TỔ CHỨC CHỦ THỂ CỦA VĂN BẢN (3)

III. MÔ HÌNH TỰ SỰ

1. Vấn đề mô hình tự sự

          Mô hình tự sự là một trong những vấn đề trung tâm của lý luận tự sự, bao gồm mô hình người trần thuật, điểm nhìn, quan hệ với nhân vật… Mô hình tự sự là vấn đề loại hình hóa các người trần thuật, thể hiện những kiểu quan hệ giữa người kể và sự kiện, nhân vật, đánh dấu một cách tiếp cận và chiều sâu trong việc chiếm lĩnh đời sống. Sự phát triển của văn xuôi tự sự trong lịch sử văn học, suy cho cùng là sự phát triển của mô hình tự sự. Vì thế đây cũng là một vấn đề cơ bản của thi pháp học lịch sử.

          Năm 1955 nhà nghiên cứu Áo Stanzel dựa vào đặc điểm của người kể chuyện mà chia ra ba loại hình:

  • Kiểu người kể toàn tri (biết trước biết hết): điển hình là tiểu thuyết Tom John của nhà văn Anh Henry Fielding.
  • Kiểu nhân vật là người kể chuyện ngôi thứ nhất: điển hình là tiểu thuyết Cá voi trắng của nhà văn Mĩ Herman Melville
  • Kiểu ngôi thứ ba theo điểm nhìn nhân vật: điển hình là Những người đại sứ (Ambassadors) của Henry James.

Cũng năm đó, theo các tiêu chí ai kể, góc độ kể, kênh thông tin, khoảng cách kể, tác giả Mĩ Norman Friedman chia ra tám loại hình:

  • Hai kiểu tác giả toàn tri: có tham gia vào trần thuật / không tham gia
  • Hai kiểu ngôi thứ nhất: người tham gia / người chứng kiến
  • Hai kiểu toàn tri có hạn chế: sử dụng nhiều điểm nhìn /ít điểm nhìn
  • Hai kiểu thuần khách quan: như kịch / như điện ảnh.

Năm 1973 người Séc Lubomir Dolezel chia làm 6 kiểu phương thức trần thuật:

                                                   Kể khách quan

1. Hình thức ngôi thứ ba            Kể có tu từ, bình luận

                                                   Kể chủ quan, theo điểm nhìn nhân vật

                                                               Kể khách quan

2. Hình thức ngôi thứ nhất                   Kể có tu từ, bình luận

                                                              Kể chủ quan, theo điểm nhìn nhân vật

Các tác giả G.Genette và Mieke Bal cho rằng cần đưa thêm các tiêu chí: ai kể (tiếng, giọng của ai) và ai nhìn (theo con  mắt của ai) làm cho mô hình tự sự thêm minh xác, cụ thể, và chia làm 3 loại hình:

1. Trần thuật tiêu cự bằng không hay tự sự toàn tri. Người trần thuật chẳng những toàn tri mà điểm nhìn di chuyển, siêu thời gian, không gian cho nên tiêu cự bằng không; vừa ở trong nhân vật, vừa ở ngoài nhân vật. Người trần thuật lớn hơn nhân vật (theo Tz.Todorov).

2. Trần thuật theo tiêu cự bên trong hay tự sự hạn chế. Thông qua nội tâm nhân vật, theo Todorov thì người trần thuật bằng nhân vật. Có thể có một hay nhiều người trần thuật.

3. Trần thuật theo tiêu cự bên ngoài hay tự sự khách quan.. Theo Todorov người trần thuật có thể bằng hoặc biết ít hơn nhân vật. Anh ta kể chuyện nhưng không thâm nhập  được vào bên trong nhân vật.

Những cách phân loại và tiêu chí trên có ý nghĩa rất lớn để nghiên cứu tiến trình vận động của mô hình tự sự.

