BA BÀI THƠ CỦA LÍ BẠCH

HÀNH LỘ NAN

(Đường đi khó)

(LÝ BẠCH)

Lý Bạch sống vào thời kỳ nhà Đường đang từ cường thịnh chuyển sang suy vi, song với tinh thần khát khao lập nghiệp, ông muốn tạo dựng cho mình một sự nghiệp trên con đường chính trị. Đầu năm Thiên Bảo (742), được đạo sĩ Ngô Quân và Hạ Tri Chương tiến cử, ông đã đến kinh đô Tràng An nhận chức Hàn Lâm cung phụng, một chức quan lo việc soạn thảo văn thư cho nhà vua. Trong một lần hầu rượu vua Huyền Tông, vua say, ông sai Cao Lực Sĩ, một hoạn quan có thế lực, cởi giày. Cao xấu hổ, từ đó thù ghét và ngăn cản bước đường quan chức của ông. Vua Đường Huyền Tông ngày càng lao vào tửu sắc, lơ là chính sự, để cho gian thần là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung, anh trai của Dương Quý Phi – ái phi của vua – lộng hành. Lý Bạch chán nản, từ quan đi du ngoạn các nơi.

Bài Hành lộ nan, xét về nội dung, có lẽ là làm vào thời điểm Lý Bạch rời Tràng An đi chu du (năm 744). Hành lộ nan là một chùm thơ ba bài. Đây là bài thứ nhất.

Hành lộ nan là đề cũ của thơ Nhạc phủ, đời Hán, ghi trong Tạp khúc ca từ. Loại bài này thường viết về đường đời gian truân và tình cảm buồn thương lúc ly biệt. Bài thơ của Lý Bạch cũng thể hiện cảm xúc về đường đời bế tắc, gian truân ; nhưng vốn đầy lòng tự tin, ngoan cường, tác giả đã kết thúc bằng một âm điệu lạc quan, tươi sáng.

Bốn dòng đầu thể hiện cảm xúc phẫn uất của nhà thơ trong bữa tiệc bạn bè dọn ra để đưa tiễn ông. Bữa tiệc thật thịnh soạn, toàn những rượu ngon, thức nhắm quý, đắt tiền, thể hiện tình cảm nồng hậu của bạn bè :

Cốc vàng, rượu trong, vạn một đấu

Mâm ngọc, nhắm quý, giá mười ngàn.

Ai lại đánh giá mâm tiệc bạn mời bao giờ ! Nhưng đây chỉ là câu thơ ghi nhận hậu tình của bạn, và tương phản với nỗi niềm phẫn uất ở mấy câu sau. Trước đường đời bế tắc, nhà thơ còn bụng dạ nào mà ăn nữa !

Dừng chén, ném đũa, nuốt không được

Rút kiếm, nhìn quanh, lòng mênh mang !

Bữa ăn ngon, với tửu lượng nổi tiếng, gặp lúc đắc chí hẳn Lý Bạch sẽ “một lúc uống cạn ba trăm chén” như không ; còn như lúc này, niềm phẫn uất đang chất đầy ruột, nhà thơ nhấc chén rượu lên rồi đặt xuống, cầm đũa lên rồi vứt đi, cuối cùng đứng dậy, rút kiếm, nhìn xung quanh. Các động từ trong hai câu thơ đã vẽ lên tất cả thái độ phẫn uất, bế tắc ấy : dừng chén, ném đũa, rút kiếm, nhìn quanh ; đồng thời cũng vẽ ra hình ảnh một đại trượng phu ngày xưa : hiên ngang, khảng khái, mạnh mẽ.

Hai câu thơ tiếp theo miêu tả trực tiếp cảnh “đường đi khó” :

Muốn vượt Hoàng Hà, sông băng đóng !

Toan lên Thái Hàng, núi tuyết phơi !

