NGÔN HOÀI

(KHÔNG LỘ THIỀN SƯ)

Thời gian gần đây trong chương trình văn học các lớp 9, 10, của trường trung học đã có chọn cho học sinh học một số bài thơ thiền như Ngôn hoài (Tỏ lòng), Ngư nhàn (Cái nhàn của nhà thuyền chài) của Không Lộ thiền sư, Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) của Mãn Giác thiền sư. Đó là một bước tiến bộ làm cho học sinh được tiếp xúc với các hiện tượng văn học đa dạng mang nội dung văn hóa nhiều màu vẻ của dân tộc.

Text Box: (1) Xem : Thiền sư Trung Hoa, Thanh Từ soạn dịch, T.I, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1990, tr. 116. Tuy vậy nguyên tên tác giả là Lý Cao chứ không phải Lý Tường - xem : Thiền thi giám thưởng từ điển, Hà Nam nhân dân xuất bản xã, 1995, tr. 411.
(2) Bản dịch của Thiền uyển tập anh, NXB Văn học, Hà Nội, 1990, tr.106. Xin xem thêm bản dịch của Nguyễn Lang ở Việt Nam Phật giáo sử luận, T.I, NXB Văn học, Công ty phát hành sách Hà Nội, 1992, tr. 220 :
Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ,
Vui thú tình quê quên sớm trưa.
Có lúc trèo lên đầu chót núi,
Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.
(3) Xem : Hà Văn Tấn. Vấn đề văn bản học các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 4-1992, tr.11. Xem thêm một số bài viết của Nguyễn Mạnh Thát về bài thơ này. Trước đây các sách phiên là Lý Tường, sau có người phát hiện, nay sửa lại là Lý Cao.
Nhưng có điều đáng băn khoăn là thơ thiền lại được giảng như thơ trần tục, như thơ yêu quê hương đất nước, như thơ nói chí của nhà nho. Kết quả là giảm đi một vẻ đa dạng lẽ ra cần được tìm hiểu và ghi nhận. Tìm hiểu thơ thiền là một việc không đơn giản. Bài này chỉ xin nêu đôi điều suy nghĩ về bài Ngôn hoài của Không Lộ để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo. Khiếm khuyết chắc là khó tránh song vấn đề không thể không nêu ra.

Bài Ngôn hoài hiện còn tồn tại hai vấn đề : một là quyền tác giả của văn bản, hai là giải thích hình ảnh biểu trưng.

Mấy năm gần đây, một số ý kiến hoài nghi quyền tác giả của Không Lộ do phát hiện thấy chỗ giống nhau với bài thơ của Thích sử Lý Cao làm nhân nghe câu chuyện về tiếng cười trên đỉnh núi của nhà sư Duy Nghiễm (751-834), được chép trong Cảnh đức truyền đăng lục. Bài thơ đó như sau :

Tuyển đắc u cư hiệp dã tình,

Chung niên vô tống diệc vô nghinh.

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,

Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.

Dịch :

Chọn nơi vắng vẻ hợp lòng quê,

Năm trọn không ai đến hay về.

Có khi lên thẳng trên đỉnh núi,

Rẽ mây dưới nguyệt tiếng cười hề (1).

Bài thơ của Không Lộ như sau :

Trạch đắc long xà địa khả cư,

Dã tình chung nhật lạc vô dư.

Hữu thì trực thướng cô phong đỉnh,

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Dịch :

Kiểu đất long xà chọn được nơi,

Tình quê nào chán suốt ngày vui.

Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng,

Một tiếng kêu vang lạnh cả trời(2).

(PHAN VÕ dịch)

Có người nêu vấn đề có phải Không Lộ chịu ảnh hưởng của Lý Cao hay ai đó đã sửa lại bài thơ của Lý Cao rồi gán cho Không Lộ ?(3). Những vấn đề văn bản học loại này dĩ nhiên là cần được tìm tòi giải quyết, giống như vấn đề văn bản đặt ra cho một số sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v… Mặt khác, cũng nên lưu ý thói quen tập cổ trong thơ văn trung đại. Các trường hợp sáng tác trên cơ sở sử dụng lại có biến đổi ít nhiều các câu thơ, ý thơ, cốt truyện của người trước khá phổ biến. Ở Trung Quốc, trong thơ Đào Uyên Minh, Tô Đông Pha, Vương Sĩ Trinh… đều có thể tìm thấy ví dụ. Ở ta, Chinh phụ ngâm khúcTruyện Kiều là ví dụ điển hình. Ngay như thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh cũng còn theo truyền thống này, không hiếm trường hợp sử dụng câu sẵn rồi biến đổi.

