PHẢN ÁNH LÀ KIẾN TẠO (2)

    Một thời gian dài nhiều người trong chúng ta chỉ bám vào một số câu chữ thiếu chính xác của Lên nin mà hình thành một quan niệm máy móc, giản đơn về phản ánh,  coi đó là lí luận duy nhất đúng về nhận thức, là lí luận về ý thức xã hội, đem vận dụng vào lĩnh vực nghệ thuật, xem nghệ thuật là sự phản ánh coppy đời sống xã hội, gây rất nhiều ngộ nhận và tranh cãi. Một trong những ngộ nhận đó là coi đối tượng của thể kí là các sự thật, coi đối tượng của tiểu thuyết lịch sử là sự thật lịch sử, mà không thấy trong kí cũng như trong tiểu thuyết lịch sử, sự thật là một loại ngôn ngữ đặc trưng của thể loại dùng để tạo sức thuyết phục cho người đọc, Còn nội dung của các loại văn học đó là các ý nghĩa, các thông điệp của nhà văn. Một lí luận như thế tất nhiên chưa tạo đủ cơ sở khoa học để giải quyết những vấn đề phức tạp như phản ánh trong văn học và nghệ thuật.

    Lí luận nhận thức thế kỉ XX đã cho thấy sự phản ánh có một cơ chế hoàn toàn khác, ý thức tư duy không phải đơn giản là coppy, sao chụp thực tại khách quan. Trước hết, đầu óc con người không có một cái “gương”, “máy ảnh” nào để có thể coppy, sao chụp bất cứ sự vật khách quan nào của thế giới. Khái niệm “gương” hoàn toàn là một ẩn dụ thụ động, không có tính tích cực. Quá trình phản ánh là quá trình của não bộ đem các thông tin thu nhận từ bên ngoài qua các giác quan mà kiến tạo thành ý thức mà chủ thể đóng vai trò tích cực, chủ động, còn thực tiễn đóng vai trò yếu tố kiểm nghiệm. Toàn bộ tâm lí học hiện đại đều khẳng định từ cảm giác đến tri giác, biểu tượng, khaí niệm là quá trình kiến tạo của chủ thể[1]. Cơ sở của nhận thức là hoạt động. Trong hoạt động con người có những sơ cấu (schemes) cho phép nó tiếp nhận theo nguyên tắc đồng hoá thông tin. Một sơ cấu là một mô hình có tổ chức của hành vi; nó phản ánh một cách tương tác đặc biệt với môi trường. Một sơ cấu là bất  cứ cái gì có thể lặp lại và khái quát hoá trong một hành động. Khi thông tin lớn hơn khả năng đồng hoá của sơ cấu thì cơ thể có cơ chế thuận ứng với tác động, hình thành sơ cấu mới để đồng hoá thông tin mới, cứ thế biến đổi mãi sơ cấu và nâng cao trình độ nhận thức của chủ thể. Piajet đã chứng minh hệ thống tri thức con người thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống nhận thức của nó. Lí thuyết tâm lí học hoàn hình cho rằng nhận thức sự vật phụ thuộc vào cái cách mà chúng ta nhìn nhận sự vật. Họ thực hiện nhiều trắc nghiệm cho thấy cách nhìn của chúng ta góp phần kiến tạo nên những khái niệm về sự vật. Cách nhìn chủ quan sẽ phán đoán khác nhau. Chẳng hạn từ  hình dáng các hòn đá, thạch nhũ khách quan trong hang động mà người ta có thể tưởng tượng ra những hình người hình vật (bà tiên, ông phật, con sư tử…) khác nhau tuỳ thuộc vào sức liên tưởng và tưởng tượng.