“Sông băng đóng”, “núi tuyết phơi”, đúng là trở ngại lớn trên đường đi. Nhưng đây là hai câu thơ ẩn dụ. Hoàng Hà là sông lớn của Trung Quốc. Thái Hàng cũng là núi lớn. “Vượt Hoàng Hà”, “lên Thái Hàng” đều là biểu tượng chí lớn, nhưng chí lớn bị ngăn cản. Lý Bạch đã được chiếu chỉ của vua vời vào kinh, lại có dịp tiếp cận cho vua biết tài của mình ; thế mà bị gian thần phá ngang, không phẫn uất sao được ! Nhưng Lý Bạch đâu phải là người cam chịu để cho cuộc đời chìm nghỉm. Đến đây ta lại thấy động tác “Rút kiếm, nhìn quanh” có thêm nghĩa mới : không chịu cúi đầu theo số phận hẩm hiu, và động tác này mở đầu cho một tình cảm mới, đầy lạc quan, sẽ thể hiện ở mấy câu sau và câu kết.

Khi “Rút kiếm, nhìn quanh, lòng mênh mang”, trong tâm trí nhà thơ không chỉ hiện lên đường đi khó, bị nghẽn lối, mà còn hiện lên hình ảnh các nhà chính trị có chí lớn trong lịch sử.

Lúc rỗi buông câu bờ khe biếc

Đó là câu thơ nhớ tới Lã Thượng, tức Lã Vọng, đã đến 80 tuổi (có tài liệu nói là 70 tuổi, có tài liệu lại nói là 90 tuổi), vẫn còn ngồi buông câu đợi thời, sau gặp được minh chúa là Văn Vương.

Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mặt trời !

Đây là câu thơ nhớ tới ông Y Doãn, một người vào đêm trước khi được vua Thang mời ra làm quan, đã nằm mơ thấy mình cưỡi thuyền đi vòng qua trước mặt trời, mặt trăng. Hai câu thơ nói về hai bậc kiệt hiệt này hé mở một niềm ước mơ mới trên con đường công danh. Trong phút chốc, ông như nhập thân vào hai vị đó. Hai câu thơ, hai điển cố, mà không có lời nào dẫn dắt, đọc lên không dễ hiểu ngay, nhưng khi đã hiểu ra thì tự nhiên, sinh động. Đấy là thời quá khứ đồng hiện.

Vận may của Lã Thượng, Y Doãn tuy có khích lệ nhà thơ mấy phần, song trở về thực tại, thì bế tắc vẫn hoàn bế tắc. Tình cảm nhà thơ như chùng xuống với lời than, lời hỏi :

Đường đi khó ! Đường đi khó !

Nhiều lối rẽ. Đâu đường ta ?.

Lời dịch trong bản dịch của sách giáo khoa đem đảo lại trật tự của nguyên văn : “Nay ở đâu ? Đường bao ngả”, ít nhiều làm cho câu thơ khó hiểu hơn, nhưng vẫn chấp nhận được. Ba chữ “kim an tại” hiện có nhiều cách dịch, cách giảng. Dịch là “Nay (ta đang) ở đâu” có lẽ chưa được thích hợp cho lắm. Bởi đã chuyển câu hỏi về con đường đi thành câu hỏi về vị trí của chủ thể. Theo hình tượng thơ, ta thấy nhà thơ rời bàn tiệc, rút gươm, nhìn bốn phía, chỉ thấy con đường phía trước đầy trắc trở, băng, tuyết nghẽn đường. Từ xưa nói nhiều lối rẽ, vậy nay đường ở đâu ?

Dịch là “Nhiều lối rẽ. Đâu đường ta ?” có thể làm cho ý thơ dễ hiểu, gợi ra một tình huống bế tắc, lúng túng, chưa có cách giải quyết của nhà thơ, đúng là “lòng mênh mang” như đoạn trên đã nói.

Nhưng là con người tự tin, không cam chịu lặng lẽ, Lý Bạch lại một lần nữa ước mơ, tạo thành câu kết đầy lạc quan, hứng khởi, hiên ngang :

Cưỡi gió phá sóng hẳn có ngày

Treo thẳng buồm mây vượt biển cả !

Câu thơ thể hiện tinh thần quật cường của một cuồng sĩ như nhiều nhà bình thơ đời Tống, đã nói về thơ Lý Bạch.

