CHẠY GIẶC VÀ VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

(NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU)

CHẠY GIẶC

Năm 1859, vì vấp phải sức kháng cự của quân và dân ta, và cũng vì có nạn dịch lớn, quân Pháp liền bỏ dở việc tấn công Đà Nẵng, đem chiến thuyền vào Nam theo cửa biển Cần Giờ vào sông Bến Nghé, đánh chiếm thành Gia Định (18-2-1859), mở đầu cuộc xâm lược đất Lục Tỉnh. Tiếng súng chiến hạm của giặc đã phá tan cuộc sống yên bình của nhân dân, gieo rắc tang tóc đau thương cho xứ sở. Bản thân Nguyễn Đình Chiểu phải bỏ nhà chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc. Bài thơ này được viết vào thời giặc Pháp đánh Bến Nghé, Đồng Nai, chiếm Gia Định.

Mở đầu bài thơ là một cảnh tan tác, thảm họa kinh hoàng không kịp trở tay :

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ thế phút sa tay.

Câu trên có thể hiểu là tan chợ thì vừa nghe thấy tiếng súng Tây, nhưng như vậy thì hình ảnh có vẻ bình thường quá, vì chợ tan bình thường trước khi có tiếng súng thì có gì đáng nói ? Vả lại, tan chợ, tức là chợ vãn, là một quá trình từ từ, người về dần dần cho đến hết, không có vẻ gì là đột ngột, náo loạn cả thì ta biết tính tan chợ vào lúc nào ? Câu thơ trên còn có thể hiểu là câu thơ đảo trang (đảo ngữ) : Vừa nghe tiếng súng Tây thì chợ tan, chợ vỡ. Một cảnh tượng tan tác, hoảng loạn, huyên náo xảy ra, mạnh ai nấy chạy, không thể cứu vãn. Cái cảm giác về thảm họa nhanh chóng ập đến như thể chỉ có thể ví với “Một bàn cờ thế phút sa tay”. Cờ thế là những nước cờ giằng co cuối cùng trên một ván cờ, một bên đang lâm vào thế bí đang tìm cách gỡ. Người cầm quân chỉ nhỡ tay một chút là thua ngay lập tức, không thể cứu vãn. “Bàn cờ thế” là một hình ảnh về thời cuộc, về cục diện, diễn tả rất hay cảm nhận của tác giả về thời cuộc đương thời. Hẳn tác giả cũng như mọi người đều cảm thấy thời cuộc đang lâm vào thế bí, và đang trông đợi hy vọng vào người cầm quân sáng suốt tháo gỡ. Thế mà tiếng súng xâm lược lại vang lên báo hiệu cục thế đã hỏng rồi, niềm hy vọng tan vỡ hoàn toàn rồi !

Sau cảnh vỡ chợ là cảnh bỏ chạy thê thảm :

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,

Mất ổ đàn chim dáo dác bay.

Đây là hai câu thơ xót xa, thương tâm nhất. Lại vẫn câu thơ đảo trang (đảo ngữ), một vị ngữ đặt lên đầu câu. Còn gì khốn khổ hơn cho con người là cảnh “bỏ nhà”. Sau đó tất yếu là cảnh sẩy đàn tan nghé, màn trời chiếu đất, sa cơ lỡ vận, thê thảm không nói hết được. Hay nhất là hình ảnh lũ trẻ “lơ xơ chạy”. Hai chữ “lơ xơ” gợi lên rằng chúng như vừa chạy vừa run rẩy, vừa hớt hơ hớt hải, vừa bơ vơ, trơ trọi. Ấn tượng đó lại được tô đậm thêm bởi hình ảnh “bầy chim dáo dác bay”, một hình ảnh vừa thật, vừa ẩn dụ. “Dáo dác” vừa là nhớn nhác, vừa táo tác, vừa ngơ ngác, vừa tán loạn, mỗi con bay một phía, vừa bay vừa kêu thảm thiết. Đây là trường hợp nhà thơ sáng tạo từ, dùng từ đắt. Bằng sự kết hợp âm thanh gợi tả mơ hồ, gợi ra cả một nhóm từ gần nghĩa, không một từ nào nói hết được cụ thể, nên chúng đều bổ sung cho nhau, gây ấn tượng nổi bật. Trong cảnh bỏ chạy này, nhà thơ không nói tới người lớn, không phải là người lớn không bỏ chạy, mà là vì trẻ em là những người cần được nâng niu, bảo vệ nhất. Thế mà lũ trẻ bỏ chạy thì còn cảnh gì thương tâm hơn ?