     Tính chất kiến tạo của tư duy, với tư cách là một vấn đề lí luận, là một bước tiến đánh dấu sự tiến bộ trong lí luận nhận thức. Triết học trước Kant người ta chỉ biết có hai yếu tố: tư tưởng và giới tự nhiên. Engels nói : “Một người chỉ biết giới tự nhiên, một người khác chỉ biết tư tưởng”, rồi hoặc dùng tư tưởng giải thích tự nhiên, hoặc lấy tự nhiên giải thích tư tưởng, và thế là tạo nên hai trường phải triết học duy vật và duy tâm. Nhưng làm thế nào để từ tự nhiên chuyển hoá thành tư tưởng thì chưa được nghiên cứu. Nhận thức cảm tính của con người theo Kant chỉ nhận thức phần cảm tính, còn  bản chất, quy luật là “cái tự nó”, giác quan không nhận thức được, con người muốn nhận thức thì phải dựa vao các phạm trù tiên nghiệm, như không gian, thời gian…từ đó tạo thành những cặp phạm trù đối lập nhị nguyên như cảm tính/ lí tính, hiện tượng/ bản chất, ngẫu nhiên/quy luật, cái riêng/cái chung…Chủ nghĩa Mác trên cấp độ vĩ mô đã diễn giải quá trình tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, trong đó sự cải tạo tự nhiên của con người diễn ra đồng thời với việc con người tự cải tạo chính mình. Sự cải tạo chính mình làm cho con người có khả năng nhận thức. Các nhà tâm lí học đã chứng minh sự hình thành cảm giác, tri giác trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, và cho thấy sự phản ánh là hoạt động tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, trong đó trước tác động của ngoại giới, chủ thể chủ động kiến tạo nên tri thức và ý thức. Từ đó ta có thể hiểu thêm về bản chất của phản ánh.

     Phản ánh luận mác xít đã nói nhiều đến tính năng động chủ quan của con người trong quá trình phản ánh nhận thức. Chẳng hạn nhấn mạnh đến tính lựa chọn, khái quát trong phản ánh. Khi nhận thức, con người biết gạt bỏ cái hiện tượng, chọn cái bản chất; gạt bỏ cái cá biệt, lấy cái chung, gạt bỏ cái ngẫu nhiên lấy cái tất yếu…Nhưng nhận thức đó lấy cái bản chất, cái chung, cái tất yếu như thế nào thì chưa được nói rõ. Thông thường người ta dùng từ “khái quát”. Theo cách hiểu hiện đại thì, thứ nhất, tính năng động của phản ánh không chỉ giản đơn ở thao tác lựa chọn mà còn cả ở khâu kiến tạo. Theo cách hiểu hiện đại thì khi khái quát cái tất yếu, cái chung, cái bản chất cũng không phải là phản ánh coppy giản đơn, mà là kiến tạo ra chúng theo các dữ kiện và cách nhìn nhận của một hệ hình chủ quan nhất định. Chính vì vậy cái gọi là “bản chất”, “tất yếu”, “cái chung” trong thế giới nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực xã hội, tinh thần nói riêng, không phải là duy nhất và bất biến. Nói cách khác, cái bản chất, tất yếu, cái chung cũng chỉ là những giả thiết của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định, chờ được thực tiến kiểm nghiệm, chứ không phải hoàn toàn khách quan. Thứ hai, sự phản ánh – kiến tạo như thế đồng thời cũng là sáng tạo, và do đó không có sơ sở để đối lập phản ánh và sáng tạo như Lên nin có lúc đã nói và lâu nay nhiều người người vẫn viện dẫn. Từ đó sự khác biệt giữa khoa học và nghệ thuật hoàn toàn không phải là một bên thì phản ánh còn bên kia thì ngoài phản ánh còn cộng thêm sáng tạo, biểu hiện. Sự khác biệt của khoa học và nghệ thuật thể hiện ở nguyên tắc kiến tạo khác nhau nhằm những mục đích khác nhau. Chẳng hạn nghệ thuật cho phép sử dụng các ấn tượng chủ quan, phản ánh qua hình thức hư cấu, ẩn dụ, còn khoa học thì phản ánh qua các phạm trù, công thức khách quan nhằm tới nhận thức chính xác. Xét trong mỗi thời thì phản ánh khoa học hay nghệ thuật cũng đều phụ thuộc vào những hệ hình nhất định, cho nên cả khoa học lẫn nghệ thuật đều có tính chủ quan. Người ta đã nói đến “bức tranh vật lí về thế giới” và “bức tranh nghệ thuật về thế giới” để chỉ tính chủ quan đó. Bản thân ngôn ngữ, phương tiện để ghi nhận và truyền đạt sự phản ánh cũng mang tính chủ quan, mà giới khoa học gọi là “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”. Ngoài ra, phát hiện khoa học cũng dựa nhiều vào ngẫu nhiên như là các phát hiện về nghệ thuật.