Bài thơ 12 dòng, 82 chữ, trong loại ca hành chỉ có thể coi là một bài thơ ngắn. Song tứ thơ đầy biến hóa, linh hoạt, thoắt trầm lắng, thoắt bay bổng, đầy bất ngờ. Hai câu đầu vẽ ra cảnh tiệc sang trọng, thoắt cái, bốn câu tiếp theo đầy phẫn uất, bế tắc. Hai câu tiếp, nghĩ tới Lã Vọng, Y Doãn, đường đời như được mở ra, nhưng rồi hai dòng tiếp, lại rơi vào vòng bế tắc, để cho hai câu kết lại vút lên, mở ra một không gian bao la, mênh mông với con thuyền treo buồm mây lướt băng băng. Bài thơ ngắn mà có khí thế của một trường thiên là như vậy.

Cảm xúc biến hóa, thay thế nhau như vậy đã thể hiện nhiệt tình của nhà thơ muốn vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình. Cả bài thơ thấm đượm một tinh thần tiến thủ, tích cực của một con người đầy hoài bão, khí thế và tự tin hiếm có.

VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ

(Xa ngắm thác núi Lư)

(LÝ BẠCH)

Xa ngắm thác núi Lư là bài thơ thất ngôn tuyệt cú (cũng gọi là tứ tuyệt) của Lý Bạch. Đây là bài thơ thứ hai trong chùm thơ hai bài, một bài thơ thuần túy tả cảnh. Bài thơ làm vào khoảng cuối đời, khi nhà thơ lại có dịp ngao du, thưởng ngoạn phong cảnh (Trước đó, do Lý Lân, người mà ông phò tá bị dẹp, nên ông bị đày đi Dạ Lang, giữa đường thì được tha, lại trở về Giang Tây).

Lư Sơn là thắng cảnh nổi tiếng ở phía nam thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Hương Lô tức là Hương Lô Phong trên núi Lư. Đỉnh núi vừa cao, vừa tròn, mây trắng bay lơ lửng trên đỉnh, xa trông như cái lò hương đang tỏa khói (lò đốt trầm hương) nên mới có tên như thế. Nhưng dưới mắt Lý Bạch, cảnh tượng lại hiện ra với màu sắc mới :

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay

Ánh nắng chiều xuống núi làm cho mây hiện thành màu tía và lò hương tỏa khói tía, một sắc màu lộng lẫy, rực rỡ khác thường. Câu này nguyên tác là “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên”, nghĩa là nắng chiếu lò hương làm cho nó sinh ra khói tía. Chữ “sinh” rất thần tình, nó làm cho đỉnh núi tĩnh bỗng nhiên sống động. Tiếc là câu thơ dịch chưa lột được ý này. Câu thứ nhất dành để giới thiệu núi Lư, chưa nói gì đến thác, nhưng nó không hề lạc đề. Nhà thơ phải dựng núi trước để tả “thác treo” tiếp sau. Ba câu còn lại chỉ nói tới thác nước và cảm giác khi ngắm thác.

Xa trông dòng thác trước sông này

Câu thơ nói rõ điểm nhìn là “xa trông”. Nhiều sự vật khi ngắm xa có một vẻ đẹp mà khi ngắm gần không thấy. Tô Đông Pha, đời Tống, làm bài thơ Đề Tây Lâm Bích, khi đến thăm núi Lư Sơn, có hai câu nổi tiếng :

Bất thức Lư Sơn chân diện mục

Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

(Nghĩa là : Không biết được diện mạo thực của Lư Sơn, Chỉ bởi vì thân đang ở trong núi ấy).

Như vậy, cảnh đẹp của thác nước Lư Sơn như Lý Bạch tả thì chỉ “xa trông” mới thấy được. Câu thứ hai này, trong nguyên tác là :

Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

(Nghĩa là : Nhìn xa thấy thác nước như treo trước dòng sông phía trước núi)

Chữ “quải” (treo) đây là một nhãn tự (chữ mắt), nó lấy tĩnh để tả động. Thác nước cao trông xa như treo trước dòng sông trước núi. Chữ “treo” còn gợi ra hình tượng dòng thác như dải lụa khổng lồ, bởi chỉ có dải lụa thì người ta mới treo được, chứ làm sao treo được dòng thác đang chảy ? Câu thơ bao hàm một ý vị ngợi ca thiên nhiên kỳ vĩ, phi thường. Đáng tiếc là câu thơ dịch bỏ mất cái chữ “treo” thần tình đó.

