Truyện Kiều và truyện Nôm sau nó

Truyện Kiều của Nguyễn Du đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa và văn học nước ta từ sau khi nó ra đời. Các sinh hoạt tập Kiều, trò Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều, kể Kiều…. từ lâu đã được ghi nhận như những sinh hoạt văn hóa phái sinh từ một tác phẩm độc nhất vô nhị.

Ngoài các sinh hoạt có tính văn hóa dân gian đó, việc cải biên Truyện Kiều để diễn chèo, tuồng, cải lương trên sân khấu cũng rất sôi động, thời nào cũng có.

Riêng tác động của Truyện Kiều đối với các sáng tác truyện Nôm sau nó là một hiện tượng đáng chú ý, tuy nhiên cho đến nay chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức bởi đây là một đề tài khó. Việc xác nhận ai chịu ảnh hưởng ai, câu văn nào chịu ảnh hưởng câu văn nào cho đến nay phần nhiều chỉ là phỏng đoán, vì chúng ta chưa phát hiện được tư liệu cho biết ai đã đọc ai, và phát biểu cảm tưởng về tác giả đó như thế nào. Ở đây còn có tâm lý sáng tác thời trung đại, ý thức bản quyền sáng tác hầu như chưa có. Việc sử dụng văn liệu người đi trước hay tự tay nhuận sắc văn bản của người đi trước được coi là tự nhiên nhi nhiên.

Giới khoa học Việt Nam đã đi đến xác nhận rằng Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự có trước Truyện Kiều, Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng của Hoa Tiên. Nhưng đến lượt Nguyễn Thiện lại chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều khi nhuận sắc, sửa chữa lại Truyện Hoa Tiên.

 Nguyễn Thiện sinh năm 1763 và mất năm 1818, gọi Nguyễn Du bằng chú. Tuy là chú cháu, nhưng là cùng một trang lứa, một thế hệ. Theo Hoàng Xuân Hãn thì Hoa Tiên nhuận chính có trước và Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của cháu mình. Nhưng Đào Duy Anh đã chứng minh ngược lại(1).

Đúng như vậy, nếu lần tìm từ tác phẩm của Nguyễn Thiện, người ta cũng có thể tìm được một vài dấu vết. Đào Duy Anh đã dẫn hai câu trong Hoa Tiên (N.TH).

Bấy lâu đeo đẳng vì hoa

Nào hiên  Lãm Thúy ắt là đâu đây.

để chứng tỏ Nguyễn Thiện đã chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều! Vũ Đức Phúc trong một bài nghiên cứu cũng cho thấy Nguyễn Thiện bắt chước Truyện Kiều(2). Liệu có khả năng Nguyễn Thiện chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Thanh Tâm tài nhân chăng? Điều này khó có thể xảy ra, bởi vì chính nhờ Truyện Kiều của Nguyễn Du mà truyện của Thanh Tâm tài nhân mới được chú ý. Đó là bằng chứng chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều. Chúng ta có thể nêu thêm những ví dụ khác để chứng tỏ ảnh hưởng đó. Chẳng hạn, trong Truyện Kiều có câu “Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi” thì bản văn của Nguyễn Thiện có câu: “Làm chi đem giống khuynh thành trêu ai”, mà câu này không có trong bản của Nguyễn Huy Tự(3). Truyện Kiều có câu: “Khi sao phong gấm rũ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”, thì bản Nguyễn Thiện có câu: “Khi sao son gác phấn lầu, Giờ sao tan tác mặt dầu khói sương” mà câu này không có trong bản của Nguyễn Huy Tự. Hoặc Truyện Kiều có câu: “Duyên đâu ai dứt tơ đào, Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay” thì bản Nguyễn Thiện có câu: “Duyên kia thôi vậy cũng rầu, Nợ kia ai lại làm rầu rĩ ai” – Câu này Nguyễn Huy Tự không có. Cũng vậy Truyện Kiều có câu: “Nỉ non đêm ngắn tình dài, Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương” thì Nguyễn Thiện có câu: “Nỉ non đêm ngắn tình dài, Nguyệt cài bên triện hoa rơi trước thềm”. Truyện Kiều có câu “Tà tà bóng ngã về tây, chị em thơ thẩn dan tay ra về” thì Nguyễn Thiện cũng có câu: “Tà tà bóng ngả in doành. Đầu doi bay lộ, vẻ ghềnh nỗi âu”. Những câu như vậy có thể tìm thấy nhiền hơn nữa. Một tác phẩm có thể gây ảnh hưởng tới lời văn của tác phẩm khác thì lời văn của nó phải điêu luyện mà giàu ma lực. Một lời văn như thế chỉ có ở Truyện Kiều chứ chưa có ở Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện. Ảnh hưởng của Nguyễn Huy Tự đối với Truyện Kiều chủ yếu là đề tài, cảm hứng và phương thức lời văn đa chủ thể chứ chưa phải là bản thân lời văn bởi lẽ lời văn ở đấy còn nhiều tiếng cổ và cách diễn đạt vụng về, tối nghĩa.

