NHỚ RỪNG

Nhớ rừng của Thế  Lữ là một bài thơ hay, tiêu biểu của Phong trào Thơ mới và của tác giả trên hai phương diện : tính điêu luyện, phóng khoáng, già dặn của Thơ mới và tình cảm yêu nước kín đáo, âm thầm.

Bài thơ có một cấu tứ độc đáo : mượn lời con hổ nằm trong cũi sắt của vườn bách thú nói về nỗi nhớ cảnh rừng xanh và những ngày oanh liệt ngày xưa, để nói lên niềm khao khát những cảnh tượng hùng vĩ, tự nhiên, ghét cảnh chăm sửa giả dối, khao khát được tự do biểu hiện sức mạnh tự nhiên của mình, khao khát được giải phóng cá tính. Bài thơ cũng gửi gắm chút tình cảm đối với thời oanh liệt của đất nước. Bài thơ rõ ràng là lời của con hổ rồi nhưng tác giả vẫn cứ chua rõ thêm : Lời con hổ ở vườn Bách thú, để tỏ rằng đây không phải là lời của con người. Lời chua này vừa có tác dụng che mắt, nhưng cũng có ý nhắc nhở các nhà suy diễn chớ suy diễn dễ dãi.

Hai dòng đầu giới thiệu hiện trạng và tình cảm của con hổ :

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.

“Gậm” chứ không phải ngậm, nghĩa như mình tự gậm nhấm, nhấm nháp khối căm hờn của mình. Nhà thơ nói “khối căm hờn” chứ không phải nỗi căm hờn, bởi “khối” là một tình cảm căm hờn to lớn, nguyên vẹn, chưa tan. Người xưa khi nói tới những tình cảm chưa giải tỏa, những tình cảm u uất thường dùng chữ khối tình. Cái tư thế nằm dài thể hiện sự chán ngán, bất lực, không ra vẻ gì là hổ nữa, bởi con thú nào mà chẳng “nằm dài” được ? Con hổ đã đánh mất, hay bị tước mất tư thế uy nghi của nó.

Nhưng đó chỉ là bề ngoài. Ở trong tâm hồn, con hổ vẫn còn nguyên là con hổ với những kỷ niệm mãnh liệt, với những tình cảm ngang tàng.

Sáu dòng tiếp theo nói lên tình cảm tủi nhục của con hổ, thể hiện ý thức muốn phân biệt mình với con người và các con vật khác. Còn gì đau khổ hơn là một con hổ – chúa sơn lâm mà không ai sợ, bị đem dùng làm đồ chơi, và đặt ngang hàng với gấu, báo ? Trong khi đó, so với hổ, chúng chỉ là một lũ “ngẩn ngơ”, “dở hơi”, “không suy nghĩ” (“vô tư lự”).

22 dòng tiếp kể về “tình thương, nỗi nhớ” một thời oanh liệt đã mất  : “Thuở tung hoành hống hách” ngày xưa. Hai chữ “ngày xưa” nghe sao mà xa vời, như không còn bao giờ có thể trở lại !

Cảnh sơn lâm của con hổ là một cảnh dữ dội, hoang sơ, đầy uy lực của thiên nhiên : bóng cả, cây già, tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi (tiếng nước lũ đổ ầm ầm), nhưng con hổ vẫn nổi lên như một vị chúa sơn lâm.

Con hổ nhớ lại bóng dáng mình, tự ngắm nghía, tự thưởng thức vẻ đẹp oai hùng đã mất của mình :

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Trong bối cảnh đầy những “hét”, “gào”, con hổ xuất hiện như là múa : “lượn”, “nhịp nhàng”, “vờn”, là vũ điệu đầy uy lực của rừng xanh. Đồng thời con hổ cũng là sự im lặng đầy đe dọa đối với mọi vật.

Cuộc sống của con hổ là một cuộc sống đầy thơ mộng và dữ dội :

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?

Con hổ hung dữ, dưới mắt nhà thơ, hiện hình thành chàng thi sĩ mơ màng “đứng uống ánh trăng tan”, thành nhà hiền triết “lặng ngắm giang sơn ta đổi mới” sau cơn mưa lớn, thành bậc đế vương có chim ca hầu quanh giấc ngủ, và một vị chúa tể tàn bạo làm chủ bóng tối. Hình ảnh con hổ tượng trưng cho vẻ đẹp lãng mạn đa dạng muôn điệu, muôn màu mà nhà thơ hằng khao khát. Nhà thơ đã từng nói :

Dáng yêu kiều tha thướt khách giai nhân

Ánh tưng bừng linh hoạt nắng ngày xuân

Vẻ sầu muộn âm thầm ngày mưa gió

Cảnh vĩ đại sóng nghiêng trời, thác đổ

Nét mong manh, thấp thoáng cánh hoa bay

Cảnh cơ hàn nơi nước đọng bùn lầy

Thú sán lạn, mơ hồ trong ảo mộng

Chí hăng hái đua ganh đời náo động

Tôi đều yêu, đều kiếm, đều say mê.

