TRĂN TRỞ NHỮNG NỖI NIỀM CHUNG

  • Ghi chép về cuộc gặp gỡ các nhà văn châu Á – Thái bình dương tại Tokyo

Trần Đình Sử

(Bài viết từ năm 1996, sau khi từ Tokyo về, chưa được đăng)

Theo lơi mời của Hội Văn bút của Nhật Bản (The Japan P.E.N Club) tôi được Hội nhà văn Việt Nam cử đi Tokyo dự cuộc hội thảo về văn học châu Á – Thái Bình dương. Cuộc họp chỉ diễn ra đúng ba ngày, nhưng đã để lại nhiều ấn tượng khó quên cho nhà văn khu vực. Hôi thảo được tổ chức tại khách sạn Keio Plaza cao 47 tầng ở trung tâm Tokyo, nơi thường xuyên có những hội thảo quốc tế.

Trước hết xin nói về Hội văn bút quốc tế. Hội này được tổ chức vào ngày 5 tháng 10 năm 1921 do sáng kiến  của một số nhà văn nhằm liên kết những người cùng nghề, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, bảo hộ việc tự do sáng tác. Văn phòng của Hội đóng ở Luân Đôn, đến nay đã có 126 hội thành viên từ các nước năm châu.Hoạt động của Hội chủ yếu là tổ chức các cuộc hội nghị quốc tế, mỗi năm một lần tại một nước thành viên để trao đổi về tình hình văn học và nghề nghiệp. Có thể kể các cuộc họp gần đây như 1980 tại Nam Tư, 1981 tại Paris, năm 1983 tại Vênduyela, năm 1985 tại Nhật Bản… Sang năm 1997 dự kiến họp tại London. Về tên hội P.E.N được giải thích là chữ viết tắt tiếng Anh của ba chữ Thơ(Poetry), tùy bút (Essay), Tiểu thuyết (Novel), nhưng ba chữ ghép lại  thành PEN cũng có nghĩa là cây bút chỉ hoạt động văn học, sáng tạo tác phẩm ngôn từ nói chung. Vì thế cả người Nhật lẫn  người Trung Quốc đều dịch là “bút hội”. Trong tiếng Việt, để dễ gọi,  chúng tôi dịch là hội văn bút, để bao gồm một lúc cả nghĩa đen và nghĩa  bóng.

Cuộc họp lần này không phải đại hội, mà chỉ là hội thảo do Hội văn bút Nhật Bản tổ chức dưới tiêu đề chung “Sự đổi thay của Châu Á và văn học”. Tham dự có đại diện của các hội văn bút của các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Ôstreylia, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, Niu Zilân, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philippin. Các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma được mờ với tư cách là hội nhà văn của các nước đó. Tổng số đại biểu là 40 người, không kể các nhà văn Nhật Bản đến dự thính.

Trong xu thế hướng ra thế giới, làm bạn với các nước, cuộc họp đã làm cho ta có dịp để hiểu thêm về hoạt động dân sự của các hội nghề nghiệp phi chính phủ quốc tế. Hội thảo này quả đã gợi ra  nhiều điều trăn trở chung đối với các nhà văn khu vực trong điều kiện Châu A và Thế giới đang có nhều thay đổi to lớn mà nhà văn nào giàu trí tưởng tượng nhất cũng không thể nghĩ ra.

