ĐÔI MẮT

Đôi mắt là tác phẩm ưu tú của văn học đương đại Việt Nam mà sức mạnh nghệ thuật chịu được thử thách khắc nghiệt của thời gian. Nó được viết vào mùa xuân năm 1948 tại Việt Bắc, đến nay đã gần 50 năm qua, người đọc vẫn còn hào hứng với các nhân vật sống động của tác giả. Từ lâu tác phẩm đã được chọn vào sách giáo khoa và có mặt trong rất nhiều tuyển tập, xem như sáng tác tiêu biểu của văn xuôi thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhật ký Ở rừng của Nam Cao, ngày 3-11-1947 có ghi : “Gần gũi những người Mán đói rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tụy, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với mấy thằng “bố vấu” mà Khang gọi là trí thức nửa mùa. Khang rất bất bình với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một cái gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng”. Cách so sánh, đối lập hai quan điểm, hai hạng người này chắc hẳn sẽ là điểm tựa cho việc sáng tác truyện Đôi mắt sau đó. Bởi trong Đôi mắt cũng có đối lập một bên là quần chúng nông dân “dốt nát”, nhưng làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tụy, và một bên là hạng trí thức nửa mùa, chẳng yêu một cái gì, mà chỉ có tài chửi đổng như Hoàng.

Cũng theo nhật ký Ở rừng ngày 2-3-1948 cho biết thì truyện ngắn này thoạt đầu có tên là Tiên sư thằng Tào Tháo, sau được tác giả đặt lại cho cái tên “giản dị mà đứng đắn” là Đôi mắt. Việc đổi tên này rất có ý nghĩa để tìm hiểu đặc sắc của truyện. Thật vậy, “Tiên sư thằng Tào Tháo” là lời chửi yêu của văn sĩ Hoàng đối với nhân vật mà anh ta sùng bái và thán phục. Đó cũng là tiếng chửi kết thúc thiên truyện ngắn. Chỉ có khác là, trong truyện văn sĩ Hoàng gọi Tào Tháo bằng anh, còn trong nhan đề thì nhà văn Nam Cao lại gọi bằng thằng. Có thể hiểu đó là một nhan đề hai giọng. Nam Cao đã nhại lại lời nhân vật của mình một cách mỉa mai để phê phán, chế giễu ý thức sùng bái anh

hùng cá nhân một chiều, lạc lõng giữa lúc chủ nghĩa anh hùng tập thể đã là một thực tế đang đem lại niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Ý thức đó đã làm cho Hoàng tự tách mình ra khỏi những người kháng chiến, anh đi tản cư chỉ như một người chạy loạn, cốt giữ yên tấm thân cho riêng mình. Đối với một ý thức như vậy chỉ cần trào lộng, mỉa mai, giễu cợt là đủ, cần biến nó thành trò cười, chứ không cần tranh luận nghiêm túc. Vì thế một nhan đề như vậy là không dở, có điều, ý vị mỉa mai kín đáo sợ người đọc bình dân không dễ nhận ra ngay, hoặc nhận ra mà không thấy tính chất nghiêm túc đằng sau tiếng cười. Do đó tác giả đã đổi lại cho “giản dị”, nghĩa là nói toạc chủ đề ra cho dễ hiểu, và “đứng đắn”, nghĩa là lưu ý đến tính chất nghiêm túc của vấn đề. Đôi mắt có nghĩa cách nhìn, năng lực nhìn, tầm nhìn và mở rộng ra là quan điểm, lập trường trong cuộc sống, một vấn đề thuộc nhân sinh quan, thế giới quan. “Đôi mắt” là tác phẩm viết về một vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan của tầng lớp trí thức hồi đầu kháng chiến.

Nhưng nhan đề truyện thay đổi mà truyện không thay đổi. Nghĩa là trào lộng vẫn là ý vị thẩm mỹ chủ đạo của tác phẩm. Hoàng là nhân vật trung tâm của truyện, lại là nhân vật phản diện, mang tư tưởng phản đề, anh ta phải trở thành đối tượng giễu nhại của tác giả. Nếu không như thế thì tác phẩm sẽ hỏng. Độ chỉ là nhân vật dắt Hoàng ra sân khấu, còn toàn truyện là cái sân khấu mà nhân vật hài hầu như duy nhất là văn sĩ Hoàng và vợ. “Đôi mắt là tiếng cười trào lộng đầu tiên đối với những người không hiểu sức mạnh quần chúng. Hoàng là nhân vật hài đầu tiên của văn học cách mạng độc diễn trò hề khinh miệt quần chúng và đề cao anh hùng cá nhân một chiều.

