CÁC HÌNH THỨC TRUYỀN BÁ VĂN HỌC, VĂN HOÁ

Truyền bá là hoạt động chuyển giao các giá trị văn học, văn hoá từ nền văn học này sang nền văn học khác. Nó là các hình thức tác động tạo nên ảnh hưởng từ bề ngoài đến bề sâu. Truyền bá  bao giờ cũng gắn liền với tiếp nhận mới tạo ra ảnh hưởng.  Tuy nhiên nhiều trường hợp truyền bá chỉ được hiểu một chiều.

Ở đây chúng tôi tiến hành phân loại và giải thích lại hoạt động truyền bá trên tinh thần của tiếp nhận sáng tạo. 

A, Các hình thức truyền bá xã hội.

Đó là các hoạt động giới thiệu, phiên dịch, trích dẫn…Các học giả xếp các hoạt động này vào phần môi giới, nhưng thực ra chúng là hình thức truyền bá truyền thống nhằm đem giá trị văn học nước này, bằng thứ tiếng này sang nước khác, tiếng khác..

B. Hình thức truyền bá làm thay đổi văn học dân tộc.

Hình thức sâu sắc  nhất của ảnh hưởng là di thực (transplantation, dịch là bứng trồng). Đây là những hình thức ảnh hưởng xảy ra vào điều kiện bên tiếp nhận hoàn toàn thiếu vắng hình thức văn học nào đó do sự phát triển chênh lệch tạo nên.  sự di thực có thể làm nên sự phát triển gia tốc cho nền văn học tiếp nhận, phá vỡ tiến trình tự nhiên chậm chạp của nó (N. I. Konrad).  Bứng trồng là đem nguyên hiện tượng văn học, ngôn ngữ, quy tắc, thể loại của văn học nước ngoài “trồng” vào mảnh đất trống của dân tộc. Ví dụ Việt Nam chúng ta đã có ba lần bứng trồng văn học nước ngoài. Một là bứng trông văn học Hán thời thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. Hai là bứng trồng văn học phương Tây đầu thế kỉ XX và ba là bứng trồng văn học xã hội chủ nghĩa từ sau 1954. Thời trung đại, ta đem chữ Hán và hầu như toàn bộ thể loại văn học Hán từ thi ca, phú, lục, sử kí, cáo, chiếu, biểu, các thể thơ từ cổ phong đến luật thi, từ ngũ luật, thất luật… mà trồng vào văn hóa Việt Nam, biến chúng thành văn học chữ Hán Việt Nam,  khiến chúng đâm hoa kết quả trên mảnh đất mới. Văn học Việt Nam tham gia vào khu vực văn học chữ Hán. Theo thống kê của Trần Nghĩa, so sánh số thể loại trong một cuốn tự điển thông dụng Trung Quốc với số thể loại có trong kho sách Hán Nôm của ta, thì số lượng các thể loại tiếp nhận là 120/230, nghĩa là chiếm một nửa[1]. Đó là ảnh hưởng trong điều kiện sau khi người Việt giành được độc lập, thì người Việt mới xây dụng nên nền văn học chữ Hán của mình. Nhưng bứng trồng cũng không phải và không hề là bê nguyên xi, ví dụ tiếng Hán trở thành tiếng Hán Việt, đọc theo ngữ âm Việt, dần dần khác với tiếng Hán sinh ngữ của người Hán. Bứng trồng cũng xảy ra vào thời hiện đại, chẳng hạn di thực chữ viết, báo chí, thể loại kịch nói, bi kịch, hài kịch, kịch thơ, tiểu thuyết hiên đại phương Tây, thể loại thơ trữ tình, phóng sự vào Việt Nam. Chúng ta còn di thực âm nhạc hiện dại, hội hoạ phương Tây, di thực kịch opera, dàn nhạc giao hưởng, múa balet, điện ảnh, hội hoạ sắp đặt và nhiêu thứ khác. Người Nhật, người Trung Quốc đầu thế kỉ XX cũng di thực ngần ấy hiện tượng văn học hiện đại vào văn học nghệ thuật của họ.  Chính sự di thực này tạo nên sự phát triển mau lẹ của văn học đầu thế kỉ XX của các nước Đông Á. Ở đây có tính tương đồng loại hình. Trong thời mở cửa nhà văn Trung Quốc còn di thực hình thức tiểu thuyết dòng ý thức vào văn học hiện đại. Đó là các tiểu thuyết Bươm bướm của Vương Mông, Câu chuyện cắt dán sai của Nhự Chí Quyên và Người đến tuổi trung niên của Trạm Dung.  Việt Nam cũng di thực tiểu thuyết dòng ý thức như một số tiểu thuyết của Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà. Các biểu hiện này có tác dụng rút ngắn khoảng cách giữa các nền văn học.