Trường hợp bài thơ của Không Lộ có câu thứ ba giống hệt, câu một và câu hai ý thơ gần gũi, từ ngữ cũng có chỗ tương tự với bài thơ Lý Cao. Nhưng câu thứ tư thì gần như thoát phàm, gây ấn tượng mạnh mẽ hơn hẳn câu thơ Lý Cao. Bài thơ Lý Cao chỉ giản đơn ghi lại một sự việc có thật của thiền sư Duy Nghiễm : “Một hôm sư lên núi đi kinh hành, chợt mây tan thấy trăng sáng, sư cười to một tiếng, vang xa gần chín mươi dặm. Dân chúng ở xa nghe tiếng, hôm sau tìm đến hỏi tăng chúng. Tăng chúng bảo : “Đó là tiếng của Hòa thượng đêm qua ở trên núi cười”(1)“. Đem việc này so bài thơ của Lý Cao có thể thấy câu cuối của bài thơ chưa lột tả được tiếng cười của Duy Nghiễm. Bài thơ của Không Lộ không miêu tả sự việc mà trả lời đệ tử. Đó thực là bài kệ truyền tâm pháp và có ý riêng. Vấn đề này lại liên quan tới việc giải thích nội dung bài thơ.

(1) Xem : Thiền sư Trung Hoa, Thanh Từ soạn dịch, T.I, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1990, tr. 116. Tuy vậy nguyên tên tác giả là Lý Cao chứ không phải Lý Tường – xem : Thiền thi giám thưởng từ điển, Hà Nam nhân dân xuất bản xã, 1995, tr. 411.

(2) Bản dịch của Thiền uyển tập anh, NXB Văn học, Hà Nội, 1990, tr.106. Xin xem thêm bản dịch của Nguyễn Lang ở Việt Nam Phật giáo sử luận, T.I, NXB Văn học, Công ty phát hành sách Hà Nội, 1992, tr. 220 :

Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ,

Vui thú tình quê quên sớm trưa.

Có lúc trèo lên đầu chót núi,

Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.

(3) Xem : Hà Văn Tấn. Vấn đề văn bản học các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 4-1992, tr.11. Xem thêm một số bài viết của Nguyễn Mạnh Thát về bài thơ này. Trước đây các sách phiên là Lý Tường, sau có người phát hiện, nay sửa lại là Lý Cao.

Trong một số tài liệu chính thức hướng dẫn giảng dạy, nội dung bài thơ này được xác định ở hai ý, thể hiện ở “sự kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế với khát vọng hòa nhập cùng vũ trụ bao la”. Thứ nhất là tình yêu quê hương đất nước, nhất là với đất nước nông nghiệp thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung đó. Thứ hai là khát vọng vươn tới trời đất vũ trụ bao la như một nhu cầu nhân văn cao đẹp. Nhà sư đang vui nỗi vui trần thế, bỗng nhiên lên đỉnh núi cao trơ trọi, kêu vang một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Ở đây đã trèo là trèo lên thẳng một mạch, không chút rụt rè. Đã lên cao là lên cao không lưng chừng. Và chỉ một tiếng kêu vang là đủ làm cho cả vũ trụ bao la kia kinh ngạc đến rùng mình, ớn lạnh(1). Theo cách giải thích này thì thú quê là thú quê thật, leo núi là leo núi thật, cả bài như một bức tranh tả thực, và tư thế hiên ngang chinh phục vũ trụ được hiểu khá rõ, làm liên tưởng đến hình tượng thần thoại giải thích tự nhiên, đến Đam San, hoặc làm nhớ tới chí khí nhà nho như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.

Text Box: (1) Xem : Văn 10 - Phần Văn học Việt Nam, sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1991, tr. 65-69.
(2) Thiền uyển tập anh - Bài Không Lộ thiền sư. Sđd.