Trong phiên khai mạc trọng thể, sau diễn văn của ông H. Hotsuki, chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản, lời chào mứng của G. Conrad, phó chủ tich hội văn bút quốc tế, và của đại diện Bộ ngoại giao Nhật Bản,  Ông T. Umêhara, phó chủ tịch hội văn bút Nhật Bản đã phát biểu có tính chất đề dẫn. Theo ông, mặc dù châu Á đang tỏ ra đầy sức sống trong lĩnh vực kinh tế, công nghiệp, song các nước châu Á đang đứng trước ba nguy cơ lớn. Môt là nguy cơ chiến tranh hạt nhân vẫn còn. Các nước có vũ khí hạt nhân vẫn là mối đe dọa đối với các nước không có vũ khí hạt nhân. Nhưng nguy cơ lớn hơn là môi sinh bị phá hoại, con người đã phá hoai môi trường thiên nhiên từ xưa, nhưng nền văn minh hiện đã đẩy nhanh nhịp độ phá hoại môi trường thiên nhiên ấy tơi mức khủng khiếp. Nguy cơ lớn nhất  có lẽ là sự đánh mất nhân tính. Nhân tính ngày càng bị hủy hoại sâu sắc và phổ biến. Ý thức đạo đức, tôn giáo,  ngày càng phai nhạt, luân lí đạo đức truyền thống của Nhật Bản ngày càng bị mất đi, nhất là ở thế hệ trẻ. Vấn đề đặt ra là văn học có thể làm được gì để giải quyết các nguy cơ ấy.Ông nói lên nỗi buồn sâu sắc là trẻ em ngày càng mất đi tình yếu đối với văn học. Chúng sinh ra là chủ yếu  lớn lên bên cạnh cái tivi, đồ chơi điện tử, chứ không phải lớn lên bên cạnh trang sách như các thế hệ trước đây. Chúng không xem văn học là một giá trị. Nhưng các nhà văn Nhật Bản, rất tít quan tâm đến vấn đề này. Các nhà văn vẫn cứ đi theo truyền thống văn học Pháp thế kỉ XIX, quanh quẩn với vấn đề đời tư, các biến đổi của cá nhân, như chủ nghĩa tự nhiên thời ấy.Theo ông, văn học đó ngày nay có rất ít ý nghĩa. Gần đây người ta lại  đi sâu vào miêu tả đời sống tình dục một cách xấu hổ. Sẽ là vô đạo đức khi một nhà văn nhìn kĩ vào cơ thể một cô gái trẻ. Điều đó còn tác hại lớn hơn trong điều kiện đạo đức băng hoại hôm nay. Theo ông, nhân tính của con người trước hết thể hiện ở chân, thiện, mĩ. Chủ trương lọai bỏ chân thiện mĩ ra khỏi văn học là hoàn toàn sai lầm. Ngày nay tiểu thuyết thông tục bán rất chạy nhưng đó là loại tiểu thuyết chẳng quan tâm gì đến các nguy cơ có tính nhân loại toàn cầu. Theo ông văn học Nhật Bản cần viết nhiều hơn về thảm họa vũ khí hạt nhân cho moị người biết. Còn văn học về môi trường, tiếc thay đến nay vẫn là chỗ trống. Tuy vậy vấn đề nhân tính bị hủy hoại là bức xúc nhất, bởi mọi việc là do con người làm ra. Theo ông các nhà văn Nhật quá yêu Đostoievski, miêu tả sự tha hóa của con người trong tình trạng chúa đã chết theo cách nói của Nietzsche. Hiện nay 100% nhà văn Nhật chịu ảnh hưởng cuả  F. Kafka, chú ý miêu tả con người không nhân cách, chú ý miêu tả con người không nhân tính. Nhà văn hôm nay nên suy nghĩ lại. Cần làm sống lại các mặt chính diện của nhân tính con người khám phá sự phong phú  của chân, thiện, mĩ của nó. Đó sẽ là văn học của thế kỉ XXI.

