VĂN TẾ PHAN CHÂU TRINH

(PHAN BỘI CHÂU)

I – NGUYÊN VĂN VÀ THÍCH NGHĨA

A Nguyên văn                                      B Thích nghĩa

1. Than ôi, tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri  1. Than ôi, trong cuộc cạnh tranh tiến hóa mà các nước Âu Mỹ làm mưa làm gió, ai kém thì thua, ai hơn thì được, ngó non sông mà chạnh nhớ tới ông là một bậc tiên tri.
Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng, người sao trước có sau không, kinh sấm sét hỡi đau lòng hậu bối.Dấu địa linh con Lạc cháu Hồng còn đây, thế mà sao trước có ông mà nay đã mất, khiến lớp người sau kinh hãi và đau lòng.
2. Vẫn biết tinh thần di tạo hóa, sống là còn thác cũng như còn. Chỉ vì thời thế khuất anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi.2. Vẫn biết là tinh thần còn mãi với tạo hóa, sống là còn mà chết cũng vẫn còn. Chỉ vì thời cuộc chèn ép anh hùng, xưa đã rủi mà nay càng thêm rủi.
3. Lấy ai đây nối gót nghìn thu, vậy ta phải kêu người chín suối.3. Biết lấy ai làm người nối gót bậc tiên liệt nghìn thu như ông, vậy nên phải khóc than người đã khuất.
4. Nhớ tiên sinh xưa Tú dục Nam Châu   Linh chung Đà Hải.4. Nhớ ông xưa Người kết tinh tinh túy Quảng Nam Chung đúc khí thiêng miền Đà Nẵng.
5. Nghiệp thừa gia cung kiếm cũng pha đường. Nền tác thánh thi thư từng thuộc lối.5. Nối nghiệp nhà ông luyện đường cung kiếm. Theo đạo Nho ông thông thuộc thi thư.
6. Gan to tày bể, sức xông pha nào kể sức muôn người. Mắt sáng hơn đèn tài lanh lợi từ khi năm bảy tuổi.6. Ông dũng cảm, sức xông pha chấp được với muôn người. Ông sáng suốt tài nhanh nhẹn có từ thời thơ ấu.
7. Vận nước gặp cơn dâu bể, đeo vai thân sĩ còn lòng đâu mà áo mũ xênh xang.   Thói nhà chăm việc bút nghiên, giấu mặt hào hùng, khi tạm cũng khoa trường theo đuổi.7. Gặp khi nước nhà nguy biến, là người trí thức, ông đâu màng tới quan cao chức trọng, áo mũ xênh xang. Giữ thói nhà chăm việc học hành, theo đòi thi cử chẳng qua là việc tạm thời để che đậy chí anh hùng.
8. Song le Khí vẫn tranh vanh Chí càng viễn đại.8. Tuy nhiên Khí tiết ấy vẫn cao ngất trời Ý chí ấy ngày càng cao vợi.
9. Tài Mã Ny đang chứa sức hô hào. Tuồng Lỗ dịch quyết ra tay đào thải.9. Ông ấp ủ mộng làm nhà cách mạng như Mãchini hô hào quần chúng. Ông nuôi chí lật đổ ách chuyên chế phong kiến bằng hoạt động của mình như người Pháp lật đổ vua Lui 14.
10. Đội tiên phong đâu tá, gió Duy tân từ Đông hải thổi vào. Gương ngoại quốc kia là, sóng cách mạng bởi Âu châu dồn tới.10. Lấy cuộc Duy tân của Nhật làm đội tiên phong để đi theo. Xem trào lưu cách mạng tư sản Âu châu là tấm gương để học tập.
11. Dọc ngang trời đất rực vẻ văn minh. Tức tối nước nhà cam đường hủ bại.11. Dọc ngang thế giới, các nước đều văn minh tiến bộ. Nhìn lại nước nhà vẫn cam chịu hủ bại mà uất ức trong lòng !
12. Cá chậu chim lồng vơ vẩn thế, áng công danh thôi vất lối tầm thường. Rồng mây cọp gió lạ lùng gì, miền thanh khí thử hô người trung ngoại.12. Ông vứt áng công danh tầm thường của bọn cá chậu chim lồng vơ vẩn. Ông kêu gọi những người có chí khí trong và ngoài nước hãy liên kết với nhau như cọp đi theo gió, rồng cuộn theo mây.