Sau cảnh bỏ chạy là cảnh nhà cửa, làng xóm bị đốt phá, cướp bóc, lửa cháy ngút trời :

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Mấy chữ “tan bọt nước” diễn tả sự tan vỡ, hủy hoại nhanh chóng, triệt để, không để lại dấu vết gì. Còn hình ảnh “tranh ngói nhuốm màu mây” nói lên nhà tranh, nhà ngói, nhà giàu, nhà nghèo đều bị thiêu hủy, ngập chìm trong lửa khói ngút trời. Đó là một hình ảnh mạnh mẽ nói về sự tàn phá. Đáng chú ý ở đây là kết cấu “hỗ văn kiến nghĩa”. Không phải Bến Nghé chỉ mất của, mà không cháy nhà, còn Đồng Nai thì cháy nhà mà không mất của, mà là cả hai nơi đều cháy nhà, mất của như nhau.

Hai dòng cuối cùng là một tiếng kêu cứu nạn đau đớn trước thảm cảnh của quê hương :

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này ?

“Trang dẹp loạn” là trang nam nhi, trang anh hùng, hảo hán. Mấy chữ “rày đâu vắng” chan chứa ý vị mỉa mai, chua chát về sự hèn nhát của những kẻ có trách nhiệm. Nó nói lên một sự ngạc nhiên : xứ này xưa nay đâu có vắng người dẹp loạn, thế mà nay (rày) không thấy đâu. Hai chữ “dân đen” nhấn mạnh tới số phận người dân thường, những người nông dân cày sâu cuốc bẫm, nghèo khổ, dưới đáy xã hội. Ta còn nhớ sau đó ít năm, 1861, người dân Cần Giuộc đã đứng lên tự vũ trang chống chọi với “tàu sắt tàu đồng” của giặc và hy sinh anh dũng. Như vậy trong dân chúng không thiếu người anh hùng dám xả thân, xông pha cứu nước. Lời trách cứ còn lại là hướng tới triều đình, những kẻ thiếu ý chí và mưu lược bảo vệ đất nước, bờ cõi, nhắm mắt bỏ mặc nhân dân mắc nạn.

Một bài thơ tám dòng mà sáu dòng đầu dòng nào cũng gợi lên một chữ “tan” : tan chợ, tan thời cuộc, tan nhà, mất ổ, tan nát tài sản, xóm làng, và chữ “tan” lớn nhất là tan vỡ hy vọng trong lòng tác giả. Đây là bài thơ bày tỏ lòng thương dân sâu sắc và cũng là sự thất vọng sâu sắc về sự che chở của triều đình. Một bài thơ có nhiều hình ảnh, từ ngữ giàu sức gợi, những câu đảo ngữ mạnh mẽ, thật là một bài thơ hay.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

(NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU)

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là một áng thiên cổ hùng văn có thể sánh với danh văn của mọi thời đại. Hình tượng những người nông dân mộ nghĩa tay không vũ khí, chưa được tập rèn, vì yêu nước mà xông lên đánh lại quân xâm lược vũ trang đầy đủ, đã được khắc họa qua những hình ảnh bi tráng, lẫm liệt, trở thành bức tượng đài bất hủ về khí phách của người nông dân Nam Bộ. Điều đó đã thành thường thức trong mọi sách giáo khoa.