Phần thảo luận theo nhóm chuyên đề các nhà văn trao đổi cụ thể chuyên sâu. Mỗi người được phát biểu 10 phút, ai quá giờ thì chủ tọa giơ thẻ vàng nhắc nhở.Sau đó mọi người nêu câu hỏi, thảo luận.  Nhóm ngôn ngữ văn học có nhiều báo cáo nhất. Nhiều người thấy trong bối cảnh quốc tế hóa này nguy cơ ngôn ngữ dân tộc, nhất là ngôn ngữ dân tộc ít người bj thoái hóa thậm chí diệt vong. Ví như tiếng Kun ở Thái Lan. Ai cũng biết châu Á là nơi có nhiều dân tộc và nhiều thứ tiếng nhất thế giới. Ở đây có không ít hơn 500 thứ tiếng và riêng Ấn Độ có hơn 300 thứ tiếng.  Vậy giữ gìn chúng như thế nào, khi trong mọi giao dịch người ta đều sử dụng tiếng Anh. Đó là chưa kể trong mối nước, người biết tiếng Anh giỏi thì mới mong có việc, có chức, như thế tạo ra sự kì thị đối với ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Anh bị quốc tế hóa cũng trở thành đế quốc ngôn ngữ. Điều ấy cũng không lợi gì cho tiếng Anh, vì trong giao dịch thì đó là tiếng Anh tồi. Vấn đề làm sao có ngôn ngữ trung gian. Nhà văn Thái Lan Xrixurang Punthupia cho biết hiện nay Thái Lan chỉ dịch văn học qua tiếng Anh. Trở ngại là nhuận bút bản quyền quá cao. Bà đề nghị các nước nên có chính sách tài trự cho văn học dịch. Nhưng mọi người lo ngại việc dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ trung gian để dịch văn học châu Á sẽ làm sai lạc nhiều nội dung văn hoc. Nhà thơ hàn Quốc Kim Jong gil phàn nàn rằng các bản dịch thơ Hàn ra tiếng Anh đều không đạt. Ông đề nghị chú ý cả âm điệu chứ không chỉ là dịch nghĩa. Về ngôn ngữ bắc cầu nhà văn Nhật N. Nara đề nghị dùng quốc tế ngữ do Zamenhop sáng tạo năm 1887. Ông cho biết nhiều   người Nhật biết được văn học Việt Nam là nhờ các bản dịch quốc tế ngữ., sau đó lại từ quốc tế ngữ dịch sang tiếng Nhật. Vị dụ như các tác phẩm Chị Tư Hậu, Cao điểm cuối cùng, Không có con đường nàokhác, Người thợ chữa đồng hồ trong hầm Điện Biên Phủ, Trong khói lửa. Ông cho biết hiện nay thế giới có một triệu người biết quốc tế ngữ, ở Nhật có một vạn người. Học quốc tế ngữ nhanh hơn học tiếng Anh. 

Các nhà văn Đông Nam Á hiện rất lo lắng cho tiếng của dân tộc mình. Nhà văn Myanma U Mie Thant cho rằng phải chú trọng phát triển tiếng Myanma, bởi vì từ 1948 trở về nước nước này bị Anh thống trị. tiếng Myanma bị khinh bỉ. Nhà văn Đài Loan cho biết từ 1945 trở về trước, nước này bị Nhật bản thống trị, tiếng Nhật là chính thức của Đài Loan.Phải sau năm 1945 nhất là sau năm 1949, nhiều trí thức có trình độ theo Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan thì tiếng Hán ở đó mới được phá triển và có văn học Đài Loan. Nhà văn Thái Lan khác cho rằng, để cho ngon ngữ văn học dân tộc không bị mai một thì điều quan trọng nhất là phải sáng tạo được tác phẩm hay và đẹp bằng tiếng dân tộc. Có ngôn ngữ đẹp thì ngôn ngữ sẽ bất tử. Trên vấn đề này nhà thơ Indonesia P. D. Radhar phàn nàn rằng ngôn ngữ Indonesia đang bị phá hoại nghiêm trọng. Lấy cớ sáng tạo ngôn ngữ mới người ta đang co xu hướng làm méo mó ngôn ngữ dân tộc, làm nhàu nát ngôn ngữ thơ, khiến cho người ndonesia không thưởng thức được vẻ đẹp ngôn ngũ của mình.

Nhà văn Ostreylia Nicolas Joce lưu ý tới một tình hình khác: tính cộng đồng đa ngữ ở Ostreylia . Ở đó, tiếng Anh, tiếng hán, tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng địa phương đều có dịp biểu đạt. Theo ông xét về ngôn ngư, Ostreylia phải thuộc về châu Á.

Nhà văn Chu Lập Nguyên giáo sư Trung Quôc,cho răgf cần chú ý các yếu tố đằng sau ngôn ngữ. Ông nêu vấn đề đấu tranh ý thức hệ, dung hợp và sự phá triển của văn học. Ông cho rằng trong lịch sử Trung Quốc co đấu tranh ý thức hệ giữa nho, phật và lão, và sau đấu tranh à sự dung hợp các ý thức ấy vào thời Ngụy Tấn. Thời cuối Thanh đấu tranh Đông và Tây, nhưng đến thời Ngũ Tứ thì dung hợp tạo đà cho văn học phát triển.