2. Một số kiểu người kể chuyện trong văn xuôi tự sự của Trung Quốc Việt Nam

a. Người kể chuyện sử quan trong loại sử kí, sử truyện

          Loại hình kể chuyện này xuất hiện trong các tuyện lịch sử và truyện thuộc dạng này như tiểu thuyết chí quái chí nhân ở Trung Quốc, truyện Lĩnh Nam chích quái hoặc các truyện viết theo thể kỉ sự. Chức năng tự sự là ghi chép tiểu sử, sự việc, địa lý, giải thích, bình luận, kể chuyện.

          Người kể chuyện thống nhất với tác giả làm một, thống nhất trong tư cách sử gia, sử quan, lấy thực lục làm nguyên tắc, không né tránh nói cái xấu xa, tội ác, không tô vẽ cái tốt đẹp, không truyền sự sai ngoa. Người kể chuyện quan tâm tới các chi tiết tiểu sử, các lời nói, việc làm, không bỏ qua việc nhỏ, cốt làm bật lên phẩm hạnh, đức tính của nhân vật. Do đó lời giới thiệu nhân vật, lời kết cuối truyện thường khách quan, hàm súc, không lộ cảm xúc.

          Người kể chuyện sử quan này không có quan hệ trực tiếp với nhân vật, và không có nghĩa vụ riêng tư nào đối với nhân vật.

          Người kể chuyện sử quan cũng thường đưa ra lời đánh giá, bình luận theo quan điểm quan phương, chính thống.

b. Người kể chuyện truyện truyền kì

          Nhiều truyện tác giả là người kể chuyện, nhưng không phải là nhân vật. Nhân vật hoặc là một người khác kể chuyện cho tác giả nghe, sau đó tác giả xúc động ghi lại. Tác giả là người ghi, nhiều khi biết hơn người thuật, nhưng cùng đứng ở một vị trí với người kể chuyện. Do là người ghi lại cho nên tác giả đồng thời cũng là người nghe (người đọc), người cảm nhận truyện. Cho nên lời kể thường kèm theo lời cảm thán của người nghe. Ví dụ tác giả trong truyện Nhậm thị kể chuyện một con hồ ly tinh chung tình. Sau khi nhân vật Vi Ngâm kể hết chuyện đã than rằng: “Than ôi! Cái tình của giống khác mà cũng giống như người thế a! Gặp bạo lực mà không thất tiết, đi theo người cho đến chết, phụ nữ ngày nay chắc cũng có kẻ không bằng. Tiếc cho Trịnh Sinh là người không tinh tường, chỉ biết sắc mà chẳng biết phẩm hạnh; nếu là kẻ sĩ uyên bác thế nào cũng biết nhào nặn cái lý biến hóa, soi xét giữa thần và người, viết ra áng văn đẹp, chẳng những chỉ để thưởng ngoạn phong tục mà thôi. Tiếc vậy thay!” Nhiều khi người kể chuyện kể theo ngôi thứ nhất.

            Loại hình người kể chuyện này tiếp tục với Liêu trai chí dị, Thánh Tông di thảo…

c. Người kể chuyện kiểu “thuyết thoại” (kể chuyện)

          Đây là kiểu người kể chuyện điển hình trong các thoại bản hoặc “nghĩ thoại bản” Trung Quốc, là những truyện kể theo phong cách nói trực tiếp trước công chúng.

          Đặc điểm thứ nhất là người kể chuyện đối thoại với người nghe, người xem, thay họ nêu thắc mắc, giải thích về cách kể của mình, chỗ nào dừng, tách mỗi chuyện ra, chỗ nào kể tiếp… Ví dụ khi kể một nhân vật lạ xuất hiện, người kẻ chuyện bèn hỏi: “Kẻ ấy là ai?” Khi nhân vật gặp nạn lại hỏi: “Tính mệnh anh ta thế nào?”.

          Đặc điểm thứ hai của người kể chuyện này là thường xuyên nghi luận, đọc thơ làm chứng, đặc biệt là thơ đời sau dùng để đánh giá nhân vật lịch sử. Nhiều khi người kể thông báo cho người nghe các hậu quả về sau của nhân vật.