            Nếu Nguyễn Thiện, một tác giả miền Trung đã chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều, thì ta có thể tìm thấy ảnh hưởng đó trong một tác phẩm của người miền Bắc. Đó là truyện Nôm Bích câu kỳ ngộ (BCKN) của Vũ Quốc Trân, người đời Nguyễn (khoảng giữa thế kỉ XIX) người quê Hưng Yên, không rõ năm sinh năm mất. Đây cũng là một tác phẩm gợi nhớ hơi văn, lời văn Truyện Kiều của Nguyễn Du. Chúng ta hãy so sánh các câu thơ sau:

1. Kiều:          Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giầy

   BCKN:        Cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều.

2. Kiều                        Thông minh vốn sẵn tư trời

                        Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

   BCKN:        Thông minh vốn sẵn tư trời

                        Còn khi đồng ấu, mai vui cửa Trình.

3. Kiều:          Hoa thơm phong nhụy, trăng vòng tròn gương

    BCKN        Hoa còn phong nhụy, trăng vừa tròn gương

4. Kiều                        – Chày sương chưa nện cầu Lam

                        Sợ lần khân quá ra sàm sở chăng

                        – Phẩm tiên đã bén tay phàm

Thì vin cành quýt cho cam sự đời.

   BCKN:        Chày sương đợi khách cầu Lam

                        Phẩm tiên mang bén tay phàm biết đâu.

5. Kiều :         Đoạn trường khi ấy nghĩ mà buồn tênh

   BCKN:        Đoạn trường từ ấy nghĩ mà buồn tênh

6. Kiều :         Hương gây  mùi nhớ trà khan giọng tình

   BCKN:        Như xông mùi nhớ lại gây giọng tình.

7. Kiều :         Vẻ chi một đóa yêu đào

                        Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.

   BCKN:        Hỏi cho giáp mặt hoa đào

                        Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru!

8. Kiều :         Lạ cho cái giống khuynh thành

                        Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi.

   BCKN:        Lạ cho cái giống hương trời

                        Biết năm, biết thuở, biết đời nào quên!

9. Kiều :         Vớt trăng dưới nước bẻ hoa cuối mùa

   BCKN:        Vớt trăng dưới nước, mò kim trong doành.

10. Kiều :       Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

   BCKN:        Người buồn xui cả cỏ cây cũng buồn.

11. Kiều :       Một vùng cỏ mọc xanh rì

                        Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu

   BCKN:        Nước trong vắt cỏ xanh rì

                        Thạch kiều thấy đó, giai kỳ nào đâu?

            Còn có thể dẫn thêm nhiều câu nữa, nhưng từng ấy câu cũng cho thấy sự lan tỏa mạnh  mẽ của văn phong Truyện Kiều vào trong truyện Nôm.

            Chúng ta còn có thể tìm thấy dấu vết văn Kiều trong sáng tác của tác giả miền Nam. Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, một tác phẩm được sáng tác vào những năm 50 của thế kỷ XIX(4) sau Truyện Kiều của Nguyễn Du gần nửa thế kỉ. Nguyễn Đình Chiểu là người đặc biệt có hứng thú viết truyện Nôm. Những đề tài về nho, y ông cũng diễn đạt dưới hình thức truyện Nôm, vì vậy chắc chắn ông đã quan tâm nhiều tới các truyện Nôm, có thể là Truyện Kiều dễ thuộc hơn cả, dễ để lại nhiều kiểu câu, nhiều  lối diễn đạt cho nhà thơ mù. Truyện Lục Vân Tiên đã có nhiều câu thơ giống nguyên hoặc hao hao giống như câu thơ Kiều, đã chứng tỏ cái hơi văn chương của thi sĩ Bắc Hà đã có bộ phận hòa nhập vào hồn văn học của nhà thơ lục tỉnh. Nó chứng tỏ sự hòa quyện của truyền thống văn học dân tộc trong các tác giả lớn và tính thống nhất sâu sắc của Tổ quốc Việt Nam.