Từ trạng thái tĩnh, dòng thứ ba chuyển sang tả thác nước trong trạng thái động :

Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước

Đã “bay” lại còn “thẳng xuống”, rồi “ba nghìn thước” cao vòi vọi, cực tả ấn tượng về cái thế thác chảy vừa nhanh, vừa mạnh, vừa cao, tưởng như là gần ngay trước mắt. Dường như câu thơ vẫn chưa nói hết cảm giác về khí thế hùng mạnh của thác nước, nhà thơ lại bồi thêm một ẩn dụ, tạo thành câu kết :

Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây

Nguyên tác câu thơ này là :

Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

(Nghĩa là : Ngỡ như dải Ngân Hà rơi từ chín tầng trời xuống)

Chín tầng trời là cao lắm. Dải Ngân Hà vốn rất cao, trên chín tầng trời. Câu dịch nói “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” không chính xác. Tưởng như Ngân Hà ở trên mây mà trên mây thì đã lấy gì làm cao. Dải Ngân Hà từ trên trời rơi từ chín tầng trời xuống thì hẳn là mạnh lắm, khủng khiếp lắm, không sức mạnh nào ngăn đỡ được !

Liên tưởng dòng thác với Ngân Hà là hết sức độc đáo, bởi vì dòng thác và Ngân Hà vốn rất xa nhau. Nhưng độc đáo mà vẫn tự nhiên, bởi vì dòng thác dưới ánh nắng hẳn sáng lên như dòng sông bạc, lại chảy mạnh như thế thì chỉ rơi từ trên trời xuống mới hình dung được.

Chỉ bốn câu thơ, 28 chữ, mà tác giả đã vẽ lên được cảnh đẹp phi thường. Không phải giản đơn là cảnh đẹp tự nhiên mà là cảnh đẹp trong con mắt nhìn đầy tưởng tượng độc đáo, luôn biến hóa của tác giả. Mỗi câu mỗi cảnh, mỗi cách hình dung. Từ nắng chiếu làm lò hương sinh khói tía, đến tả dòng thác theo bút pháp hóa động làm tĩnh, như dải lụa treo, rồi lại tả thác lao nhanh, lao mạnh, rồi lại tả thác cao đổ xuống như sông Ngân rơi từ chín tầng trời. Một cảnh thác hùng vĩ, ngoạn mục hiện lên trước mắt.

Chữ dùng trong bài rất sinh động, có thần : chữ “sinh” (sinh), chữ “treo” (quải), chữ “rơi” (lạc) đều lột tả được thần thái của cảnh sắc. Các hình ảnh đều độc đáo, do trí tưởng tượng phong phú, phóng khoáng, khác thường.

Lư Sơn là một danh thắng. Sau Lý Bạch, còn có nhiều nhà thơ Trung Quốc khác cũng làm thơ về cảnh thác Lư Sơn, nhưng chỉ có bài của Lý Bạch là hay nhất. Đúng như nhà thơ Tô Đông Pha, đời Tống, nói :

Đế khiển Ngân Hà nhất phái thùy

Cổ lai duy hữu trích tiên từ.

(Nghĩa là : Trời khiến Ngân Hà sa xuống đất, Nhưng xưa nay chỉ có bài thơ của trích tiên Lý Bạch mà thôi).

TĨNH DẠ TỨ

(Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)

(LÝ BẠCH)

Lý Bạch là người quá nửa cuộc đời sống xa quê hương.

Từ năm 25 tuổi, ông đã đeo kiếm xa quê lên đường lập nghiệp.

Từ đó đi mãi, phiêu bạt nơi này nơi nọ, cho đến năm 62 tuổi, chết đuối trên dòng sông băng, ông vẫn chưa về lại quê nhà. Nói như thế để thấy trong những năm tháng xa nhà, mối tình thương nhớ quê hương của ông âm thầm, sâu nặng biết chừng nào. Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh là một trong những bài thơ thể hiện tình cảm quê hương thầm kín của ông(1).

Nhưng bài thơ này được truyền tụng, nổi tiếng, không giản đơn chỉ vì tình quê hương, mà còn vì nghệ thuật đặc sắc của nó.