          Đặc điểm thứ ba là người kể chuyện này là đứng ngoài truyện, tha hồ miêu tả, đối chiếu, so sánh với các nhân vật khác, phân tích tâm lý….

          Loại hình kể chuyện này rất phổ biến trong Tam ngôn của Phùng Mộng Long , Nhị phách  của Lăng Mông Sơ đời Minh, trong các tiểu thuyết chương hồi thông tục như Thủy Hử, Tam Quốc diễn nghĩa, Tây du ký đều là loại hình kể chuyện toàn tri, người kể biết trước, biết hết.

d. Người kể chuyện cá thể hóa, cá tính hóa

          Trong tiểu thuyết Trung Quốc, bắt đầu từ Nho Lâm Ngoại SửHồng Lâu Mộng dần dần xuất hiện người kể chuyện có yếu tố cá tính hóa – Trong Hồng Lâu Mộng, người kể chuyện bao gồm tác giả (1) người giới thiệu sáng tác, người kể chuyện thoại bản (thuyết thư) giới thiệu nguồn gốc hòn đá. Hòn đá (1) hóa thành người nhập thế, Không Không đạo nhân là người sao lục văn tự trên đá, tác giả (2) – người đọc và chỉnh lý văn bản trên đá, Hòn đá (2) là người kể câu chuyện, cho nên tác phẩm này có tên khác là Câu chuyện của Hòn đá (Thạch đầu kí).

          Người kể chuyện hòn đá đóng vai trò bình luận, giải thích.

          Người kể chuyện có khi là Không Không đạo nhân.

          Điều đặc biệt là trong tự sự người kể chuyện chuyển lời trần thuật cho nhân vật, biến người kể chuyện từ kiểu toàn tri thành người kể chuyện hạn tri. Người kể chuyện là nhân vật thuộc bậc thứ hai này có mấy loại: kể chuyện mình, kể chuyện  người, có khi kể chuyện quá khứ, có khi kể chuyện hiện tại.

          Bước sang thế kỷ XX người kể chuyện cá tính hóa chiếm ưu thế.

          Trong tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam, từ Nam triều công nghiệp diễn chí đến Hoàng Lê nhất thống chí đều sử dụng người kể chuyện toàn tri, hình thức gần với người kể chuyện sử truyện, không có hình thức kể miệng của người thuyết thư như tiểu thuyết Trung Quốc, bởi văn ngôn đối với người Việt là tử ngữ.

          Trong Truyền kì mạn lục có người kể chuyện toàn tri và người bình luận khi có quan điểm riêng. Người bình luận và người kể chuyện không phải là một, tạo thành một hình thức đối thoại kín đáo.

          Trong Thánh Tông di thảo, có truyện nhà vua xuất hiện như là người kể chuyện xưng “ta”, nhưng ông chỉ xuất hiện để chứng kiến, là người biết sự việc, chứ không phải là người kể chuyện. Sơn Nam Thúc là người bình luận nhiều khi đóng vai trò xưng tụng vua Lê thánh Tông.

          Trong truyện Nôm chỉ từ Truyện hoa tiên và đặc biệt Truyện Kiều xuất hiện người kể chuyện cá thể hóa, kể chuyện đa chủ thể, kể chuyện theo điểm nhìn nhân vật.