C. Hình thức truyền bá đến sáng tác các nhà văn

1) Mô phỏng (Imitation). Mô phỏng là một thuật ngữ nhiều nghĩa. Có mô phỏng như là sự đánh mất tự chủ. Có mô phỏng như là một loại sáng tác, ví như thơ Phỏng cổ của Derzhavin, Phỏng Coran của Pushkin. Mô phỏng trong sáng tác không đơn giản là lặp lại một tác phẩm đã có, mà theo cách hiểu của Aristote, là sử dụng lại cái khả năng, cách thức, phương pháp  trong tác phẩm có trước để sáng tạo ra tác phẩm mới. Sự mô phỏng là cơ chế tiếp nhận truyền thống văn học trong sáng tác. Không  văn học nào thoát khỏi truyền thống. Sáng tác nhờ truyền thống mà phát triển lên. Trường hợp nói đây  là truyền thống văn học nước ngoài. Vấn đề đặt ra ở đây là mô phỏng cái gì? Quan trọng nhất ở đây thường là mô phỏng các nguyên tắc sáng tác để làm ra tác phẩm mới. Có thể mô phỏng hình thức, mô phỏng thể loại, mô phỏng cách miêu tả, mô phỏng kết cấu. Mô phỏng do đó có ý nghĩa quan trọng, cho dù nó được biến hoá đi và phần mô phỏng chỉ chiếm một phần trong sáng tác. Ví dụ, theo tác giả Hàn Quốc nhận xét, Nguyễn Dữ mô phỏng ở Tiễn  đăng tân thoại hai thể loại diễm tình và thể loại kỳ quái. Chính thể loại là yếu tố năng sản để tạo ra nhiều tác phẩm mới và khác[2]. Hình thức này có chức năng và ý nghĩa khác nhau trong thời đại ý thức nghệ thuật khác nhau. Chẳng hạn trong thời kì trung đại, thời đại mà Khổng Tử gọi là “thuật nhi bất tác”, thì mô phỏng khuôn mẫu được coi như là hành vi sáng tác thông thường, và mô phỏng càng giống, càng nhiều thì tạo nên dòng văn. Nhưng đối với thời kì hiện đại thì sự mô phỏng là hành vi từ bỏ cá tính sáng tạo của mình. Mô phỏng trong sáng tác cũng không thuần tuý lặp lại nguyên xi,  mà phải có sáng tạo thì mới có giá trị. Khi chúng ta biết làm văn học chữ Nôm, ta lại mô phỏng cách tạo chữ Hán để tạo chữ Nôm là một sản phẩm mới. Ở đây bản thân ứng dụng sang ngôn ngữ khác, văn hoá khác đã là một sáng tạo lớn và sâu sắc, và cách tạo chữ Nôm thiên về ghi âm hơn là biểu ý của chữ Hán. Luật của thơ Hán cũng được mô phỏng để làm thơ Nôm luật, bằng một thứ tiếng khác, cũng bằng trắc, cũng đối niêm, cũng dụng sự, dụng điển…Đó cũng là sáng tạo mới quan trọng, khiến cho thể thơ ngoại lai thích nghi với môi trường tiếng Việt, trở thành thể thơ của người Việt.  Đặc biệt thơ luật Nôm cũng như phú Nôm, thường dùng để viết loại trào phúng, châm chọc, chế giễu mà thơ Hán phú Hán không có hoặc không có nhiều. Nhà văn học so sánh Trung Quốc Nhạc Đại Vân, dẫn lời của nhà nghiên cứu Mĩ Joseph  Show cho rằng “mô phỏng là khi một nhà văn vứt bỏ hầu hết  cá tính của mình để đi theo con đường của một tác giả khác, vì khâm phục người ấy quá…”[3] Quan niệm của tác giả rõ ràng chỉ đúng với thời đại văn học cá tính đã phát triển cao như hiện nay và cũng chỉ một dạng mô phỏng. Trong thời cổ đại, trung đại sự mô phỏng dược xem là một cách thức sáng tác bình thường. Làm thơ phải đúng luật, làm phú phải giống phú, viết chế, cáo, hịch phải giống cáo, chế, hịch, nhất là theo đòi các danh gia.…Rồi phải hợp với phong cách thời đại, chẳng hạn “ôn nhu đôn hậu” của “thi giáo”. Nhưng quy luật sáng tác là dù mô phỏng cũng phải có phần siêu vượt ra nguyên mẫu. Như thế nêu mô phỏng mà siêu vượt khỏi mẫu đã là sáng tạo.  Trường hợp người Việt du nhập thể thơ Đường vào tiếng Việt là sự phát hiện tiềm năng của tiếng Việt, được Viêt hoá hoàn toàn, cùng loại hình với ngôn ngữ âm tiết tính, phù hợp với cá tính tiếng Việt.   Thơ năm chữ, bảy chữ vốn có trong văn học dân gian tiếng Việt, làm nền tảng cho việc tiếp thu kia. Hiện tượng thơ luật Đường ở Việt Nam cũng giống như thể thơ sonnet  vốn bắt đầu từ Ý, nhưng đã trở thành thể thơ chung của các nươc châu Âu, nước nào cũng có sonnet của mình. Thơ Đường luật Việt cũng phải coi là thể thơ chung của nhiều văn học Đông Á có gốc Trung Quốc, mà không phải thể thơ riêng của người Hoa. Ảnh hưởng văn học chủ yếu thuộc về phẩm chất tinh thần. Nếu chỉ theo tinh thần thực chứng, chỉ ra chữ này có gốc nước này, chữ kia có gốc nước kia, thì chỉ khảo cứu được cái phần mà có thể coi là phần thô, chứ không phải phần tinh hoa của văn học. Ví dụ trường hợp Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đối với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu là như vậy. Cái ảnh hưởng đáng kể là Nguyễn Dữ đã mô phỏng hình thức nhưng không mô phỏng tư tưởng, bởi trong truyện của mình Nguyễn Dữ nhằm chủ đích lên án quân Minh xâm lược, lên án bọn nguỵ Mạc và bọn nhà Hồ,  thể hiện rất rõ tư tưởng chính thống của nhà văn. Nguyễn Dữ không chỉ có vay mượn hình thức, còn nội dung truyện lại là hiện thực Việt Nam, truyền thuyết Việt Nam, nhân vật Việt Nam. Tác phẩm không chỉ tố cáo hiện thực mà còn phơi bày niềm cô phẫn của mình đối với thời cuộc, không chỉ là tác phẩm răn đời, mà còn là tác phẩm đau đời nữa.[4] Sự mô phỏng chỉ là hình thức, cách đặt tên truyện, cách tổ  chức tập sách…chỉ là phần xác.