Chuyên đề văn học chiến tranh ngay từ đầu đã gây xúc động cho hội nghị. Nhà thơ Philippine Pearl Doromal kể chuyện quân đội Nhật xông vào nhà  bà ở Trân Châu cảng và bắt đi cả nhà, tách nam nữ ra giam ở hai nơi. Họ đã tước đoạt đứa em trai của bà, còn bà chỉ nhớ nhờ tài diễn xuất mà tránh được cảnh ô nhục. Câu nói tôi tha thứ cho các người được bà nhắc đi nhắc lại làm cho các nhà văn Nhật và  hội nghị cảm động. Một nhà văn cựu chiến binh Nhật bày tỏ sự xấu hổ và đau đớn vì các tội ác ấy.ở Philippin, ở Nam Kinh, Trung Quốc. Nhà văn nữ Nhật bản Yoko Irie cho rằng, văn học chiến tranh ở Nhật Bản, nếu chỉ viết về hiroshima thì chưa đủ. Cần chú ý tới cuộc chiến tranh của Nhật ở Mản Châu, ở Việt nam, thì mới đầy đủ và mới rút ra được bài học cho tương lai.

Một nhà văn Ôstreylia sống ở Nhật cho rằng nhân tính bị đánh mắt trong chiến tranh cả ở phía gây hại và phá bị hoại. Nhà văn hôm nay phải vượt lên trên sự phân biệt kẻ bị hại và kể gây hạ ấy để nói được nhiều hơn về con người. Môt nhà văn Nhật khác là Obâyshi Shigeru cho rằng trong chiến tranh văn học chiến tranh chỉ nhằm cổ vũ, động viênchiến tranh, nó không thấy chiến tranh là có lỗi.Tôi mong xuất bản được tác phẩm nỗi giày vò và lương tâm của con người trong chiến tranh, vê fchiến tranh.

Đại diện cho nhà văn Việt Nam, Trần Đình Sử tôi đến hội nghị để làm quen, lắng nghe các ý kiến và giới thiệu đôi điều về vănhọcViệt Nam . Tôi cho biết từ  xưa các nhà văn Việt nam như Nguyễn Bình Khiêm, Nguyễn Du đều ghét chiến tranh. Và thương xót các sinh linh chết trong chiến tranh.  Có văn học chiến tranh kiểu Gơben và có văn học chiến tranh thể hiện ý thức văn hóa dân tộc. Thế kỉ XV Nguyễn Trãi đã nó Lấy đại nghĩa mà thắng kẻ hung tàn, lấy chí nhân mà thay cho cường bạo.Văn học chiến tranh Việt nam đi theo truyền thống đó.

Nhà văn nữ Philippine Maria Loudrres Jacob nhắc lại truyền thống ưu tú của Phlippin với tên tuổi của Hose Risal. Theo bà, nhà văn không thể không suy nghĩ về các vấn đề xã hội. Ngày nay nhà văn nên viết về nạn tham nhũng, một cuộc chiến tranh ngấm ngầm. Bà cho biết ở Columbia người ta treo giải thưởng cho tác phẩm phơi bày nạn tham nhũng. Phải chăng các nhà văn Châu Á cũng nên theo gương đó.

Nữ văn sĩ Nhật Hashizume Bun, người sống sót sau thảm kịch Hiroshima, cho rằng hội thảo rất bổ ích. Bà mong rằng vượt lên hạn thù để con người được đến với nhau.

Nhà văn kiêm nghị sĩ quốc hội Hương Cảng, bà  Giang Tố Huệ kể một câu chuyện cảm động. Bà nói nước Mĩ vừa kỉ niệm vê chiến tranh Việt nam. Có một bức ảnh chụp một bé gái Việt nam 8 tuổi bị bom cháy, mang cả khối lửa chạy. Bức này được giải thươmgr quốc tế. Được biết em sống sót, người Mĩ đã chạy chữa cho em và em đã trở thành người vợ. Gặp mặt với cựu chiến binh Mĩ, người ta hỏi làm sao mà cô sống sót được. Cô đã trả lời; tôi phải tự cứu tôi. Bà cho biết câu nói đó đã làm cưu chiến binh Mĩ rất xúc động. Nhà văn Nhật bản O. Kaga cảm thấy hai mặt, kẻ gây hại và kẻ bị hại. Các nhà văn Nhật theo ông, phâỉ chú ý tơi văn học phản đối chiến tranh.