      Phản ánh luận trong tầm nhìn hiện đại hiểu theo tư tưởng kiến tạo không hề mâu thuẫn với các lí thuyết nhận thức luận phát sinh, tâm lí học gestalt, kí hiệu học… và mở ra khả năng tổng hợp để lí giải quá trình chuyển hoá từ thực tại đến ý thức con người có thể làm cơ sở cho việc giải thích các hoạt động sáng tạo, bao gồm cả văn học nghệ thuật.

    Nhưng lí thuyết phản ánh không thể chỉ giải quyết trong phạm vị tâm lí học nhận thức. Bước sang thế kỉ XX, với sự phát triển của ngôn ngữ học, kí hiệu học, với bước “chuyển hướng sang ngữ học”, phản ánh luận cần được xem xét từ phía kí hiệu học và ngữ học.

       Như trên đã nói, lúc sinh thời Marx đã nhận thấy vai trò của ngôn ngữ trong kiến tạo ý thức. Ông nói, ý thức phản ánh tồn tại (ý thức là tồn tại được ý thức), nhưng ý thức không thể có được nếu không có ngôn ngữ (ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy), như thế cũng có nghĩa là kí hiệu là hiện thực trực tiếp của tư duy, tư tưởng. Ngôn ngữ, kí hiệu đóng vai trò hết sức đặc biệt trong sự nảy sinh ý thức của con người. Đây chính là điểu mà Lênin không để ý tới khi giải quyết vấn đề phản ánh, chẳng những thế, ông còn cho rằng kí hiệu, tượng trưng sẽ làm sai lệch vấn đề chân lí.

      Theo nhà văn hoá học người Đức E. Cassirer, các sinh thể đều có hai hệ thông cảm giác. Một là hệ thống giác quan tiếp nhận kích thích của ngoại giới, và một hệ thống phản xạ với các kích thích ấy. Hai hệ thống này tác động qua lại thăng bằng tạo nên đời sống ổn định của sinh vật. Nhưng ở con người ngoài hai hệ thống ấy còn có hệ thông trả lời, đáp trả. Nếu hệ thống phản xạ (reaction) luôn luôn tức thời, thì hệ thống đáp trả, trả lời lại kéo dài, hoà hoãn.  Đó là vì “con người là động vật biết sử dụng kí hiệu (animal symbolicum)”[2], biết tư duy. Kí hiệu khác hẳn tín hiệu, cái sau tồn tại trong thế giới vật lí, kí hiệu là bộ phận của thế giới tinh thần, của thế giới ý nghĩa. Khi con người đã có hệ thống kí hiệu rồi, và tư duy bằng ngôn ngữ, bằng các tên gọi của sự vật, thuộc tính của sự vật và các quan hệ của chúng, “thì con người không còn sống trong vũ trụ vật lí đơn thuần, mà đã sống trong một vũ trụ kí hiệu do nó tạo ra. Ngôn ngữ, thần thoại, nghệ thuật, và tôn giáo…là các bộ phận của cái vũ trụ kí hiệu đó, chúng là những thứ sợi khác nhau dệt nên tấm lưới kí hiệu, tấm lưới dệt bằng kinh nghiệm của con người. Mọi tiến bộ của con người về tư tưởng và kinh nghiệm sẽ khiến cho tấm lưới kí hiệu này ngày càng tinh xảo và bền chắc. Con người không còn có thể trực tiếp đối diện với thực tại được nữa, nó hầu như không thể mặt đối mặt trực quan với thực tại được nữa. Năng lực hoạt động kí hiệu của con người tiến bộ bao nhiêu thì  thực tại vật lí hầu như cũng lùi xa khỏi con người bấy nhiêu. Trên một ý nghĩa nào đó có thể nói, con người xoay xở với chính mình chứ không phảỉ ứng phó, “phản xạ” với bản thân sự vật. Con người khiến cho mình bị bao vây trong các hình thức ngôn ngữ, tưởng tượng nghệ thuật, kí hiệu thần thoại và nghi thức tôn giáo, đến mức ngoài các phương tiện môi giới nhân tạo ấy, con người không thể nhìn thấy cái gì hoặc nhận thức cái gì được nữa. Tình trạng con người trong lĩnh vực lí luận như thế cũng biểu hiện trong lĩnh vực thực tiễn. Dù là trong thực tiễn con người cũng không sống trong thế giới sự thật sắt đá, không sống dựa vào nhu cầu trực tiếp và nguyện vọng của mình, mà sống trong niềm xúc động tưởng tượng, trong hy vọng và lo âu, sợ hãi,, ảo giác và tỉnh ngộ, không tưởng và mộng tưởng.”[3] Ví dụ trong nhà có một người ốm, người ta không quan sát tới bệnh tình, mà nghĩ ngay đến ma quỷ và thần linh và mời thầy về cúng bái. Trong trường hợp này cảm giác không đóng vai trò hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan để đưa tới chân lí. Ý thức khoa học và năng lực nhận thức chân lí khách quan phải xuất hiện rất muộn, khi con người biết đối lập sự thật khách quan với ý thức chủ quan của mình mới có được, nó là một yêu cầu đặc biệt của phản ánh ở giai đoạn phát triển cao của ý thức con người. Suy luận của nhà triết học Đức cho ta thấy, với hệ thống kí hiệu, nhờ cách xa tác động của vật chất trực tiếp, con người mới có được một thế giới tinh thần, ý thức, khái niệm, ý niệm, ảo tưởng, không tưởng. Và với hệ thông kí hiệu con người có một thế giới tinh thần và đời sống tinh thần ngày càng phát triển và phong phú. Nếu không có kí hiệu có thể nói dứt khoát con người không có đời sống tinh thần. Với các hệ thống ấy, con người có quan niệm không gian, thời gian khác hẳn bản năng thời gian, không gian của con vật, biết phân biệt hiện tại, quá khứ, tương lại, có quan niệm không gian thế giới, không gian vũ trụ, biết phân biệt hiện thực và khả năng, biết kí ức và mơ ước tương lai và sống với tương lai ấy. Như thế, con người không còn phản ánh thế giới chỉ trực tiếp bằng cảm giác mà bằng cả các hệ thống kí hiệu kiến tạo thế giới.  Với năng lực hoạt động kí hiệu, con người kí hiệu hoá toàn bộ thế giới. Mọi sự vật hiện tượng đều có tên và trở thành kí hiệu, chỉ hiệu, biêủ tượng. R. Barthes cho thấy toàn bộ các thời trang, cử chỉ, màu sắc…đều là kí hiệu. Kí hiệu giúp chuyển hoá từ cái có ích thành cái đẹp, cái xấu. Trong sách Những bức thư không có địa chỉ, Plêkhanov từng luận chứng rằng cái có ích có trước cái đẹp. Vì sao thế? Theo chúng tôi đó là vì cái có ích lâu dần trở thành kí hiệu của cái đẹp. Chỉ cần hình thức của cái có ích là trở thành cái đẹp. Với kí hiệu người ta vẽ ra các xã hội không tưởng.  Thế giới tinh thần rộng hơn hẳn thế giới vật chất xung quanh con người. 