Xét riêng về nghệ thuật mới thấy nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu thật lành nghề trong nghệ thuật văn chương. Ba mươi cặp đối, không một cặp nào lạc điệu. Toàn bài bố cục mạch lạc, vững chắc, khiến cho ta nghi ngờ cái ý cho rằng, do bị mù, nhà thơ không thể trau chuốt câu chữ của mình cho đến mức diệu nghệ. Bài văn tế thể phú này không chỉ theo thể biền ngẫu chỉnh tề, mà còn gieo một vần từ đầu cho đến hết bài, mà thường gieo vần trắc. Ba mươi vần mà không vần nào ép, gượng.

Nhìn vào chương pháp, nhà thơ đã tổ chức bài văn chặt chẽ, mạch lạc nhất quán, tạo hiệu quả nghệ thuật cao. Câu chủ đề của bài văn là “Lòng dân trời tỏ”. Cả bài văn sẽ tập trung khắc họa tấm lòng dân của những người nghĩa sĩ.

Trong đoạn “Nhớ linh xưa”, nhà thơ tái hiện tấm lòng của các nghĩa sĩ. Ba cặp đối 3, 4, 5 – thể hiện hình ảnh những người nông dân bình thường sống trong nghèo khổ :

3. “Cui cút làm ăn ; toan lo nghèo khó”.

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tính chất không biết việc lính, chỉ thuần túy là nông dân làm ruộng. Ông đối lập cái biết cái quen với cái không biết :

4. “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung ; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”. Họ thậm chí chưa ra khỏi làng.

5. “Việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm ; tập khiên tập súng tập mác tập cờ, mắt chưa từng ngó“, chưa từng thấy khí giới quân đội.

Ấy thế nhưng khi giặc đến xâm lược, thì tinh thần nghĩa phẫn, lòng căm thù giặc đã trỗi dậy tự nhiên, như là bản năng tự vệ, như ý thức trách nhiệm. Thoạt đầu chỉ là lòng căm thù giặc :

6. “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa ; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”.

7. “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan ; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ“.

Nhưng khi không mong đợi được tin quan, ý thức làm chủ non sông đất nước đã trỗi lên mãnh liệt :

8. “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu ; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó“.

Không chờ đợi, ỷ lại nữa mà tự mình đánh giặc. Hai vầng nhật nguyệt tượng trưng cho chính nghĩa, không dung tha bọn lừa dối.

9. “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình ; chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ “.

Những nghĩa sĩ đã sẵn sàng quyết tâm đánh địch.

Cho đến đây, hãy chú ý những từ miêu tả cảm giác, ý thức người dân mộ nghĩa : Từ chưa quen, chỉ biết, chưa từng ngó, v.v… đến trông tin quan, ghét thói mọi, muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, há để ai, đâu dung lũ, nào đợi ai đòi… phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn… chuyến này quyết ra  tay bộ hổ. Những từ ấy vừa miêu tả ý thức người dân, vừa soi sáng chủ đề lòng dân trời tỏ.

Xin chú ý thêm những lời văn từ các cặp câu 6, 7, 8, 9, hầu như là lời độc thoại của người dân mộ nghĩa. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu không miêu tả các nghĩa sĩ từ bề ngoài, ngoại hình, mà từ tiếng lòng của họ, lời tự bạch thầm kín của họ : họ cảm thấy gì, mong gì, ghét gì, suy nghĩ gì và quyết tâm làm gì. Chính tấm lòng ấy làm ta khâm phục và xúc động.

Các cặp câu 10, 11, 12, 13, 14, 15 miêu tả cuộc chiến đấu của các nghĩa sĩ.

Ba cặp câu 10, 11, 12 cũng như các cặp câu 4, 5, miêu tả người dân không được trang bị, không được luyện tập. Nhưng ở đây nhà thơ đâu chỉ miêu tả người dân ! Ông đã miêu tả quân đội chính quy, đội quân lẽ ra phải có mặt mà lại vắng mặt. Tả như thế gọi là “hư tả”, vừa thể hiện tình trạng đáng phục, đáng thương của người dân, vừa ngầm tỏ ý trách móc, lên án “triều đình khí dân” (triều đình bỏ mặc dân) của người đương thời mà tiêu biểu là Đốc binh Là và Trương Định.