13. Cậy tân học dặn dò phường tự chủ. Lư Thoa, Mạnh Đức, so sánh người xưa. Mượn Đông du tìm bạn đồng tâm. Hương Cảng, Hoành Tân lỏi len đường mới.13. Ông noi theo Rútxô, Môngteskiơ, dựa vào học thuyết mới để xây nền tự chủ cho nước nhà. Ông len lỏi sang Hương Cảng, Hoành Tân, lấy hoạt động Đông du để tìm người đồng chí.  
14. Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê. Một ngòi lông mà trống mà chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói.14. Lời nói ông là gươm là súng khiến bọn cường quyền nghe nói đã nổi gai. Bài viết của ông là trống là chiêng, cổ động cho tinh thần dân chủ thêm sáng chói.
15. Phỏng khiến Trình độ dân ta cao Trí thức dân ta giỏi.15. Nếu như Trình độ giác ngộ về dân tộc dân chủ của dân ta cao. Trí thức khoa học và lịch sử của dân ta giỏi.
16. Khí dân ta ngày một dồi dào. Sức dân ta ngày càng gắng gỏi.16. Khí chất dân ta ngày một mạnh mẽ, Tinh thần dân ta ngày càng hăng hái.
17. Một tiếng xướng có muôn tiếng họa, thần tự do nên đủng đỉnh về đây. Bạn người Việt với thầy  người Tây ma chuyên chế dám dùng dằng ở mãi.17. Nếu lời kêu gọi của ông mà có muôn người hưởng ứng thì nền tự do đã giành được dễ dàng. Nếu người Việt có sự giúp sức của Tây là thầy thì chế độ phong kiến làm gì còn tồn tại đến ngày nay nữa !
18. Nào hay Trời cũng éo le Người càng quỷ quái.18. Ai ngờ Thời buổi khó khăn Nhân tình [của phong kiến và thực dân] nham hiểm.
19. Chứa chan máu cuốc nước vẩn vơ hồn. Xao xác tiếng gà, trời mù mịt tối.19. Non sông đẫm máu, hồn nước bơ vơ. Không gian vắng vẻ, trời tối mịt mù.  
20. Trường nô lệ chung quanh là rắn rết, văn cứu thời khen khéo gây oan. Ổ dã man ngao ngán những hùm beo, miệng ái quốc hóa nên buộc tội.20. Hoàn cảnh nô lệ xung quanh là rắn rết. Văn cứu thời của ông bị chúng xem là nguyên cớ để gây oan cho ông. Ổ dã man đầy rẫy bọn tàn ác, lời yêu nước của ông bị coi là lý do để buộc tội.
21. Thành Hà Nội ùn ùn mây ác độc, nào kẻ lánh mình, nào người trốn thuế, chữ âm mưu tô vẽ đủ trăm đường. Đảo Côn Lôn rực rực lửa oán cừu, thấy người yêu nước, thấy kẻ thương dân, tơ xướng loạn dệt thêu thêm một mối.21. Nhân vụ Hà thành đầu độc, vụ tù nhân chạy trốn, vụ chống thuế Trung Kỳ, chúng tô vẽ ra trăm thứ âm mưu cho ông. Đảo Côn Lôn rừng rực lửa căm thù, vì ở đây ai thương nước, thương dân đều bị chúng thêu dệt cho là khởi loạn.
22. Mưa dồn gió dập thương khách lưu ly. Biển thẳm trời xa, xót ông chìm nổi.22. Tai họa dồn dập, ông bị đi đày. Biển thẳm trời xa, thương ông đày ải.
23. Thân Dậu Tuất bấy nhiêu năm tân khổ, khi đào cây, khi lượm đá, giữa biển trần gió bụi vẫn thung dung.   Đặng Hoàng Ngô ba bốn bác hàn huyên, lúc uống rượu, lúc ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khẳng khái.23. Trong ba năm (1908, 1909, 1910), tù khổ dịch gian lao, ông vẫn coi thường cùng các bạn tù chuyện trò, tuy khổ sở ông lúc nào cũng khẳng khái.
24. Hội đen may cũng lần lừa,   Lòng đỏ vẫn còn hăng hái.24. Tổ chức bí mật vẫn được duy trì. Nhiệt tình cách mạng vẫn còn hăng hái.
25. Quay đầu lại giả ơn tù đảo, tấm thân già còn nặng gánh giang sơn. Bước chân đi tìm bạn Âu châu, đôi tay trắng quyết phất cờ xã hội.25. Khi từ giã đảo tù, tuy già yếu vẫn gánh vác việc cứu nước.