Hoàng là nhân vật chính của truyện Đôi mắt. Tác phẩm bắt đầu với việc anh thanh niên làng chỉ cái cổng gạch nhỏ và bảo : “Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây !” và kết thúc ở chỗ anh Hoàng nằm khểnh nghe đọc Tam quốc diễn nghĩa, đến chỗ hay vỗ đùi kêu : “Tài thật ! Tài thật ! Tài đến thế là cùng ! Tiên sư anh Tào Tháo…”. Toàn bộ sự việc diễn ra trong một ngày đêm.

Nhân vật Hoàng trong truyện được miêu tả qua ba trường đoạn : sự xuất hiện, trong hồi tưởng và cuộc trò chuyện. Chúng ta hãy phân tích nhân vật qua ba trường đoạn đó.

Sự xuất hiện của Hoàng

Trong nghệ thuật tự sự, cách xuất hiện của nhân vật có tác dụng gây ấn tượng về nhân vật rất mạnh. Ở đây, Nam Cao cho nhân vật xuất hiện từ gián tiếp đến trực tiếp, từ xa đến gần, từ quá khứ tới hiện tại.

Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh nhân vật Hoàng đi liền với hình ảnh con chó dữ. Vào cái năm mà hai triệu dân ta phải chịu đói thảm khốc vì thiếu ăn, thì con chó giống Đức vừa to vừa dữ của Hoàng vẫn có điều kiện để ngày ăn hai lạng thịt bò, bởi chủ nó là nhà văn kiêm chợ đen, nghĩa là buôn lậu, đầu cơ vào năm đói. Không nói cũng thấy nhân cách Hoàng như thế nào rồi. Con chó cũng là “nhân vật” hài, bởi nó lại “chết no” do chén phải thịt người ươn và hít phải nhiều xú khí (khí hôi hám, bẩn thỉu !). Nhưng ở nơi tản cư cách xa Hà Nội hàng trăm cây số, anh Hoàng vẫn nuôi chó dữ. Điều khiến cho Độ “mở to mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị” chính là phát hiện thấy hình ảnh con chó dữ là một nét không thể thiếu trong bức chân dung của Hoàng. Đó là điều mà anh thanh niên đi theo không thể hiểu, chỉ cười phụ họa !

Sau hình ảnh con chó là tiếng nạt nộ đối với đứa con. “Bao giờ nói với con anh Hoàng cũng có cái giọng dậm dọa buồn cười ấy”. Lời chú thích này được in nghiêng, đặt trong ngoặc đơn như chỉ lưu ý riêng với người đọc về tính nết quen ra uy vô lối của nhân vật.

Sau hình ảnh con chó dữ và tiếng nạt nộ gầm gừ, anh Hoàng mới xuất hiện trước mắt bạn đọc. Một bức chân dung biếm họa đặc sắc đầy những đường nét tương phản ngộ nghĩnh. Anh Hoàng đi ra, vì béo quá trông nặng nề, hai tay kệnh lên vì khối thịt dưới nách, vừa đi vừa bơi, tay hóa ra tủn ngủn như ngắn quá. Có thể nói anh Hoàng béo đến dị dạng. Nam Cao vốn sở trường nắm bắt các chân dung dị dạng. Anh Hoàng béo đến dị dạng vì được tẩm bổ nhiều mà không chịu hoạt động gì cả ! Anh Hoàng đón khách như đóng kịch : đứng bên trong cổng, đầu ngửa ra, tay chìa tới trước, miệng hé mở, làm động tác như mừng rỡ hay ngạc nhiên. Người thì to mà tiếng nói thì “lâm ly trong cổ họng”. Tác giả không rõ miệng hé mở là ngạc nhiên hay là cười. Cái vành móng ngựa ria được xem là một thay đổi của anh Hoàng, dấu hiệu của việc có nhiều thì giờ để tỉa tót. Lời chào mừng thì khuôn sáo : “Ối giời ơi, quý hóa quá”. Đó là ấn tượng của Độ về Hoàng khi vừa gặp lại sau một thời gian xa cách.