            Mở đầu Truyện Kiều Nguyễn Du viết “Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”, thì mở đầu Lục Vân Tiên cũng có mô típ: “Trước đèn xem chuyện Tây Minh”.

            Mở đầu câu chuyện Nguyễn Du nêu lên quan niệm chung về cuộc đời:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

            Thì trong Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực khi cùng Lục Vân Tiên đàm đạo với nhau đã thốt lên tư tưởng ấy:

Cùng nhau bàn bạc gần xa,

Chữ tài chữ mệnh xưa hòa ghét nhau” (402,3)

Khi Kiều nói với Kim Trọng trong cơn âu yếm lả lơi:

Phải điều ăn xổi ở thì,

Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày.

Thì khi Kiều Nguyệt Nga ghi ơn cứu nạn của Lục Vân Tiên đã nói:

Lâm nguy chẳng kịp giải nguy

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi (164)

            Khi Kiều mơ thấy Đạm Tiên, quá buồn cho số phận  mình, đã khóc than: “Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn”. Thì Kiều Nguyệt Nga về nhà, chưa có cách gì báo đáp cho Lục Vân Tiên, nàng đã:

                        Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn (260)

Khi Kiều bốp chát với Sở Khanh, nghĩ mà buồn cho thân thế:

                        Đến phong trần cũng phong trần như ai

Thì Lục Vân Tiên sau khi mẹ mất, không kịp báo hiếu, mà cũng lỡ dịp lập thân, đã cẩm tháy:

Phong trần ai cũng phong trần như ai (592)

Kết thúc Truyện Kiều Nguyễn Du viết:

            Chữ tài liền với chữ tai một vần.

thì sau khi mẹ mất, Lục Vân Tiên đã cảm thây:

                        Chữ tài liền với chữ tai một vần (594)

            Lục Vân Tiên khi than thân cũng lặp lại cách diễn đạt của Kiều “Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn” bằng cách thay vào hai chữ “não nùng”: Nghĩ đòi cơn lại não nùng đòi cơn (622)

            Khi Kiều chia tay với Kim Trọng về hộ tang chú đã hứa:

                        Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ.

thì trước mặt Lục ông Kiều Nguyệt Nga cũng dứt khoát thề nguyền như vậy: Dẫu thay mái tóc phải gìn mối tơ (1310).

            Tương tự như vậy còn một số câu khác giống nhau hoặc sửa đổi chút ít. Chẳng hạn hãy đối chiếu, có những câu giống hệt, có những câu giống một phần:

–           Để lời thệ hải minh sơn (K.603, LVT 1857).

–           Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha (K.86, LVT 1626).

–           Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu (K 506)

            Làm thân con gái chữ trinh làm đầu (LVT 1592)

–           Nghĩ đời mà ngán cho đời (K.2153)

            Nghĩ mình mà ngán cho mình (LVT 239)

–           Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương (K 66)

            Gió đưa đâu phút gãy cành thiên hương (LVT 588)

–           Phận sao phận bạc như  vôi (K753)

            Nào hay phận bạc như vôi thế này (LVT 630)

–           Thấy hiu hiu gió thời hay chị về (K 744)

            Hiu hiu gió thổi ngọn cây (LVT 1479)

            Chưa chú ý tới tình hình dị bản của hai tác phẩm, chỉ so sánh ngẫu hứng hai tác phẩm cũng cho thấy có dấu vết sử dụng câu thơ Kiều như ngữ liệu có sẵn. Việc sử dụng này một phần do hai tác giả có chung một vốn liêng văn hóa, tư tưởng, một phần khác do câu thơ Kiều đạt tới một chuẩn mực trau chuốt có sức ám ảnh của một thời, hễ gặp tình huống tương tự thì các câu thơ ấy vang lên, thâm nhập vào tác phẩm mới. Huống hồ Lục Vân Tiên được sáng tác ra từng đoạn, từng phần được học trò lưu truyền, sửa sang thì sự thâm nhập kia dễ xảy ra hơn. Ảnh hưởng của Truyện Kiều đối với truyện Nôm  không chỉ có thế, sang thế kỷ XX, năm 1913 Hồ Văn Trung (Hồ Biểu Chánh) sáng tác truyện Nôm U tình lục gồm 1790 câu lục bát và hai bài thất ngôn. Nhiều câu thơ lục bát ở đây đã chịu ảnh hưởng đậm đà lời văn Truyện Kiều. Chẳng hạn:

– Nền phú hậu, kẻ anh tài

Đấy đây dầu sánh nào ai kém gì

– Dằn lòng gạt lệ phân tay,

Người vào nẻo trước, kẻ quày đường sau.