Tổng kết cuộc hội thảo nhóm nhà văn Nhật bản Mago Rocu Ide nhấn mạnh: Chiến tranh Thái Bình Dương đã qua 50 năm, mà vẫn còn gây xúc động, điều này chứng tỏ văn học chiến tranh vẫn đang còn có ý nghĩa sâu sắc và nó đang thách thức lương tâm các nhà văn.

Hội thảo ở nhóm Văn học và sự phân biệt nêu lên quan hệ giữa  giữa văn học và các sự phân biệt trong xã hội: nam/nữ, giai cấp/giai cấp, thành thị/nông thôn, dân tộc thiểu số, văn hóa, tôn giáo. Nhiều nhà văn Trung Quôc, Hàn Quốc,Đài Loan đã giới thiệu văn học nữ giới ở nước mình. Đó là điều mới mẻ, vì phụ nữ chấu Á bị khinh bi hơn ở nơi khác.

Ở nhóm chuyên đề môi trường và văn học cũng có nhièu vấn đề thú vị được nêu lên.  Nhà văn Quảng Đông Trần Quốc Khải nêu lên vấn đề số phận  của văn học trong kinh tế thị trương. Ông nói, khi văn học bị thương mại hóa thì văn học mất chỗ đứng độc lập. Nhiều người tưởng tìm cách thoát li chính trị thì được sáng tác tự do,  không ngờ họ bị rơi ngay vào tay đầu nậu của kinh tế thị trường. Theo ông bất luận hoàn cảnh nào nhà văn phải kiên trì chân thiện mĩ. Nhà văn Indonesia I. M.  Moeliôno than phiền về làn sóng du lịch gây ảnh hưởng xấu đến vùng văn hóa Bali. Nhà văn Thái lan J. Wanit than phiền vai trò đồng tiền trong hủy hoại nhân tính. Thái Lan trước đây không hề biết đến đồng tiền, còn nay, đồng tiền là trên hết. thế hệ thanh niên ngày nay hầu như chỉ biết cóa đồng tiền. Hệ thống giá trị truyềnt hống bị mai một.

   Nhà văn Nhạt bản M. Ishimura rất bi quan, Ông nói, người ta sồng nhờ vào không khí, đất, nước, mà nay cả ba cái đó đều ô nhiễm, vậy con người sống ở đâu? Ông cho rằng nhà văn phải quan tâm tới môi trường văn hóa thì con người mới có hi vọng. Một nhà văn Nhật khác chủ trương phát huy truyền thống văn hóa phương Đông, coi trọng thiên nhiên.

   Các đại biểu đã làm việc hết sức căng thảng, từ sáng ngày 26- 11 đến 28-11, không nghỉ một buổi nào.Cuối ngaỳ 28- 11 hội thảo đã tổng kết và ra một bản tuyên bố , bày tỏ nguyện vọng đoàn kết, tìm hiểu nhau của các nhà văn châu Á, Thái Bình Dương nhằm thúc đẩy sáng tạo, bảo hộ quyền sáng tạo tự do của nhà văn, để văn học có thể góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc của khu vực và của hành tinh Trong hội thảo cũng có những ý kiến trái ngược, song cái chung là nổi bật, và cái chính là các nhà văn biết lắng nghe nhau. Trong buổi lễ bế mạc nhiều nhà văn tỏ ý hài lòng về hội thảo và mong mỏi sẽ có nhiều họi thảo tương tự để các nhà văn có dịp bày tỏ các suy nghĩ của mình vê các vấn đề chung.

   Riêng cá nhân tôi vui mứng nhận thấygiữa văn học Việt Nam và văn họcvăn học các nước trong khu vực có nhiều vấn đề chung, có những suy nghĩ tích cực có thể gps phần giúp ta thêm vững lòng trong định hướng văn nghệ của mình. Lại có những vấn đề có thể tham khảo thêm ở các bạn. Hội nghị PEN Nhật Bản à thêm một bước tốt đẹp trên đường hội nhập văn học khu vực và thế giới.

Hà Nội, ngày 1- 12- 1996.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s