Hoàng trong hồi tưởng của Độ

Thái độ đón tiếp ân cần khác thường tiếp theo đó làm cho Độ nhớ lại lai lịch của Hoàng trước đây. Hoàng từng vô cớ tránh mặt Độ. Hoàng có mặt ở nhà mà vẫn sai người ra bảo là đi vắng ! Hoàng có thói “đá bạn” chỉ vì đố kỵ với bạn. Giới văn nghệ sĩ chửi Hoàng và khinh Hoàng. Hoàng còn đầu cơ và làm điếm văn chương, nhận tiền của một ông chủ nước ngoài để làm báo, chửi vung vít những người được hoan nghênh trên các báo của phong trào giải phóng. Anh mạt sát họ là bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát ! Hoàng là một nhà văn thiếu nhân cách, một con người cũ, khác hẳn phần đông văn nghệ sĩ ta hồi đó. Cuộc gặp lại của Hoàng và Độ lần này là do một sự “hiểu lầm”. Hoàng mời Độ đến chơi để thổ lộ niềm uất ức, hằn học, còn Độ tưởng Hoàng đã đổi thay, đến thăm để rủ anh đi tham gia công tác kháng chiến.

Hoàng trong cuộc trò chuyện tại nhà Hoàng

Đây là phần chính của truyện. Người ta thường nói tới loại truyện không có truyện. Đôi mắt cũng thuộc trường hợp đó. Nhân vật Hoàng chủ yếu chỉ bộc lộ qua cuộc trò chuyện của Hoàng, qua lời nói và điệu bộ của Hoàng, do đó nhân vật này gần như là một nhân vật kịch. Cuộc trò chuyện diễn ra qua ba đoạn : trò chuyện về người nhà quê và quần chúng cách mạng, trò chuyện về “trí thức tản cư”, trò chuyện về sinh hoạt của Hoàng.

Cuộc trò chuyện về người nhà quê và quần chúng cách mạng là quan trọng nhất.

Đề tài cuộc nói chuyện là những điều mắt thấy tai nghe của Hoàng, toàn là chuyện phiếm cả, nhưng lại bộc lộ rất rõ quan điểm, thái độ của Hoàng. Nào em không cho chị dâu đẻ trong nhà, em xỉa xói anh vì ăn chơi hoang phí. Đó là do tục kiêng và thói quen tằn tiện của nông dân, nhưng làm cho anh Hoàng thấy tức tối, bất bình, thấy họ tệ lắmtàn nhẫn lắm. Người nhà quê lại hay nhòm ngó, để ý nhau để kháo chuyện làm Hoàng khó chịu và phao lên là “họ để ý tới cả việc anh có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái”. “Các ông ủy ban và các bố tự vệ thì vừa ngố vừa nhặng xị”. Mọi việc cảnh giác, hỏi giấy đều làm Hoàng khó chịu, quy cho họ có cái “thú hỏi giấy”. Rồi Hoàng “cười gằn”, thấy họ nhiêu khê, hoàn toàn không chịu được. Nỗi khinh bỉ của Hoàng phì cả ra ngoài, theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối. Cả hai vợ chồng thi nhau kể tội người nhà quê… Hoàng đã đánh giá người nhà quê và quần chúng theo các biểu hiện sinh hoạt, mà không thấy bản chất tốt đẹp và hành động cách mạng của họ. Độ nhận xét : “Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù…”. Anh chỉ thấy cái bề ngoài mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong – lòng yêu nước. Hoàng lại quen nhìn con người một cách tĩnh tại. Anh chỉ thấy anh hàng cháo lòng biết đánh tiết canh, nhưng không biết con người đó trong thực tiễn cách mạng sẽ học được cách nắm chính quyền ! Anh chỉ thấy ông chủ tịch không biết tên phụ nữ có thể không kèm theo chữ “thị”, mà không biết ông ta sẽ học hỏi trong công việc.