2) Vay mượn (Emprunt). Vay mượn chỉ việc nhà văn sử dụng chất liệu,  hay phương pháp có sẵn đặc biệt là đề tai, nhân vật, cách ngôn, hình ảnh. Ví von, chủ đề, cốt truyện của nhà văn nước ngoài. Vay mượn không phải bao giờ cũng dùng lại trực tiếp, nhiều khi xuất xứ khó nhận ra rõ rệt, có khi để lại dấu vết. Các hinh ảnh, từ ngữ, tình tiết được dùng nhiều lâu dần trở thành điển cố..Sử dụng nhiêu thì thành khuôn sáo.Biết sử dụng sáng tạo vay mượn có giá trị tích cực. Vay mượn là là một thông lệ trong sáng tác. Kịch Shakespeare, kịch  của Racine, Corneille…đều vay mượn nhiều cốt truyện nước ngoài. Hamlete lấy cốt truyện Đan Mạch, Le Cide lấy cốt truyện Tây Ban Nha, có lẽ người Đan Mạch và Tây Ban Nha không ai lấy làm tự hào về việc đó. Nhiều truyện Nôm đều vay mượn cốt truyện của Trung Hoa, rồi giản lược đi, chuyển đổi thể loại từ tiểu thuyết văn xuôi sang truyện thơ, và ngôn ngữ mà làm nên tác phẩm mới của mình.  Vay mượn cốt truyện, tình tiết chỉ là một yếu tố của sáng tác, do đó vai trò ảnh hưởng của nó cũng có hạn. Ví dụ Con nai đen của Nguyễn Đình Thi vay mượn cốt truyện Vua Hươu của nhà văn Ý Carlo Gozzi. Nguyễn Đình Thi đã xem vở kịch ở Nga, nhập tâm cốt truyện rồi viết thành Con nai đen. Từ một vở kịch vui nhộn, nghiêm trang, buồn cười, Nguyễn Đình Thi sáng tác một vở kịch trữ tình –anh hùng, theo ý kiến của Phạm Vĩnh Cư. Sự vay mượn đã thúc đẩy sáng tạo. Lí thuyết vay mượn đã bị phê phán nhiều do tuyệt đối hoá vai trò của nó, khi đẩy lên tầm ảnh hưởng, vì ảnh hưởng là tác động tổng hợp. Sáng tác nào cũng sử dụng các yếu tố hình thức, đề tài có sẵn, theo nguyên lí mà N. Frye đã nêu: hình thức đẻ ra hình thức. Khi trong nước không có thì vay mượn nước ngoài. Nhưng nhiều trường hợp vay mượn cốt truyện mà không vay mượn tư tưởng. V. Girmunski trong công trình Pushkin và Byron khẳng định “Pushkin vay mượn motif của Byron, nhưng không vay mượn tư tưởng”[5]. Cũng vậy, Truyện Kiều của Nguyễn Du vay mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tai Nhân, nhưng vị tất đã  vay mượn tư tưởng của nhà văn Tàu này[6]. Nguyễn Du xa lạ với những thứ nòi tình, tình vội, tình xa, xa lạ với lối trả thù dã man của nguyên tác. Ở đây cũng cần phân biệt vay mượn, cải biên thời trung đại và thơi cận, hiện đại, với ý thức nghệ thuật khác nhau. Khi vay mượn đều phải có phần siêu vượt ra ngoài nguyên tác, để không bị coi là sao chép, lặp lại giản đơn, và thể hiện tinh thần của sáng tác.