Khác với bài Xa ngắm thác núi Lư đầy tưởng tượng độc đáo, mới lạ, khác với bài Hành lộ nan đầy niềm tự tin và khí thế hiên ngang, bài thơ này hầu như không có tưởng tượng gì, không có chữ nào lạ, không dùng phép khoa trương, phóng đại nào, tất cả đều tự nhiên, giản dị, mộc mạc mà thành tuyệt tác.

Nhà nghiên cứu Hồ Ứng Lân, đời Minh, nhận xét :

“Thơ tuyệt cú của Lý Thái Bạch xuất khẩu mà thành, không có ý làm cho tinh vi mà không bài nào là không tinh vi”. Bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh này là bài ngũ ngôn tuyệt cú, gồm bốn câu, mỗi câu năm chữ, thuộc vào loại thơ không cố ý làm cho tinh vi mà rất tinh vi như thế.

Một người xa quê hương, ban ngày bận rộn công việc có thể không có lúc nhớ quê, nhớ nhà. Nhưng đêm xuống, việc ngơi, một mình trong đêm thanh vắng, làm sao ngăn được mối tình nhớ quê dào dạt trong lòng ? Huống gì đó là một đêm trăng sáng, gợi về những kỷ niệm đoàn viên sum họp !

Trăng sáng, sương trong là cảnh đêm mùa thu. Hai câu đầu gợi tả cảnh đêm trăng sương xuống bằng phép tự sự :

Đầu giường ánh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương.

(1) Tĩnh dạ tư là một kiểu nhan đề của thơ, Nghiêm Vũ trong sách Thương lang thi thoại. Thi thể nói : Lấy “tư” đặt tên bài thì có Tĩnh dạ tư của Lý Bạch. Quách Thiệu Ngu bổ sung thêm : Thiên lý tư của Ngụy Tổ, Giang Nam tư của Liễu Hôn. Ở đời Đường, đọc “tứ” hay “tư” đều được. Từ đời Tống trở đi, người ta quen đọc là “tứ”.

Nhà thơ mơ màng trên giường. Người xa quê thường trằn trọc khó ngủ. Chợt nhà thơ nhìn thấy đầu giường có ánh sáng, tưởng là sương trắng phủ mặt đất. Ngỡ là sương chứ thật không phải sương, mà chỉ là ánh trăng. Nhưng cái cảm giác về sương phủ mặt đất cho thấy trời đã khuya lắm, lại là một ảo giác về mùa thu, có ý lạnh và buồn. Hai câu thơ thuần túy là câu trần thuật, chứ không phải miêu tả gì. Nó kể về một ảo giác trong khoảnh khắc, khi giấc mơ màng ngắn ngủi vừa tan. Đó là lúc từng luồng ánh trăng xuyên qua cửa sổ, chiếu rọi đầu giường. Thoạt nhìn tưởng là sương, nhưng tức khắc hiểu ra là ánh trăng, vội ngẩng đầu lên nhìn trăng sáng, như để kiểm tra ý nghĩ. Nhưng nhìn thấy ánh trăng, nhà thơ tỉnh hẳn như chạm phải nỗi niềm nhớ nhà, không nỡ nhìn lâu, liền cúi đầu, nhớ cố hương. Hai câu kết kể về hai hành động liên tục, làm hiện lên một quá trình cảm xúc :

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương.

Trăng thu vằng vặc, ánh sáng trong mà lạnh. Đối với người lữ thứ cô đơn nơi đất khách thì ánh sáng ấy càng làm tăng thêm cảm giác cô đơn trống trải. Ánh trăng sáng càng dễ khiến người ta nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người thân thuộc. Người cúi đầu có thể tránh được ánh trăng, nhưng làm sao tránh được tình cảm nhớ mong trong cõi lòng mình ?

Chỉ có bốn dòng, mà từ “ngỡ” đến “ngẩng đầu”, từ “ngẩng đầu” đến “cúi đầu”, hành động chỉ trong thoáng chốc, mà nỗi niềm không biết lúc nào nguôi !

Nhà bình thơ đời Thanh là Thẩm Đức Tiềm nói : “Chỉ có cảnh trước mắt, lời nói cửa miệng, thế mà có tiếng vang ngoài dây đàn, có vị ngoài vị khiến hồn người bay bổng”. Bài thơ này chính là như vậy, chỉ tức cảnh sinh tình mà giãi bày hết mối tình nhớ quê không nói nên lời của nhà thơ.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s