    Với hệ thống kí hiệu chúng ta thấy rõ, qua ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học…ý thức con người chưa bao giờ là sự sao chép, phục chế, tái hiện, coppy giản đơn thực tại, không phải bao giờ cũng là hình ảnh tương đồng giản đơn với thế giới khách quan, mà trái lại, ý thức con người đã cải tạo lại, kiến tạo nên ý thức của mình về thực tại. Và muốn nhận thức chân lí con người phải biết chống lại tính chủ quan của mình. Lí luận khoa học là dùng để chống lại các thường thức mà chúng ta quen sống trong đó. Đó là tư tưởng khoa học của Karl Marx. Trong mỗi ngôn ngữ có bức tranh thế giới của riêng nó, khác biệt với ngôn ngữ khác. Bức tranh thế gíơi trong tiếng Pháp khác với bức tranh thế giới trong tiếng Nga, đến lượt mình bức tranh thế giới trong tiếng Việt khác với bức tranh thế giới trong tiếng Trung Quốc. Do khác nhau đó mà người ta rất khó dịch thông thuận từ tiếng này sang tiếng khác mà không đánh mất nhiều nghĩa, và mang tiếng dịch là diệt. Trong khoa học mỗi thời đều có bức tranh thế giới của nó. Ví dụ bức tranh thế giới của vật lí cổ điển khác xa bức tranh thế giới của vật lí hiện đại[4]. Sự phản ánh của thần thoại và tôn giáo đối với hiện thực là các trường hợp đặc biệt, nói như Feuerbach là phản ánh lôn ngược, thì cũng là một sự phản ánh. Còn văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học, theo chúng tôi là sự tư duy về cái khả nhiên[5], tức là phản ánh những khả năng của đời sống, chứ không phản ánh các sự thực, bởi đó là lĩnh vực của lịch sử và báo chí, thông tấn. Mà báo chí, lịch sử cũng không phải bao giờ cũng đều phản ánh sự thật. Tóm lại đến đây chúng ta thấy ngoài các hình thức phản ánh thế giới bằng giác quan, thuộc lĩnh vực tâm lí học, về ý thức xã hội con người còn có hình thức phản ánh bằng ngôn ngữ, một điều mà phản ánh luận của Lênin chưa quan tâm đến.