Tóm lại Hoàng chỉ thấy được cái ngố, cái nhặng xị bề ngoài, tạm thời, mà không thấy cái điều cơ bản khiến Độ phải ngã ngửa : “Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm !”.

Chủ đề “đôi mắt” là chủ đề về lập trường tư tưởng, về nhận thức vốn rất khô khan, khó làm cho hấp dẫn, dễ biến câu chuyện thành bài lý thuyết tẻ nhạt, nhàm chán. Nhưng cái tài của Nam Cao là tái hiện được tư tưởng sống của một người qua đôi mắt nhìn đời méo mó, thiên lệch, lại ác tâm, ác khẩu. Nam Cao đã già dặn để cho một nhân vật phản diện đóng vai một nhà văn tài hoa, tự coi là người hiểu biết chân lý đứng ra thuyết phục Độ tin rằng nông dân, quần chúng nước ta là tồi, ngố, nhặng xị, không cộng tác được ! Nam Cao để cho Hoàng đóng vai một cách lạc lõng và vô vọng. Anh ta khi thì trợn mắt, khi thì thề độc, khi châm chọc, khi thì dè bỉu. Chị Hoàng, như cái bóng tô đậm cho hình tượng Hoàng, thì cười rú lên một cách khoái trá, như được dịp trả hận, nhưng chị cười đến phát ho, đến chảy nước mắt ra !

Sự đối lập của hai “đôi mắt” ngày càng hiện rõ. Cái mà vợ chồng Hoàng lấy làm buồn cười khoái trá thì Độ không cười được, chỉ cười gượng. Nếu nông dân đối với Độ là chủ lực quân của cách mạng, thì trái lại, đối với Hoàng, họ chỉ đều là ngu dốt, nhặng xị, không chịu được, không cộng tác được. Nếu Độ muốn Hoàng tham gia tuyên truyền động viên quần chúng kháng chiến, thì Hoàng muốn làm văn học trào phúng để ghi lại thời này. Chính vì vậy điều muốn nói với Hoàng, Độ đành giữ kín và sau đó muốn lảng chuyện.

Hoàng trong cuộc viếng thăm đám bạn bè “cặn bã” nơi tản cư

Hoàng dẫn Độ đến chơi nhà mấy người cùng tản cư. Một tuần phủ về hưu, một đốc học hiếp học trò, một ông phán chuyên lo kiện… Một đám người “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời”. Độ tiếc là Hoàng không đi với bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền, nhập với các đoàn văn hóa kháng chiến… thâm nhập quần chúng để dạy họ và để tìm cảm hứng mới cho văn nghệ.

Hoàng giao du với đám ấy thì tất bi quan với kháng chiến. Nhưng Hoàng tin vào Cụ Hồ như một con người xuất chúng, siêu nhân. Ở đây thể hiện cách nhìn lãnh tụ rất cũ của Hoàng. Anh hiểu lãnh tụ là người xây sự nghiệp cho cá nhân họ. Anh thương hại Cụ Hồ “phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho Ông Cụ !”. Thật là một ý nghĩ lạ đời ! Anh cho rằng “dù dân mình có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường”. Lại thêm một ý nghĩ ngộ nghĩnh buồn cười ! Nam Cao đưa thêm đoạn viếng thăm này để triển khai “đôi mắt” của Hoàng đối với trí thức nước nhà và phơi bày “đôi mắt” bị cầm tù, quá đỗi hạn hẹp của anh.

Anh Hoàng với sinh hoạt buổi tối ở nhà

Anh Hoàng có một sinh hoạt nhàn nhã. Hằng ngày đánh tổ tôm. Buổi tối ăn khoai vùi, uống mấy tuần trà rồi đi ngủ sớm. Màn tuyn trắng toát, thuốc lá thơm đầu giường, thắp đèn to sáng, đọc Tam quốc mấy hồi trước khi ngủ. Trong thời bình, nếp sống ấy chẳng có gì đáng nói. Nhưng ở vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng của vận mệnh đất nước mà  Hoàng thích giữ yên nếp sống nhàn nhã là một biểu hiện ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Hoàng đặc biệt thích Tào Tháo. Tiếng chửi của anh thể hiện niềm thán phục sâu xa đối với Tào Tháo : “Tài thật ! Tài thật ! Tài đến thế là cùng ! Tiên sư anh Tào Tháo…”. Tiếng chửi của anh cũng thể hiện một lối sống tự thỏa mãn, không quan tâm tới người khác, tới kháng chiến.