– Tình lang ôi hỡi tình lang

Xa xôi biết thiếp đoạn tràng này chăng?

– Phận bèo đến thế thì thôi

Đánh liều nhắm mắt coi trôi bến nào?

– Lờ mờ thỏ gác đầu hiên

Thấy trăng như nhắc câu nguyền trăm năm…

            Có nhà nghiên cứu đã khẳng định, “truyện U tình lục đã chịu ảnh hưởng sâu đậm truyện Đoạn trường Tân Thanh về kỹ thuật, nghệ thuật cũng như về chủ đề, các tình tiết trong cốt truyện và tâm lý các nhân vật”. Đó là một sự thật càng nhìn càng thấy rõ.

            Nhìn qua dấu vết Truyện Kiều của Nguyễn Du trong sáng tác truyện Nôm Bắc (Bích câu kì ngộ), Trung (Truyện hoa tiên của Nguyễn Thiện), Nam (Lục Vân TiênU tình lục) ta có thể hình dung sức lôi cuốn và ảnh hưởng rộng lớn của Truyện Kiều. Và ảnh hưởng ấy chủ yếu nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của văn học trung đại. Các nhà văn trung đại có thể sử dụng các mô típ hình tượng, công thức ngôn từ vào sáng tác của mình một cách tự  nhiên vì ý thức cá tính đã có nhưng chưa mạnh mẽ, và mặt khác về phong cách họ cũng chưa có những khác biệt thật gay gắt. Từ lâu các nhà nghiên cứu đã cho thấy nhà thơ La Mã Virgin và nhà thơ Trung Quốc Đào Tiềm đã sáng tác tác phẩm của mình bằng cách ghép nối những câu thơ có sẵn của người đi trước. Và nhà nghiên cứu Nga Đ.Likhachốp còn cho thấy hiện tượng đó xảy ra là do trong thể loại văn học trung đại có một hình tượng tác giả nhất quán. Nhưng mặt khác sự tiếp thu ảnh hưởng câu chữ đó không hề che lấp cấu tứ sáng tạo của người tiếp thu, không biến tác phẩm ấy thành tác phẩm bắt chước.

            Tất nhiên ảnh hưởng của một tác phẩm lớn như Truyện Kiều không nên hiểu hời hợt chỉ như những nét hao hao bề ngoài về ngôn từ, mà nên tìm hiểu thêm từ trong chiều sâu. Tuy nhiên những câu hao hao giống nhau như trên có thể nói lên nhiều điều. Các tác phẩm có những tình tiết tình huống, quan hệ nhân vật tương tự, có chung một kiểu suy nghĩ, một vốn ngữ liệu (biểu trưng, điển cố…). Nhưng vấn đề là Nguyễn Du đã tạo ra những thế câu, những kiểu diễn đạt, những tiểu đối hài hòa có tính mẫu mực là khuôn thước cho tư duy và biểu đạt của các tác giả đến sau, làm cho họ có nhu cầu nhập tâm, mô phỏng.

            Một sự nghiên cứu, đối  chiếu sâu rộng hơn nữa chắc sẽ cho thấy ảnh hưởng sâu xa của Truyện Kiều đối với văn học Việt Nam thế kỉ XIX và thế kỉ XX. Chúng tôi biết đây là vấn đề gây tranh cãi. Chỉ xin xem đây như những đường nét phác thảo để các bậc cao minh đến sửa chữa, bổ sung.


(1) Truyện Hoa Tiên, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu, Hà Nội. Nxb. Văn hóa, 1961.

(2) Vũ Đức Phúc – Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Nguyễn Thiện với truyện Hoa Tiên – Nguyễn Huy Tự và truyện Hoa Tiên, KHXH, H.1997

(3) Xem truyện Hoa Tiên, Đào Duy Anh khảo đính, chú thích, giới thiệu, Hà Nội , Nxb. Văn học, 1978.

(4) Nguyễn Thạch Giang: Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, T.1, Hà Nội. Nxb. ĐH và THCN 1980, tr.34. Văn bản Lục Vân Tiên chúng tôi lấy trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Nxb. Văn học 1971. Văn bản Truyện Kiều theo bản của Nguyễn Thạch Giang con số trong ngoặc là số thứ tự câu trong tác phẩm.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s