    “Bước ngoặt ngôn ngữ học” bắt đầu từ nhà triết học Đức G. Frege, người hoài nghi tính xác thực của ngôn ngữ. Trong công trình Cơ sở thuật toán (1884) ông đề nghị phân biệt yếu tố tâm lí với yếu tố logích; nghĩa của từ ngữ phải hiểu trong mệnh đề; và phân biệt khái niệm với khách thể mà khái niệm biểu đạt. Với ba yêu cầu đó ông đã chuyển trọng tâm từ nhận thức luận sang vấn đề ngôn ngữ học. Quan niệm đó được hầu hết các nhà ngữ học lớn thế kỉ XX tiếp nhận. Saussure đối lập ngôn ngữ với lời nói, song khẳng định mối quan hệ không tách rời giữa tư tưởng với ngôn ngữ. “Tư tưởng một khi tách rời khỏi sự biểu đạt của từ ngữ thì sẽ trở thành một mớ hỗn độn, mơ hồ không rõ gì cả.”, “ngôn ngữ có thể ví như một tờ giấy, tư tưởng là mặt chính, còn mặt kia là thanh âm. Chúng ta không thể tách rời mặt này mà không đồng thời tách rời mặt kia, cũng như vậy trong ngôn ngữ chúng ta không thể khiến âm thanh tách rời khỏi tư tưởng, cũng không thể khiến tư tưởng tách rời khỏi âm thanh.” Ông tiến tới khẳng định, tư tưởng phụ thuộc vào ngôn ngữ, cái không có trong ngôn ngữ thì cũng không có trong tư duy. “Ngôn ngữ là một hệ thống”, “các yếu tố của nó có quan hệ liên đới, giá trị của mỗi yếu tố trong đó đều là kết quả của quan hệ tồn tại đồng thời với các yếu tố khác.”, nghĩa là ý nghĩa, giá trị của mỗi yếu tố không phải của tự thân chúng, mà do mối quan hệ với các yếu tố khác quy định. Do đó ý nghĩa do hệ thống quyết định, do nó có quan hệ liên hệ hay đối lập mà có.  Trước đây người ta xem ngôn ngữ là yếu tố của hình thức, là tên gọi của sự vật, là công cụ biểu đạt nội dung phản ánh, nay người ta xem ngôn ngữ là bản chất của văn học, nội dung (ý nghĩa) của văn học là do ngôn ngữ tạo nên. Chẳng những thế, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo. Dĩ nhiên, đó là cái hiện thực mà con người đã nắm được. Hiện thực mới phải do ngôn ngữ mới biểu đạt. Mỗi ngôn ngữ chỉ biểu đạt một hiện thực. Con người cần có rất nhiều (vô số) ngôn ngữ mới có khả năng hiểu được hiện thực trong tính toàn vẹn. Nhà lí luận Pháp R. Barthes khẳng định: “Không có ngôn ngữ thì không có hiện thực.” (Khoái lạc của văn bản), con người phải thông qua ngôn ngữ mới vào được hiện thực, mà bản thân hiện thực cũng do ngôn ngữ kiến tạo, từ đó chủ nghĩa cấu trúc khẳng định: văn học không phản ánh hiện thực, mà kiến tạo hiện thực. Giữa ngôn ngữ và hiện thực có một hố sâu ngăn cách. Barthes nói: “Hoạt động thực tiễn của văn học là một hoạt động tuyệt đối gián tiếp, bất cập vật.”, “đối với nhà văn, từ “viết” là một từ bất cập vật.” nghĩa là không liên can đến thực tại.(Tập tiểu luận về phê bình, 1964, Seul, 140, 149). Điều quan trọng đối với nhà văn là sáng tạo ra một cái biểu đạt, chứ không phải cái được biểu đạt. Theo ông văn học là một trò chơi hữu ích của tâm hồn, dùng để giải phóng ngôn ngữ khỏi tác động quyền lực của ngôn ngữ.” (Giáo trình kí hiêu học, Seul, P. 1978, tr. 16.)[6] . Trong giáo trình rất ngắn về lí luận văn học, nhà lí luận Mĩ J. Culler dựa vào thuyết ngôn ngữ học hành vi, xem văn học là “ngôn ngữ thuật hành” , giống như lời hứa, lời bảo đảm, sáng tạo ra thế giới hư cấu, không phản ánh sự thật của hiện thực nào cả.[7]Lí thuyết hậu cấu trúc khẳng định thêm quan niệm đó bằng nhận định: cái biểu đạt không phải gắn chặt với cái được biểu đạt như hai mặt của một tờ giấy như Saussure khẳng định hồi nào, mà chúng có thể tách rời nhau (J. Lacan nêu ví dụ trẻ con học tiếng, ban đầu chỉ học cái biểu đạt, rất lâu sau mới hiểu được cái được biểu đạt). J. Derrida khẳng định, văn bản viết co ưu thế so với lời nói, trong văn bản viết giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt bị kéo dài và trì hoãn bằng một chuỗi cái biểu đạt, và không chỉ ra cái được biểu đạt xác định. Xem ra như thế lí thuyết cấu trúc ngôn ngữ hoàn toàn cắt rời văn học và hiện thực, phủ nhận hoàn toàn quan hệ phản ánh đối với hiện thực. Nhưng đây là chỗ phân giới giữa phản ánh luận và ý thức luận. Xét về phản ánh, cái biểu đạt tuy bất cập vật, nhưng người ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết những sự thực được phản ánh như Lenin đọc Tolstoi. Cái biểu đạt vẫn phản ánh địa vị, tâm trạng, hiểu biết của nhà văn theo góc nhìn xã hội học, nhưng lại không phải những giá trị tinh thần nhà văn muôn biểu đạt. Do đó, theo tôi, có lẽ phải là ý thức luận của Marx thì mới lí giải được ý nghĩa tinh thần của văn học.