Text Box: (1) Xem : Thiền sư  Trung Hoa, T.I, tr. 117-118.
Cách hiểu này có thể chấp nhận được, nếu bài thơ được làm vào thời ý thức Nho giáo thịnh hành. Nhưng đối với đầu thế kỷ XII, đạo Phật rất thịnh, thì cách hiểu này lại có cái gì chưa thỏa đáng. Bởi người tu thiền đâu có chí chinh phục tự nhiên, giải thích vũ trụ ? Thêm nữa tu thiền là để được giải thoát khỏi cõi trần bể khổ này, mà lý tưởng tối cao là đạt tới cõi “vật ngã lưỡng vong”, chứ đâu phải hưởng thú vui trần thế ? Phải chăng Không Lộ đã có lúc hoàn tục ? Thiền tông dạy có nghi mới có ngộ. Đại nghi thì đại ngộ, tiểu nghi thì tiểu ngộ, bất nghi thì bất ngộ. Mối nghi ngờ trên khiến chúng tôi đọc lại Thiền uyển tập anh. Sách ấy cho biết Không Lộ họ Dương, mấy đời làm nghề đánh cá, sau bỏ nghề theo tu hành đạo Phật. Khoảng năm niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh đời Lý Thánh Tông “sư cùng đạo hữu là Giác Hải đi vân du cõi ngoài, giấu kín tông tích, đến chùa Hà Trạch ăn rau, mặc lá, quên cả thân mình, dứt hết mọi điều mong muốn, một lòng chuyên chú tu tập thiền định. Rồi sư thấy tâm thần, tai mắt ngày càng sáng láng, thông tỏ, bay lên không, đi dưới nước, hàng long phục hổ, muôn nghìn phép lạ không lường hết được. Sau sư về bản quận dựng chùa trụ trì”(2). Như vậy Không Lộ là một vị sư chân tu, đắc đạo, chẳng những đã dứt hết mọi điều mong muốn, mà còn đạt tới được sự tự giải

(1) Xem : Văn 10 – Phần Văn học Việt Nam, sách giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1991, tr. 65-69.

(2) Thiền uyển tập anh – Bài Không Lộ thiền sư. Sđd.

thoát, tự do, tự tại tới mức thần thông. Bài thơ này theo Thiền uyển tập anhbài kệ nhà sư dùng để trả lời một đệ tử hầu hạ ông nhưng chưa được đắc đạo. Đệ tử ấy đọc bài kệ, dịch ra như sau :

Rèn luyện thân tâm tựa nước thanh,

Sân thênh cổ thụ tỏa sum cành.

Có người thỉnh giáo tâm pháp Phật,

Lưng dựa bình phong, bóng tựa hình.(1)

Rõ ràng đây là bài kệ của người đệ tử “thỉnh giáo tâm pháp Phật” và đang dựa bình phong chờ được trả lời. Không Lộ đã cười lớn và đọc bài kệ nói trên. Ngôn hoài có lẽ là đầu đề do người sau, có thể là nhà nho, thêm vào. Chi tiết này cần được chú ý. Bởi vì tuy gọi là “Ngôn hoài”, đây chỉ là bài kệ truyền tâm yếu cho đệ tử, chứ không phải là bài thơ trữ tình theo kiểu bài thơ tức cảnh hay tức sự. Vì vậy, thiết nghĩ tất cả hình ảnh trong bài thơ kệ này đều là ẩn dụ, ám thị một thiền lý thâm thúy mà nhà sư muốn truyền cho đệ tử.

“Đất long xà” theo từ điển Từ nguyên, trước nghĩa là đất có thể dung thân, sau chuyển thành nơi ở ẩn(2). Nhưng đối với nhà sư, đó không hẳn chỉ là nơi lánh đời mà còn là nơi tu luyện với đạo. Câu thơ có ý vị điền viên, nhưng thiết nghĩ là hình ảnh ẩn dụ chỉ việc chọn được đất vắng vẻ, thích hợp với việc tập thiền, tu Phật.

Text Box: (1) Chuyển dẫn từ Phật giáo dữ dân tộc hội họa tinh thần của Từ Kiến Dung, Thư họa xuất bản xã, Thượng Hải, 1991, tr.144-145.
(2) Chuyển dẫn từ Thiền tông và văn hóa Trung Quốc của Cát Triệu Quang, Nhân dân xuất bản xã, Thượng Hải, 1986, tr.136-137.