(Cây đàn muôn điệu)

Hình ảnh con hổ của Thế Lữ mang một vẻ đẹp đa dạng, nó không chỉ thi vị, thơ mộng, mà còn là vẻ đẹp cao cả, dữ dằn, hùng vĩ, bí ẩn, biến hóa vốn có của tự nhiên.

Từ lý tưởng về vẻ đẹp đó, nhà thơ bày tỏ tình cảm khinh ghét những vẻ đẹp giả tạo, dối trá :

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối.

Cảnh nhân tạo của những vườn, hòn non bộ tỏ ra là giả dối :

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Đây là những cảnh đầy tính chất khuôn sáo, ước lệ, tập cổ mà các nhà thơ lãng mạn hồi bấy giờ bài xích. Có thể nói con hổ của Thế Lữ mang trọn một tâm hồn và tinh thần lãng mạn.

Đoạn cuối bài thơ thể hiện một tình cảm thiết tha nhưng bi đát, vô vọng :

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ.

Đã “nằm dài trông ngày tháng dần qua” rồi lại “Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu”, và cuối cùng là  “không còn được thấy bao giờ”, mạch tình cảm làm cho nỗi nhớ nhung của tác giả mang ý vị vĩnh biệt. Bài thơ vừa mạnh mẽ, phóng khoáng, vừa quyết liệt, không khoan nhượng, lại vừa buông xuôi, mềm yếu, phản ánh trạng thái tinh thần lắng xuống sau những cuộc trấn áp đẫm máu của thực dân Pháp thời khởi nghĩa Yên Bái, Xô viết Nghệ Tĩnh.

Nhớ rừng vừa là khát vọng về thiên nhiên, tự do, phóng khoáng, khát vọng được làm chủ giang sơn, vừa là tiếng thở dài mang ý vị vĩnh biệt một thời oanh liệt. Nhưng Nhớ rừng cũng là tuyên ngôn quyết liệt không hòa nhập với thế giới giả tạo. Dù thời oanh liệt không còn nữa, dù nó một đi không trở lại, thì con hổ vẫn mãi mãi thuộc về thời đã mất ấy chứ không cam tâm làm đồ chơi, mua vui cho người, không hòa nhập vào thời hiện tại.

Bài thơ cũng gửi gắm một tình cảm yêu nước. Nhà phê bình văn học Lê Đình Kỵ viết : “Trong thơ ca lãng mạn 1932 – 1945 không nói tới tình yêu, không đi sâu vào những tình tự riêng mà gây được tác động mạnh, trước hết phải kể đến bài Nhớ rừng nổi tiếng của Thế Lữ. Chuyện con hổ ở vườn Bách thú nhưng cũng là chuyện của con người phải sống trong tù ngục của chế độ cũ. Đọc những câu thơ của Thế Lữ người ta rất dễ liên hệ với thân phận sống trong xiềng xích, bị tước mất tự do, bị trói buộc đủ đường thời Pháp thuộc. Cái quá khứ oai hùng của con hổ trước lúc bị giam cầm cũng rất dễ làm ta nhớ tiếc cái quá khứ oai hùng của cha ông. Càng nhớ tới thời oanh liệt, càng thấy uất ức vì phải bị tù hãm, xung quanh toàn những cái nhỏ nhen, tầm thường”. Đó là những lời phân tích chí lý.

Bài thơ đầy ắp những sáng tạo về câu chữ, nhịp điệu. Những từ mới tạo : bốn phương ngàn, giấc mộng ngàn ; những từ văn xuôi : bọn gấu dở hơi, Len dưới nách những mô gò thấp kém, cánh rừng ghê gớm… bên cạnh những từ thi vị. Những câu thơ vắt dòng, dài, với liên từ “với” làm cho ý thơ mở rộng, câu thơ co duỗi thoải mái, khác hẳn thơ luật truyền thống, thể hiện trọn vẹn một đặc điểm của thơ mới đương thời, đó là tạo dáng lại cho câu thơ tiếng Việt.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s