   J. Culler dẫn luận chứng của J. Derrida  để chứng minh rằng quan niệm xem sự thực là cái đã tồn tại, hay sự vật vốn có là cái đã từng tồn tại là không đứng vững, bởi vì kinh nghiệm con người bao giờ cũng phải kinh qua sự trung giới của kí hiệu, mà đã kinh qua kí hiệu thì cái sự vật nguyên lai ấy cũng chỉ là sản phẩm của kí hiệu và vật bổ sung mà thôi. Trong sách Những lời thú tội của mình Rousseau cho biết ông muốn viết văn bởi vì lời nói không thể hiện đầy đủ về ông, nhất là cái tôi bên trong thầm kín. Trong sách ấy ông tự thú hồi nhỏ ông ở với bà Warens mà ông gọi bằng “mẹ”, nhưng ông đã rất yêu bà. Khi bà vắng mặt ông hôn lên tấm ga trải giường vì đó là nơi bà đã nằm, ông hôn lên các tấm vải rèm che cửa, vì đó là nơi bà để tay, thầm chí ông nằm trên nền nhà vì nơi đó chân bà bước qua. Ông đã tìm vật thay thế cho sự vắng mặt của bà. Thậm chí khi bà có mặt ông vẫn muốn tìm vật bổ sung. Trong một bữa ăn, khi bà đưa thìa thức ăn vào mồm, ông kêu lên là có sợi tóc, khi bà nhả miếng ăn xuống đĩa, ông liền lấy bỏ vào miệng mình. Như thế kí hiệu hay là vật bổ sung đã tạo nên cái vật thực sự tồn tại, như bà Warens mà người ta có cảm giác thật. Như thế có nghĩa là toàn bộ cái hiện thực mà ta cho là khách quan chẳng qua là sản phẩm do kí hiệu tạo nên (Dẫn luận rất ngắn, tr. 13). Ở đây bà Warens là cội nguồn của phản ánh, mà kí hiệu, vật thay thế hay bổ sung là sự kiến tạo, tức sự phản ánh. Không có cội nguồn thì không có phản ánh. Có điều đó không phải là sự phản ánh giống như thật, không phải sự sao chép, chụp ảnh, coppy như chúng ta thường hiểu, nhất là trong lĩnh vực xã hội và nhân văn.