Đi sang Pháp tìm bạn đồng minh, tuy tay không vẫn quyết làm cách mạng.
26. Án tái phạm vì lời thông Đức, dạ sắt vàng thêm thử lại thêm  bền.   Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm sét chẳng kinh cùng chẳng hãi.26. Ông bị kết án tái phạm, vì lời vu ông thông mưu với Đức (1915), dạ sắt vàng của ông chỉ càng thêm tôi luyện. Đem thư bảy điều mà đón giá Khải Định sang Pháp (1922), ông chả sợ gì uy phong của tên vua bán nước.
27. Gương vĩ nhân treo những bao giờ. Hồn cố quốc vừa về năm ngoái.27. Người trong nước thấy gương vĩ nhân của ông treo đã từ lâu (17 năm). Nhưng năm ngoái (1925) mới thấy ông về nước.
28. Trước mặt nào ai hớn hở, thấy ngựa xe luống ngẩn ngơ chiều.   Bên tai những tiếng kêu van, nghe sưu thuế càng ngao ngán nỗi.28. Về nước ông chỉ thấy lũ giàu có ngựa xe vui sướng, dạ những buồn rầu. Lại nghe thấy tiếng kêu than sưu thuế của dân lòng càng tan nát.
29. Dưới miệng cọp gửi đàn con đỏ, phúc trùng lai còn bận dạ tha hương. Trên quyền người giữ giống da vàng, lòng cảm tử quyết lùa quân hậu bối.29. Bận rộn với chủ trương dựa vào người Pháp để cải thiện dân sinh, nên tuy về nước  ông vẫn là người tha hương. Dựa vào cơ sở nhân quyền để bảo vệ giống nòi, ông hăng hái tổ chức tranh đấu.
30. Ước những chuông đều trống nhịp khắp ba kỳ cho vang tiếng reo hò. Mới là anh trước em sau, dắt một lũ cho đồng bào thêm gắng gỏi.30. Những mong hưởng ứng đồng đều, cả ba kỳ phong trào đều rầm rộ. Lúc đó mới anh trước em sau cùng lãnh đạo nhân dân tranh đấu.
31. Khéo vô tình trời chẳng chiều người. Nên bất hạnh mừng mà hóa tủi.31. Ông trời sao khéo vô tình,   Đúng lúc mừng đón ông về thì hóa bất hạnh.
32. Tiệc hoan nghênh mới đó, não nùng rượu chửa phai mùi. Hội truy điệu liền đây, thấp thoáng hương đà bén khói.32. Tiệc hoan nghênh mới đó, nồng nàn rượu chửa phai mùi. Hội truy điệu đến liền, thấp thoáng hương đà nghi ngút.
33. Anh em ta Đất rẽ đôi đường Tình chung một khối.33. Anh em ta Người còn kẻ mất Nhưng chung một lòng yêu nước.
34. Gánh tồn vong ai cũng nặng nề ; Nghĩa chung thủy lòng càng bối rối.34. Gánh trách nhiệm về sự mất còn của đất nước, anh em ta ai cũng nặng nề ; Nghĩa chung thủy lòng càng bối rối.
35. Sóng gió một con thuyền chung chạ, mái chèo đương lúc cheo leo ; Mây mù muôn dặm đất xa khơi, dấu ngựa nhờ ai rong ruổi.35. Trong sóng gió ta đang chèo chung một con thuyền, đang cầm tay chèo lái qua thác ghềnh ; Rồi đây con đường muôn dặm đất xa khơi rồi, chỗ của ông giờ lấy ai thay thế.
36. Ngại ngùng thay người ngọc mù sa ; Ngao ngán nhẽ giọt châu mưa xối.36. Ái ngại thay người ngọc khuất rồi ; Buồn thảm quá nước mắt mưa xối.
37. Thương ôi Bể bạc còn trơ Trời xanh khó hỏi.37. Thương ôi Bể trắng còn trơ Trời xanh khó hỏi.
38. Nghìn vàng khôn chuộc được anh hào ; Tấc dạ dám thề cùng sông núi.38 Không có gì chuộc được anh hào ; Nhưng tấm lòng xin thề cùng sông núi.
39. Trước đã giỏi mà sau thêm giỏi nữa ; dấu cộng hòa xin rán sức theo đòi ; Thác còn thiêng thì sống phải thiêng hơn ; thang độc lập quyết ra tay vin vói.39. Xin hứa trước đã giỏi nay xin giỏi nữa, cố sức theo đòi chí cộng hòa của ông. Chết đã thiêng, người sống phải thiêng hơn, cố gắng giành quyền độc lập dân tộc.
40. Lời này ông xét cho chăng ? Lòng ấy trời đã soi rọi !40. Lời chúng tôi ông có thấu chăng. Tấm lòng ông trời đà soi thấu.

II – PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN

1. Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu là một áng văn tiêu biểu, bất hủ của văn học dân tộc trong giai đoạn đầu thế kỷ XX. Bài văn đã bộc lộ trọn vẹn tài năng, tư tưởng và tâm huyết của ông đối với nhà ái quốc vĩ đại Phan Châu Trinh, và cũng bộc lộ bản thân ông như một nhà cách mạng vĩ đại. Với lời văn thống thiết, hình ảnh mới mẻ so với đương thời, tác phẩm đã truyền cho người đọc một nhiệt tình thiết tha với đất nước, với những người con ưu tú đã trọn đời hy sinh cho dân tộc.

2. Nổi bật trong bài văn tế là hình tượng Phan Châu Trinh, bậc tiên tri, nhà chí sĩ, người cách mạng, hồn cố quốc, cùng hình ảnh thời cuộc, xã hội mà ông hoạt động. Tuổi trẻ tài cao, chí khí anh hùng, hoài bão to lớn, tư thế ung dung, tinh thần gắng gỏi và cuộc đời sóng gió là những nét đầy màu sắc sử thi của nhân vật. Sự đối lập giữa vị anh hùng với bọn tham danh lợi, bọn nham hiểm, tàn bạo càng làm nổi bật lên một hình ảnh sáng ngời, lẫm liệt.

3. Người đứng tế là một người đồng chí, một nhà cách mạng vĩ đại, cùng chen vai gánh chung một gánh non sông, sau tiếng khóc là lời thề nối chí cách mạng.

4. Về nghệ thuật, đáng chú ý là cách hình dung sự vật, con người theo thi pháp trung đại : Tuồng thiên diễn, mưa Âu gió Mỹ, gan to tày bể, mắt sáng hơn đèn, gặp cơn dâu bể, tài Mã ny, tuồng Lỗ dịch, gió Duy tân, sóng cách mạng, Dọc ngang trời đất rực vẻ văn minh, cá chậu chim lồng, rồng mây cọp gió, phường tự chủ, bạn đồng tâm, Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, Một ngòi lông mà trống mà chiêng, cửa dân chủ, thần tự do, thang độc lập, ma chuyên chế, trường nô lệ, ổ dã man, Hà Nội ùn ùn mây ác độc, Côn Lôn rực rực lửa oán cừu, hội đen, lòng đỏ, nặng gánh giang sơn, phất cờ xã hội, dạ sắt vàng, uy sấm sét, đàn con đỏ, giống da vàng, quyền người (dân quyền), người ngọc, giọt châu, dấu cộng hòa… Đó là những từ ngữ diễn đạt nhiều hiện tượng mới theo lối cũ, trong đó mô hình không gian vũ trụ, không gian lâu đài làm nòng cốt để hình thành khái niệm. Ngôn ngữ đó dễ tiếp thụ đối với người đương thời.

5. Lời văn tế vừa là lời thuật, lời than, bộc bạch nỗi lòng với vong linh, lời nói với mình, nhưng không giản đơn chỉ là lời kể về hành trạng, mà nhiều khi đã sử dụng lời nửa trực tiếp, lời phát ngôn là của người đứng tế, mà ý thức lời nói là của người được tế, làm như lời người đã chết dối lại, tạo thành lời đa chủ thể :

Tài Mã ny đang chứa sức hô hào

   Tuồng Lỗ dịch quyết ra tay đào thải.

– Dọc ngang trời đất rực vẻ văn minh

   Tức tối nước nhà, cam đường hủ bại.

– Trước mặt nào ai hớn hở, thấy ngựa xe luống ngẩn ngơ chiều.

   Bên tai những tiếng kêu van, nghe sưu thuế càng ngao ngán nỗi !…

Đây là đặc trưng mới của văn học giai đoạn giao thời.

Người tế đã làm sống lại tâm tư, tình cảm của người đã khuất. Chí khí nhiệt huyết của người đã khuất hòa quyện với lời thương xót, khóc than của người sống làm cho bài văn nhiều giọng điệu thiết tha, thống thiết.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s