Ý câu thứ ba ai cũng thấy là bất ngờ đến kỳ lạ. Đang vui thú như thế sao lại có lúc lên thẳng trên đỉnh núi trơ trọi mà kêu vang một tiếng làm lạnh cả trời ? Lại nữa, tại sao ba câu kia đều có sự thay đổi, riêng câu này lại giữ nguyên ? Hẳn phải có một nguyên nhân đặc biệt để không được thay đổi. Đọc sách về các thiền sư ta thường bắt gặp những câu đối thoại kỳ lạ, khác thường. Đáp lại những câu hỏi của đệ tử, các sư phụ thường quát, chửi, đánh, hoặc trả lời những câu mà bề ngoài như chẳng dính dáng gì tới câu hỏi. Đó là cách mà các thiền sư dùng để cắt đứt những câu hỏi suy lý, đập nát mạch lôgíc của tư duy để mở đường cho đệ tử đi vào tư duy trực giác nhằm đạt tới đốn ngộ. Ở đây không phải là trường hợp như thế. Nhưng cái thời khắc “có lúc lên thẳng đỉnh núi cao trơ trọi” chính là thời khắc đốn ngộ. Đốn ngộ thuần túy là một sự thể nghiệm tâm linh cá nhân, lúc tâm linh được giải thoát. Đại chu thiền sư ngữ lục viết : “Cầu mong được giải thoát chỉ có một cửa là đốn ngộ. Đốn là lập tức bài trừ vọng niệm (thường tình), còn ngộ là nhận ra tất cả đều không vô”. Thành quả cao nhất, cái cõi tối cao mà đốn ngộ mang đến là một sự không vô tịch mịch, trống vắng, khi con người đắc đạo. Người được đốn ngộ không chinh phục gì, không đi đâu cả, mà chỉ nhờ trực giác để ở được vào một cõi khác hẳn trần tục, hòa nhập vào cái đại ngã của vũ trụ(1).

Trong bài kệ này có thể hoàn toàn không có chuyện leo núi nào hết. “Lên thẳng” ở đây là hình ảnh của đốn ngộ, xảy ra chốc lát, như ánh chớp. “Đỉnh núi cao trơ trọi” đây thuần túy chỉ là ẩn dụ chỉ thế giới không vô, chứ không phải một hòn núi có thực nào. Theo thiền sư Trung Hoa Nghĩa Huyền ở Lâm Tế nói trong sách Cổ tôn túc ngữ lục, quyển 4, thì hình ảnh “đỉnh núi cao trơ trọi” (cô phong đỉnh) có một ý nghĩa đặc biệt. Ông nói : “Một người mà ở vào đỉnh núi cao chót vót trơ trọi thì không còn có chỗ nào để bước ra nữa. Một người mà đứng ở ngã tư đường thì cũng không còn chỗ nào mà quay lưng nữa, bởi biết đâu là trước, đâu là sau ?”(2). Đỉnh núi trơ trọi và ngã tư đường đều là biểu tượng của cõi không vô, bốn bề trống vắng, tịch mịch mà con người đốn ngộ đạt tới. Cõi ấy là một tâm trạng yên lặng, xuất thế, ly khai với mọi biến động của thế gian, hiện tượng, không trước, không sau, không đông tây nam bắc gì nữa !

Text Box: (1) Thiền uyển tập anh. Sđd, tr.108.
(2) Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1993, tr.1965, cột 3.
Nghĩa Huyền là nhà sư Trung Hoa tịch năm 867, sau nhà sư Duy Nghiễm 33 năm, và tịch trước Không Lộ 252 năm. Rất có thể là Nghĩa Huyền đã lý giải biểu tượng của Duy Nghiễm và biểu tượng đó được Không Lộ tiếp nhận, sử dụng để biểu hiện trạng thái đốn ngộ. Phải chăng đây chính là lý do buộc phải giữ nguyên câu thơ này ?

Về điểm này có thể tham khảo thêm một số tư liệu khác. Trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 11 có một đoạn đối đáp :

Hỏi : Thế nào là người ở một mình trên đỉnh núi cao trơ trọi (độc túc cô phong đỉnh) ?

Đáp : Mặt trời sáng nửa đêm, gõ canh ba lúc đúng ngọ.

Ở đây cô phong đỉnh là một thế giới khác với trần tục, ở đó thời gian không tồn tại nữa, ngày là đêm, đêm là ngày, không sai biệt.

Nhà thơ Hàn San có câu :

Cao cao trên đỉnh núi,

Nhìn quanh cực vô biên.

Một mình không ai biết,

Riêng trăng chiếu suối hàn.

Nhà thơ Lâm Tư trong bài thơ Vọng Cữu hoa sơn có câu :

Làm sao độc chiếm xích trăm trượng,

Lên thẳng đỉnh cao bỏ mối phàm.

Họa sĩ Vương Khản (Tống) có bài thơ Đề bức vẽ trên quạt như sau :

Cầu vắng ít người đi,

Rừng lặng gió thung nhàn.