Văn học trong quan hệ với hiện thực, văn học phản ánh hiện thực là phản ánh các hiện tượng mang nghĩa của hiện thực, chứ không phải phản ánh hình ảnh hiện thực hay “sự thật hiện thực”. Một thời theo cách hiểu của Lenin, “ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, từ đó độc tôn chủ nghĩa hiện thực, hình ảnh càng giống (phù hợp) với hiện thực thì càng chân thực, hợp với chân lí, mà quên rằng, hình ảnh cũng chỉ là kí hiệu, mà kí hiệu thì có khả năng phiên dịch, biến đổi thành kí hiệu khác. Nhà lí luận văn học Nga Ju. Lotman đã nói rất đúng: tác phẩm văn học “là sự phản ánh một hiện thực này vào một hiện thực khác, có nghĩa, nó bao giờ cũng là sự phiên dịch”[8]. Các chi tiết hiện thực, các tính cách, nhân vật…như F. Engels yêu cầu đối với chủ nghĩa hiện thực, thực ra chỉ là các kí hiệu của hiện thực, chẳng qua chỉ là một ngôn ngữ dùng để phiên dịch, chứ không phải là ngôn ngữ duy nhất. Nhầm lẫn kí hiệu với nội dung, ý nghĩa của kí hiệu là điều không thể chấp nhận. Chính nhầm lẫn này đẻ ra lí thuyết về điển hình. Chủ nghĩa hiện thực về thực chất chỉ là lí thuyết về ngôn ngữ (kí hiệu) hiện thực của một trào lưu văn học mà thôi, hoàn toàn không có ưu thế nào so với ngôn ngữ nghệ thuật của các trào lưu khác. Do đó con vật, đồ vật, các kí hiệu phi hiện thực đều có thể là kí hiệu biểu đạt ý nghĩa về con người. Văn hoc không giản đơn phản ánh các kí hiệu của hiện thực, sáng tạo những cái biểu đạt, mà còn phản ánh các ý nghĩa sâu xa, phong phú của hiện thực mà thực tiễn phơi bày ra cho con người.

Toàn bộ nhưng gì nêu trên cho thấy, phản ánh luận với tư cách là lí luận nhận thức đã chỉ ra được cội nguồn hiện thực của văn học, là một trong nhiều lí thuyết nhận thức và do đó có ý nghĩa trong một phạm vi nhất định đối với lí thuyết nghệ thuật. Tuy nhiên nó vốn có rất nhiều hạn chế và ngộ nhận mà chúng ta đã thể nghiệm nhiều năm qua thực tiễn nhận thức và sáng tạo, mà chủ yếu là không giải thích được cơ chế kiến tạo ý thức của con người bằng ngôn ngữ. Ngày nay trong bối cảnh nhiều lí thuyết ngữ học  kí hiệu học phát triển, chúng ta không nên coi đó là lí thuyết duy nhất để giải thích về nghệ thuật. Muốn trở về với chủ nghĩa Mác thì nên coi trọng ý thức luận của Karl Marx với nội dung kiến tạo và đặt nó trong bối cảnh liên hệ sâu sắc của các khoa học nhân văn hiện đại.

  Hà Nội,  2012.

In trong sách Trên đường biên của lí luận văn học, Nxb Văn học, 2014, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2015.


[1] Patrics H. Miler. Các thuyết về yâm lí học phát triển. Vũ Thị Chín lược thuật, nxb.Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003, tr. 14.

[2] Enest Cassirer. Bàn về con người. Bản dịch tiếng Trung Nhân luận của Can Dương, nxb.  Tây Uyển, Bắc Kinh, 1994, tr. 46.

[3] E. Cassirer. Tài liệu đã dẫn, tr. 44 – 45.

[4] Điều này chỉ đọc tác phẩm Từ xác định đến bất định của F. David Peat, do GS Phạm Việt Hưng dịch là thấy rõ. nxb. Tri thức, Hà Nội, 2011

[5] Trần Đình Sử. Văn học là sự tư duy về cái khả nhiên. Báo Văn nghệ.

[6] Chuyển dẫn sách Thi học hình tượng của Triệu Viêm Thu,  nxb KHXH TQ, Bắc Kinh, 2004, tr. 60, 61.

[7] Xem Nhập môn lí luận văn học đương đại, nxb. Liêu Ninh, 1998, tr. 99.

[8] Ju. Lotman. Cấu trúc của văn bản nghệ thuật. Chương kết cấu của văn bản nghệ thuật.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s