Trong bài Văn học trong tiến trình đổi mới (1997), ông chỉ ra nhược điểm của văn học cách mạng và xã hội chủ nghĩa, như con người lí tưởng, mang tính xã hội, ít nói đến con người cá nhân, đời sống nội tâm, tâm linh của nó. Văn học thể hiện lí tưởng thì rơi vào giả tạo, mơ tưởng…Đây cũng vẫn là ý kiến chung của nhiều người lúc ấy. Qua các trang viết người ta thấy Hà Minh Đức đọc rất kĩ, tư liệu nhiều khi rất phong phú, cụ thể và uyên bác, nhưng các công trình thường không có lịch sử vấn đề, ít có thư mục tham khảo, cho nên các công trình của ông chủ yếu là sự tổng hợp đầy đủ những tri thức thời đại về các hiện tượng văn học của một thời, ít có những nhận thức riêng in dấu ấn đậm nét của ông. Tác phẩm của ông thường rất bao quát, nhưng khi muốn tìm một vài nhận định riêng của ông thì không dễ. Các công trình viết như vậy có tính cách tri thức đại chúng, nó có thể làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên, có thể thành chuyên luận, có thể đem in trong các dịp kỉ niệm các nhà văn hay hiện tượng văn học nơi không gian công cộng. Tuy nhiên giáo sư Hà Minh Đức là nhà nghiên cứu có khuynh hướng rõ nét. Bởi vì tri thức của ông dừng lại trước một số hiện tượng văn học đổi mới. Bài viết về Nguyễn Minh Châu của ông chỉ dừng lại với Dấu chân người lính, mà chưa sang tới Bến quê. Không thấy ông viết tới các văn học thời đổi mới, sách của ông hình như không có bóng dáng của Nguyên Huy Thiệp, Bảo Ninh…, sách của ông cũng chưa đề cập tới văn học miền Nam trước 1975. Điều này cũng bình thường, bởi mỗi người có giới hạn của mình. Càng về cuối đời nhà nghiên cứu có khuynh hướng nghiên cứu các hiện tượng nghệ thuật, không lặp lại di sản xã hội học thời đầu, nhưng do chưa có chuẩn bị, nên thành quả còn hạn chế.

      Trong đời văn của Hà Minh Đức, ông có mối liên hệ khăng khít với nhiều tác giả văn học. Như nhiều nhà giáo đương thời, nhà văn được coi là một đối tượng sùng bái, săn đón, gặp gỡ, ghi ghi chép chép các ngôn luận của họ. Hà Minh Đức  đã gặp gỡ, hỏi chuyện, ghi chép công phu, và sau này ông có một loạt sách về các tác giả, vừa hồi kí, vừa hỏi chuyện, vừa nghiên cứu về họ. Ông có các tập Nữ sĩ Anh Thơ- mùa hoa đồng nội, Xuân Diệu – vây giữa tình yêu, Lưu Trọng Lư – tình đời và mộng đẹp, Tế Hanh – mãi mãi hoa niên, Chế Lan Viên người làm vườn vĩnh cữu, Tô Hoài – đời văn và tác phẩm, Tố Hữu – cách mạng và thơ, Nguyễn Đình Thi – chim phượng bay từ núi. Các tập sách này có những tư liệu rất quý, nhất là khi các tác giả đã là người thiên cổ. Ông còn có một loạt tập bút kí về các đồng nghiệp như Vị giáo sư và Ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mĩ, Tản mạn đầu ô, Tài năng và danh phận, Người của một thời…và một số tập thơ trữ tình. Có thể nói ông đang rút ruột mình để nhả ra văn.

         Độc giả có người cho văn của ông hơi nhạt, vì ông quan tâm quan điểm đúng đắn, tránh cực đoan nhiều hơn là tìm tòi phát hiện cái mới. Nhưng trong các truyện kí, không ít trường hợp sự quan sát tinh tế, nhiều chi tiết đắt, lời văn dí dỏm làm cho một số bài kí của ông đọc thú vị. Đúng như nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành đã nhận xét, phải là người rất yêu văn chương[5] thì mới có thể trong ngần ấy năm, qua bao nhiêu gian khổ của chiến tranh, của công việc, vẫn kiên trì ngồi với trang sách và trang giấy, viết hết cuốn sang cuốn khác được như thế.


[1] Hà Minh Đức,Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giá dục, 1997, tác giả đã có sửa chữa so với bản ban đầu. Sau đây, các trích dẫn về sách này chỉ  ghi số trang trong văn bản.

[2] Hà Minh Đức tuyển tập, 3 tập, Trần Khánh Thành tuyển chọn và viết Lời Bạt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, 2005.

[3] M. H. Abrams Từ điển thuật ngữ văn học, bản dịch của Đại học Bắc Kinh, 2018.

[4] Henri Benac, Dẫn giải ý tưởng văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 749.

[5] Xin xem Lời Bạt sau Hà Minh Đức Tuyển tâp, Nxb Giáo dục.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s