Các cặp câu 13, 14, 15 đã trực tiếp miêu tả cuộc chiến đấu không cân sức nhưng vô cùng anh dũng của các nghĩa sĩ. Ai bảo vũ khí thô sơ không giết được giặc ? Tinh thần ở đây là yếu tố quyết định.

13. “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia ; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”

14. “Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không ; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có“.

15. “Kẻ đâm ngang người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ “.

Nhà văn thay đổi bút pháp, vừa miêu tả động tác, vũ khí, tư thế, tiếng hô tiếng gào, vừa miêu tả tinh thần anh dũng làm cho lũ giặc khiếp vía. Đây chính là bức tranh sử thi hoành tráng hào hùng có thể sánh với nhiều đoạn trong Bình Ngô đại cáo.

Bốn cặp câu 16, 17, 18, 19 miêu tả sự hy sinh của các nghĩa sĩ. Cái chết của họ là không tránh khỏi. Cảnh tang tóc trùm lên sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình. Nhưng cái chết của họ cũng là chết oan, không đáng số. Lại thêm một lời lên án ngầm đối với vua quan triều Nguyễn :

19. “Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm ; vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số !”.

Bốn cặp câu 20, 21, 22, 23 suy nghĩ về ý nghĩa cái chết của các nghĩa sĩ. Nghĩa sĩ chết là do tội ác của quân xâm lược :

20. “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta ; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó”. Chúa ở đây không phải là chúa trời, mà là vua chúa, là chúa Nguyễn, tội là tội của quân xâm lược. Chính quân xâm lược cũng làm cho quan quân khó nhọc, chứ có riêng gì dân :

21. “Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương ; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió”.

Mấy câu hỏi “vì ai” có thể là nhà thơ không chỉ lên án quân xâm lược, mà còn nghĩ đến số trời, vận nước, sự suy tàn của triều đại đương thời. Nhà thơ thấy sự cắt đất cho Tây là sự thực khó bề thay đổi. Đất này rồi sẽ bị chiếm.

Vậy thì chết cũng sướng hơn là sống nhục :

22. “Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn ; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mỳ, nghe càng thêm hổ”.

Nguyễn Đình Chiểu dự cảm trước khi quê hương bị chiếm, thì đạo Thiên Chúa sẽ được nước, sẽ bắt dân theo đạo, sẽ bắt dân đinh làm mã tà, chia rượu nhạt, gặm bánh mỳ… một bức tranh mất tự chủ hiện ra, và như thế thì chết còn đỡ nhục.

23. “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh ; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Vậy là tế người nghĩa sĩ, nhà thơ còn nghĩ đến nỗi nhục mất đất sắp tới.

Hai cặp câu 24, 25 vừa an ủi vong linh, vừa xót thương người sống.

Nhưng nỗi đau sâu xa của Nguyễn Đình Chiểu, là tuy nghĩa sĩ hy sinh rồi, mà vận nước vẫn chưa được giải quyết. Một câu hỏi đặt ra cho lịch sử :

27. “Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen ; ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ ?”

Ai cứu đặng vận nước lúc này ? Một câu hỏi chưa có hướng trả lời. Nhưng tinh thần hy sinh của nghĩa sĩ đã khẳng định tinh thần đấu tranh sắp tới :

29. “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia ; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”. Tinh thần bất khuất được khẳng định, mặc dù không vượt qua được ý thức hệ đương thời.

Nội dung và nghệ thuật bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thật đặc sắc và phong phú, sâu sắc. Nó đâu chỉ có ca ngợi sự hy sinh của các nghĩa sĩ, mà còn thể hiện biết bao băn khoăn, đau đớn trước thực trạng đất nước phức tạp thời ấy. Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không chỉ cần thấy cái anh hùng của một thời, mà còn cần thấy hết cái đau đớn bơ vơ của nhân dân lục tỉnh thời ấy. Về nghệ thuật, bài văn tế có nhiều nét hiện đại, lời văn gần gũi ta hơn lời văn ở Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu. Ở đây, ta nghe như lời tâm sự, giãi bày của những người đang sống vậy.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s