Ai hay đỉnh trơ trọi,

Vũ trụ rộng thênh thang.

Rõ ràng đương thời cô phong đỉnh có ý nghĩa biểu trưng là thế giới vô biên, không vô, thoát tục, thống nhất với biểu trưng mà Nghĩa Huyền đã hiểu ở trên.

Text Box: (1) Thiền tông và văn hóa Trung Quốc. Sđd.Chữ “thái hư” trong câu cuối bài thơ thường được dịch là bầu trời, trời. Nhưng dịch như vậy là không sát. Người thông thường không ai hiểu trời, bầu trời là chốn không vô cả. Cõi thái hư này là một thế giới của nhà Phật mà chỉ kẻ đắc đạo mới có thể đạt đến. Hòa thượng Thích Thanh Từ cho biết Phật tính nơi mỗi người hoàn toàn giống như thái hư (viên đồng thái hư) (Xem : Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục giảng giải). Thái hư là cái thể đồng của con người và vạn vật. Ở đó một tiếng cười của sư Duy Nghiễm có thể vang xa chín mươi dặm, Không Lộ có thể bay trên không, đi dưới nước, hàng long phục hổ, và một tiếng kêu vang có thể làm lạnh cả cõi ấy. Theo cách giải thích của một nhà thiền học, khi đốn ngộ, con người đã ở nơi cực điểm, như đứng trên chót núi, không còn phân biệt đông tây nam bắc, không phân biệt trước sau, bên phải bên trái, ta và vật, quá khứ và hiện tại. Cái duy nhất phân biệt là ở bản tâm. Cái tiếng kêu dài làm lạnh cõi thái hư ấy là dấu hiệu hòa nhập ta và thế giới, thế giới và ta.

Vậy là có thể hiểu, với bài kệ này Không Lộ thiền sư muốn bảo với đệ tử : chọn được đất long xà, đây là chọn được đất tu hành, có thể thỏa tình an tâm với đạo, rồi sẽ có lúc được đốn ngộ, lúc ấy ta – vật hòa đồng, làm chủ cõi không – vô. Bài thơ kệ khẳng định lý tưởng đốn ngộ, củng cố niềm tin cho người tu hành. Đối với mọi người bài thơ kệ thể hiện một niềm vui thoát tục, siêu phàm, hé mở cho ta thấy một thế giới tâm linh trung đại. Nguyễn Lang, tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận nhận xét đây là bài có “ý thơ siêu thoát trầm hùng ít thấy”. Học thơ thiền không có nghĩa là học đạo thiền, vả đạo thiền đâu có dễ học. Nhưng học thơ thiền cho ta cơ hội tiếp xúc với những giấc mơ giải thoát bể khổ của con người, những  tâm hồn trong trẻo.

Nhìn bề ngoài, bài kệ này có những hình ảnh chẳng khác gì với các bài thơ thông thường. Nhưng điều đặc biệt là chúng không nói gì về cái thế giới vật thể thực tại. Các hình ảnh ấy mang một ý nghĩa riêng trong giới thiền sư. Thiền tông Trung Hoa có một câu chuyện nổi tiếng. Thiền sư Hoài Tín nói : “Sư già này 30 năm nay, khi mới tham thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước, đến về sau tự mình nhận thức, có được chỗ thâm nhập, thấy núi không phải núi, thấy nước không phải nước, thế mà nay có được một nơi an thân, lại vẫn thấy núi là núi, thấy nước là nước”(1). Ở đây ý nghĩa của núi và nước ở các lần thấy đều khác nhau. Khi chưa nhập thiền, núi và nước được thấy theo con mắt trần tục. Khi mới nhập thiền thế giới trần tục bị phủ định : núi không phải núi, nước không phải nước. Khi đã tĩnh tâm, mắt đã thoát tục thì núi, nước vẫn như xưa, mà ý nghĩa đã khác xưa, chúng vô sắc tướng và không còn làm loạn tâm. Thế giới thơ thiền là một thế giới của các biểu tượng hư ảo mà các ý nghĩa nhân sinh thông thường của chúng đã được cải tạo để mang ý nghĩa mới, đặc thù.

Ý nghĩa biểu trưng của bài thơ Ngôn hoài cho thấy không nên hiểu thơ thiền như thơ thông thường. Bộ môn giảng văn trong nhà trường còn phải khắc phục phương pháp suy diễn giản đơn, dễ dãi để có ý thức khám phá cái mã văn hóa đa dạng đằng sau các hình tượng nghệ thuật.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s