BỆNH NGỦ CỦA THỊ NỞ

NGHỆ THUẬT là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, một sự sáng tạo có cội nguồn sâu xa trong đời sống. Các trường phái nghệ thuật khác nhau xử lý cội nguồn này một cách khác nhau,nhưng ở các nhà văn hiện thực, các  hình tượng mà họ sáng tạo dù có vẻ kỳ dị như thế nào cũng đều có căn cứ  trong cuộc sống và điều đó góp  phần tăng thêm sức hấp dẫn cho tác phẩm.

Đọc truyện Chí Phèo của Nam Cao không ai quên được nhân vật thị Nở. Thị  là một trường hợp bất hạnh tự nhiên, tương phản với Chí Phèo, một bi kịch có tính xã hội. Trí óc thị cũng tiêm nhiễm những định kiến ngu xuẩn của bà cô, của làng Vũ Đại, nhưng bất hạnh lớn nhất của thị là bị số phận dành cho quá nhiều bệnh hoạn và dị dạng. Thị đã xấu, lại ngẩn ngơ, lại dở hơi,  lại khác người. Có thể nói thị là nơi hội tụ của cái xấu vậy. Nhưng như mọi nhân vật khác của Nam Cao, thị Nở cũng lóe lên những nhu cầu và ánh sáng của con người. Cuộc kỳ ngộ với Chí Phèo đã thức tỉnh ở thị những mong muốn âm thầm và thị là người đầu tiên phát hiện về Chí : “… sao mà hắn hiền thế”. Ngược lại, thị Nở làm hồi sinh những tình cảm con người đã bị vùi lấp ở Chí Phèo, biến đổi hẳn tính cách của Chí, đem lại cho Chí biết bao cảm giác lần đầu về cuộc sống, về xung quanh, về sức khỏe, về tương lai. Thị Nở là một nhân vật không thể thiếu của truyện. Thị Nở là một chất xúc tác, một thí nghiệm về tâm lý, sinh lý, của nhà văn đối với Chí Phèo. Thiếu thị ai sẽ là người  đánh thức  những cảm giác nhân tính mong manh trong tâm hồn Chí ? Muốn thức tỉnh Chí thì phải để cho thị tiếp cận Chí hay Chí tiếp cận thị. Mà không phải ai cũng có thể tiếp cận được Chí, con quỷ dữ của làng Vũ Đại ! Muốn thế thị phải có những phẩm chất đặc biệt : ngẩn ngơ, dở người , hay quên. Đối với một người  đã bị xã hội bình thường loại hẳn ra khỏi cuộc sống, thì người  tiếp cận đó cũng phải có một phẩm chất không bình thường. Một trong những “phẩm chất”đó ở thị Nở là bệnh ngủ. Nam Cao viết : “Chiều hôm ấy thị Nở cũng ra sông gánh nước như mọi chiều trăng tỏa trên sông và sông gợn biếc biết bao gợn vàng. Những gợn vàng ấy rung rung mới trông thì đẹp, nhưng trông lâu mỏi mắt. Gió lại mát như quạt hầu. Thị Nở thấy muốn ngáp mà mí mắt thì nặng dần, toan díp lại. Thị vốn có một cái tật không sao chữa được : có lúc đột nhiên muốn ngủ. Bất cứ ở đâu hay đang làm gì, bà cô bảo thị là một người vô tâm. Ngáp một cái, thị nghĩ bụng hãy khoan kín nước, hăy để lọ xuống ngồi nghỉ đã… Thật ra thì thị cũng chẳng nghĩ được nhiều như thế. Óc thị có một cái bóng đen lan rồi. Thị nghĩ, nhưng thị đã ngủ đến hai phần rồi… Và thị ngủ ngon lành và say sưa …”.

Phải chăng “cái tật không sao chữa được” ấy là hoàn toàn do nhà văn tự nhiên bịa ra cho hợp tình, hợp  cảnh, một thứ “bố trí” thuần túy,  hay là do cái tính “vô tâm” như bà cô của thị Nở nhận định ? Có lẽ không hoàn toàn như vậy . Theo tài liệu của bác sĩ tâm thần Nhật Bản là Trai Đằng Mậu Thái cho biết thì đó là bệnh ngủ có tên gọi là narcolepsy do một bác sĩ người Pháp tên là Chirinô phát hiện và đặt tên vào năm 1880. Đặc điểm của nó là cơn ngủ bột phát và sức căng cơ bắp trong cơ thể lập tức biến mất. Cơn ngủ ập đến nhanh chóng không cách gì ngăn cản được, dù là quát bên tai, tát vào má, véo vào người cũng không xua được cơn ngủ. Ngay khi đang đi trên đường mà cơn ngủ bột phát, thì người bệnh cũng tự nhiên nằm xuống bên đường mà ngủ, bất chấp xấu hổ hay an  toàn. Cơn ngủ này có thể kéo dài từ năm phút đến một giờ và khi tỉnh dậy thì lại hoàn toàn thoải mái, khoan khoái. Cơn ngủ ập đến cùng một lúc với toàn bộ cơ bắp chùng đi, thư giãn hoàn toàn, không thể điều khiển được. Khi cơn ngủ đến với cơ bắp, đầu óc con người vẫn còn tỉnh táo, nhưng không nói được, cuối cùng mới bị khuất phục bởi cơn ngủ của toàn thân. Trong cơn ngủ này con người chìm vào trạng thái ảo giác. Thủ tướng Nhật Xanmôcu ngủ gật giữa quốc hội. Một thủ tướng khác là Taihira  Ricuten do mắt bé như sợi chỉ ngủ ngồi trong hội trường mà không ai phát hiện. Thủ tướng Dôtayôdô mắt rất to vẫn ngủ gật. Có người đang mua hàng ở  siêu thị bỗng ngủ ngay tại quầy. Đó là các dạng khác nhau của bệnh ngủ.

Nguyên nhân bệnh ngủ được giải thích bởi các thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng đó là do tuần hoàn huyết não giảm sút đột ngột. Có thuyết lại cho là hoạt động nội tiết bị trở ngại nhất, các tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng hoạt động kém, lại có thuyết cho là do hiệu số điện thế giữa trong và ngoài tế bào đổi thay đột ngột…

Điều thú vị ở đây là Nam Cao đã miêu tả rất đúng triệu chứng cái “tật” của thị Nở, buồn ngủ đột ngột bất cứ ở đâu, không cưỡng lại được. Thị đã ngủ đến hai phần ba con người mà óc còn nghĩ… Đây là điều Nam Cao không thể hư cấu được. Ông chỉ có thể tự mình quan sát hoặc là nghiên cứu các sách y học hoặc là nghe ai kể. Đọc tập sách của giáo sư Nhật Bản bỗng thêm kính trọng Nam Cao. Ngay trong một chi tiết nhỏ, ông cũng chứng tỏ là một người am hiểu cuộc sống. Điều này cũng chứng tỏ khi miêu tả con người xã hội, Nam Cao không hề bỏ qua (hay tùy tiện xử lý) các thuộc tính tự nhiên của con người. Khi phân tích tâm lý, ông không tách rời các diễn biến sinh lý. Đó là  một tromg những bí quyết tạo thành sức hấp dẫn và tính chân thực trong tác phẩm của ông.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s