          Từ các truyện kể, tiểu thuyết quốc ngữ, người kể chuyện cá thể hóa ngày càng chiếm ưu thế. Điểm nhìn nhân vật luôn luôn là điểm tựa của trần thuật. Ở tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách tác giả xuất hiện như là người chép truyện hoàn toàn khách quan, đứng ngoài (siêu trần thuật), kể lại lai lịch cuốn sách, tự xưng là kí giả, xưng “tôi” giới thiệu người kể chuyện là Đạm Thuỷ (người kể chuyện), kể chuyện Đạm Thủy tiếp theo là trần thuật theo hình thức thư tín của Tố Tâm (người kể chuyện). Ba người kể chuyện, ba góc độ làm cho câu chuyện thêm sâu sắc, mỗi người đều giãi bày quan điểm, tâm sự của mình.

e. Người kể chuyện hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại chủ nghĩa

          Trong tiểu thuyết hiện đại chủ nghĩa tác giả lùi về phía sau,, nhường chỗ cho người kể chuyện, mà hoạt động kể chuyện thiên về trình bày, không còn phân tích, giãi bày, thuyết giáo như tiểu thuyết thế kỉ XIX.

          Nhân vật thường bị trừu tượng đi, chỉ còn là ý thức, cái nhìn, điểm nhìn nhân vật trong trần thuật thường trùng với dòng ý thức, sự trần thuật thường là không gian hóa thời gian, ví dụ Hoa Hồng cho Emili của Faulkner..

          Trần thuật nhiều góc độ, như truyện Sóng của Woolf, do 6 tuyến độc thoại nội tâm tạo thành. Tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner do bốn nhân vật kể  theo ngôi thứ nhất.

          Trong tiểu thuyết hậu hiện đại, với quan niệm “tác giả đã chết” người đọc đóng vai trò chủ đạo trong tiếp nhận. Văn bản trần thuật tổ chức như một tập hợp siêu văn bản, liên văn bản, có tính chất mở, để người đọc tự tổ chức, lý giải theo ngữ cảnh của mình. Nhân vật trở thành cái bóng, cái mặt nạ, chỉ còn là một chữ cái. Chuỗi sự kiện bị cắt rời, nhiều khi trùng lặp, mâu thuẫn, trần thuật từ nhiều góc độ (ví dụ truyện Bảo mẫu của R.Coover, 1932. Tác giả Trung Quốc Hồ Toàn Sinh (Trung Quốc, 2002) đã cung cấp biểu mẫu sau để tham khảo về sự biến đổi cấu trúc văn bản tự sự:

Đặc trưng văn bảnChủ nghĩa hiện thựcChủ nghĩa hiện đạiChủ nghĩa hậu hiện đại
Sự thật muốn biểu hiệnSự thật hiện thực khách quanSự thật tâm lýSự thật ngôn ngữ
Tác giảNổi bậtẩn mình“đã chết’
Nhân vậtNgười thậtNhân cáchCái bóng
Truyện kểKiểu “tích tắc” (Kết cấu khép)Kiểu “tích tắc tích” (Kết cấu mở)Kiểu “tắc tích”        (Kết cấu xáo trộn)
Miêu tảTìm hiệu quả   như thậtNhạt hóa thành thể hiện của ý thức nhân vậtNhạt hóa, thậm chí là “vật hóa”
Góc độ trần thuậtĐơn nhất, thống nhấtNhiều góc độLuôn đổi thay góc độ
Lời trần thuậtTuyến tính, có tầng bậcXóa mờ tầng bậcKiểu cùng mặt bằng, văn bản có nhiều lớp
Ngôn ngữKiểu hoán dụCả hoán dụ lẫn ẩn dụKiểu ẩn dụ
Dạng trần thuậtTuyến tính, lịch đại, khép kínLặp đi lặp lại, đồng đại, mởĐứt đoạn, tự do, đùa bỡn

          Biểu này cho thấy ít nhiều đổi thay trong thi pháp trần thuật. Mỗi hình thức đều có quan niệm của nó, mở ra những khả năng tiếp nhận khác nhau, có ưu và nhược khác nhau, hoàn toàn không có nghĩa rằng các hình thức trần thuật sau là tiến bộ hơn, cách mạng hơn. Nghệ thuật là quá trính tìm tòi, là hoạt động không tự thoả mãn và không ngừng lựa chon. Chỉ có thời gian mới cho ta câu trả lời và đánh giá về giá trị của những tìm tòi đó.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s