 3) Cải biên (Adaptation, còn dịch là phỏng tác) là hình thức ảnh hưởng thứ ba, trong đó nhà văn sử dụng nguyên một tác phẩm nước ngoài rồi cải tạo, viết lại theo chủ đề mới, ý tưởng mới, thể loại mới, hình thức mới. Cải biên là một hình thức “phản nghịch sáng tạo’, làm cho nguyên tác có sinh mệnh thứ hai. Hình thức cải biên thể hiện trong hàng loạt tác phẩm truyện Nôm, từ Truyện Kiều đén các truyện khác như Hoa Tiên, Song Tinh, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Nữ Tu tài, Lâm tuyền kì ngộ, Thời cận đại có các sáng tác của Hồ Biểu Chánh như Cay đắng mùi đời cải biên tiểu thuyết Không gia đình của Hector Malo, Ngọn cỏ gió đùa cải biên theo Những người khốn khổ của Victor Hugo, Chúa tàu Kim Quy cải biên tiểu thuyết Monte de Cristo của Alexandr Dumas. Quả dưa đỏ có phần dựa theo Robinđon Crusoe của D. Defoe, Thời những năm 80 thế kỉ XX Lưu Quang Vũ viết kịch Nàng Xi Ta là cải biên chi tiết trong sử thi Ramayana của Ấn Độ. Khi dàn dựng kịch Romeo và Juliet trên sân khấu Việt Nam cũng là cải biên theo ý đồ của đạo diễn.…Trong hình thức này nhà văn vẫn có tự do xử lí phần sáng tạo của mình.

4) Đồng nguồn. Cả người cho và người nhận đều có chung một nguồn văn hoá, nghệ thuật. Ví dụ các sáng tác văn học Trung đại Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho gia, đạo gia, phật gia, thì tác giả Việt hay tác giả Trung mà người ấy tiếp nhận, ví như Nguyễn Dữ và Cù Hựu đều có chung một nguồn văn hoá, riêng Nguyễn Dữ lại có thêm một truyền thống văn hoá khác mà Cù Hựu không biết. Phạm vi ảnh hưởng có thể lớn hay nhỏ. Có thể là ảnh hưởng trên phạm vi lớn như toàn bộ nền văn học, ảnh hưởng quan niệm văn học, ảnh hưởng của trào lưu văn học (ảnh hưởng của  trào lưu văn học chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…), ảnh hưởng của hệ thống chủ đề, các nguyên tắc sáng tạo nhân vật, các biện pháp tu từ của một nền văn học này đến một nền văn học khác (ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Pháp, Nga  đến văn học Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc). Có thể là ảnh hưởng trên phạm vi nhỏ như ảnh hưởng của một nhà văn của dân tộc này đến một nhà văn của dân tộc khác (ví như ảnh hưởng của Edgar Poe đến Baudelaire, ảnh hưởng của Baudelaire đến các nhà thơ mới Việt Nam, Trung Quốc), nhưng có ảnh hưởng đến cả trào lưu, giai đoạn văn học. Ảnh hưởng bao giờ cũng gắn với sáng tạo.