Qua một ngày trò chuyện, Hoàng đã bộc lộ trọn vẹn, toàn diện “đôi mắt” của anh đối với quần chúng nhân dân kháng chiến, đối với lãnh tụ, đối với trí thức, đối với tình hình quốc tế, đối với sứ mệnh văn nghệ. Đâu đâu cũng bộc lộ một “đôi mắt” cũ kỹ, hạn hẹp, chủ quan, ngộ nghĩnh, lạc lõng. Ấy thế nhưng Hoàng lại đóng vai một nhà văn thông minh, sắc sảo, biết nhận xét, có chủ kiến ! Cái thông minh và chủ kiến ấy mới thảm hại, buồn cười làm sao ! Hoàng chỉ là hạng trí thức trùm chăn, khép kín trong bốn bức tường, như ếch ngồi đáy giếng, nhưng lại kiêu ngạo một cách rởm đời.

Thái độ của Độ thể hiện sự đánh giá của nhà văn Nam Cao : lúc đầu háo hức, lúc sau không muốn nói ý mình, rồi anh “lảng chuyện”, cuối cùng thì “trả lời qua loa cho xong chuyện”. Độ không xem Hoàng là con người có thể cộng tác, không thể lay chuyển được ! Nhà văn đã bày tỏ một thái độ dứt khoát đối với “đôi mắt” của Hoàng.

Đã là một tác phẩm có tính trào lộng thì người đọc không nên quá “thật thà”. Độ là nhà văn đàn em đứng trước nhà văn đàn anh trong văn giới, càng nhún nhường, thì bậc đàn anh càng tự tin trong đôi mắt của mình, càng tự tin trong việc tự biểu hiện mình mà thôi. Lời Hoàng giễu nông dân là lời giễu lại chính Hoàng, vì thế xem đấy là những “nhận xét sắc sảo”, thì lại không đúng. Lời Độ nói về mình làm “anh tuyên truyền nhãi nhép” cũng hàm ý mỉa mai đối với Hoàng, nếu hiểu là tinh thần hy sinh nghệ thuật, chắc là không đúng. Nếu vậy thì chúng ta làm sao có được Đôi mắt, Vợ chồng A Phủ !

Phân tích nhân vật Hoàng ta dễ dàng nhận thấy ý nghĩa tư tưởng của truyện. Nhà văn Tô Hoài xem đây là tác phẩm có tính chất tuyên ngôn của thế hệ nhà văn các ông hồi ấy. Điều ấy rất có cơ sở. Nhưng nội dung tuyên ngôn ấy là gì ? Theo tác phẩm ta có thể nói :

1. Tuyên ngôn về niềm tin vô hạn đối với sức mạnh quần chúng, dù bề ngoài quần chúng còn lạc hậu, thiếu văn hóa, niềm tin ấy vẫn không lay chuyển.

2. Tuyên ngôn về chỗ đứng của trí thức trong kháng chiến, đi sâu vào quần chúng để học và dạy họ, tuyên truyền đoàn kết toàn dân, sẵn sàng làm bất cứ việc gì có ích cho cách mạng.

3. Tuyên ngôn về việc tìm cảm hứng mới cho văn nghệ, một cảm hứng khác hẳn với cảm hứng kiểu Vũ Trọng Phụng, cũng không phải thứ văn nghệ ca ngợi các anh hùng cá nhân kiểu Tào Tháo.

Với hàm ý tuyên ngôn đó, tác phẩm đã truyền sức mạnh cho một thế hệ nhà văn, bày tỏ niềm lạc quan, tin tưởng, kiên định. Noi theo Nam Cao, các nhà văn Việt Nam đã tham gia kháng chiến hết mình, và sáng tạo ra một nền văn học mới, xứng đáng với nhiệm vụ lịch sử vĩ đại của dân tộc ta.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s