5) Phong cách hoá (Stylization).  Phong cách hoá là hình thức ảnh hưởng mà nhà văn chịu ảnh hưởng hướng đến tái hiện những thủ pháp, thể loại, tinh thần của nhà văn nước ngoài để thực hiện mục đích sáng tsc của mình. Ví dụ Poltava của Pushkin mô phỏng phong cách của sử thi anh hùng thế kỉ XVIII. . Trong  thơ Nguyễn Trãi có yếu tố phong cách tĩnh của Đào Tiềm. hoặc tho phong cách Đỗ Phủ của Nguyễn Du hoặc viết sử theo phong cách xuân thu của Tả Truyện. Ngày nay nhiều nhà văn sáng tác theo phong cách Kafka hay Gabriel Garxia Marquez. Phong cách hoá nhiều khi không vay mượn chi tiết nào, công thức nào mà vẫn thể hiện phong cách nguyên mẫu.

6) Phỏng nhại (Parodie) hoặc biến dang (Variation, còn dịch là biến dị). Phỏng nhại là lặp lại  các hình thức của văn bản nguồn, nhưng với một ý thức ngược chiều với nguồn, đó là chế giễu. Ví dụ nhại cách viét tiểu thuyết chương hôi của Tam quốc diễn nghĩa để kể về những chuyển hũ bại. Nếu trong phong cách hoá giữa văn bản mới và văn bản nguòn có sự gần gụi về thị hiếu, thì trong phỏng nhại giữa hai loại văn bản đó có khoảng cách thời gian và khoảng cách ý thức hệ. Trong các hình thức vay mượn, mô phỏng, phỏng nhại, phong cach hoá, như M. Bakhtin đã chỉ ra,  luôn luôn thể hiện mối quan hệ giữa cái của mình và cái của người, mục đích sáng tác là thể hiện mình, cho nên cái của mượn không bao giờ là mục đích, mà chỉ là phương tiện, nói theo người Trung Quốc xưa, nó chỉ là khách, không phải là chủ, khách không thể lấn át chủ.

Ảnh hưởng không tách rời với tiếp nhận sáng tạo. Việc tiếp nhận chữ Hán, văn học Hán trong suốt nghìn năm Bắc thuộc hầu như không để lại nhiều dấu vết. Ông Trần Nghĩa năm 2000 trong sách Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt trước thế kỉ X (Nxb Thế Giới, Hà Nội), sưu tập được 22 văn bản, tính ra cứ một trăm năm có hai văn bản! Như thế có thể coi là chưa có tiếp nhận gì. Bởi trong điều kiện bị nô dịch người Việt không tiếp thu văn học Hán. Nhưng sau khi giành lại độc lập, trở thành chủ thể văn hoá công cụ chữ Hán, văn chương Hán là phương tiện để xây nền độc lập nước nhà, cho nên được tiếp nhân mau lẹ, chúng ta có cả nền văn học Lí Trần và bộ phận văn học chữ Hán. Xem bốn tập Thơ Văn Lí Trần của Viện văn học công bố năm 1978, chưa xuất bản trọn bộ, cũng đã thấy thành quả của tiếp nhận, mặc dù mọi người đều biết sau mỗi lần xâm lược, bọn thống trị Trung Quốc, đặc biệt là nhà Minh, đã lệnh cho quân lính đốt phá, huy diệt các thành quả văn tự của người Việt. Hàng loạt tác phẩm văn học Lí Trần, Hồ bị thất truyền, chủ yếu là do sự huỷ hoại của quân Minh, Trung Quốc.

(Trích Cơ sở văn học so sánh, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2020.)


[1] Trần Nghĩa. Một số vấn đề về quan hệ văn học Việt Nam Trung Quốc dưới thời trung đại. Trong sách: Văn học Việt Nam X –XIX, những ván đề lí luận và lịch sử, Trần Ngọc Vương chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 175.

[2] Jeon Hye Kyung. Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kì Hàn Quốc, Trung Quốc Việt Nam, Nxb Đai học quốc gia Hà Nội, 2004.

[3] Nhạc Đại Vân. Nguyên lí văn học so sánh, Nxb  Văn nghệ Hồ Nam, 1988, tr.

[4] Lời giới thiệu. Trần Ích Nguyên. Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục , Phạm Tú Châu, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Thị Ngân dịch, Phạm Tú Câu hiệu đính, Nxb Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 7.

[5] V. M. Girmunski. Pushkin và Byron, trong sách Pushkin và văn học phương Tây, Nxb Khoa học, Leningrad, , 1978, tr. 23.

[6] Xem Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc và Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s