HAI ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU

MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU

(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Nói đến Truyện Kiều là nói đến quyền sống con người bị chà đạp. Tiêu biểu cho tình trạng bị chà đạp đó có cảnh bán người, mua người nổi tiếng trong truyện.

Bị tên bán tơ vu vạ, cha và em trai Kiều bị bắt giữ, đánh đập dã man và bị tù tội, nhà Kiều bị lục soát, tan nát.

Để cứu gia đình khỏi cơn suy sụp, Kiều quyết định bán mình chuộc cha. Nhờ mụ mối mách bảo, Mã Giám Sinh đã đến mua Kiều. Mã Giám Sinh mua Kiều là một cảnh đặc sắc bậc nhất của Truyện Kiều. Nhà thơ đã tố cáo thế lực đồng tiền tàn bạo, phơi bày tình trạng con người bị biến thành hàng hóa, bày tỏ niềm đau đớn, căm phẫn trước tình cảnh con người bị hạ thấp và chà đạp.

Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu ngắn gọn quyết định bán mình của Kiều và âm hưởng của quyết định đó. Quyết định đó được giới thiệu dưới hình thức ý nghĩ đau đớn của Kiều về thân phận và tấm lòng hiếu thảo. Một tư tưởng đành phận chi phối hành động của nàng :

    Hạt mưa sá nghĩ phận hèn

Tư tưởng này không phải của riêng Kiều, mà là chung của biết bao thân phận phụ nữ phó mặc cuộc đời cho số phận may rủi, như trong mấy câu ca dao sau :

  Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

  Thân em như hạt mưa rào,

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa …

Mấy câu thơ đầu đoạn trích đã khơi gợi một không khí chua chát khiến người đọc cảm nhận được toàn bộ cảnh tượng mua người bi thảm đó.

Tiếp theo, nhà thơ giới thiệu kẻ đến mua người. Lời giới thiệu thì thật trang nhã :

Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh

Nhưng sự biểu hiện qua lời ăn tiếng nói của nhân vật thì hoàn toàn trái ngược : cộc lốc và thiếu giáo dục

    Hỏi tên, rằng : “Mã Giám Sinh”,

Hỏi quê, rằng : “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.

Giám Sinh là học sinh trường Quốc tử giám, trường học lớn nhất ở kinh đô xưa. Giám Sinh mà ăn nói vô lễ, chứng tỏ là Giám Sinh mua, thực chất là kẻ vô học. Vừa giới thiệu là “viễn khách”, bây giờ đã nói ở “Huyện Lâm Thanh cũng gần”, thế là nói dối, tiền hậu bất nhất. Về ngoại hình, Mã ăn mặc trau chuốt một cách nhố nhăng :

    Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.

“Trạc ngoại tứ tuần” là người đã luống tuổi, không còn trẻ nữa (“quá niên”), tuổi ấy lẽ ra đã để râu nhưng đây lại chẳng có dáng mày râu. Người xưa rất coi trọng hình thức mày râu. Người ta nói : “Đàn ông không râu bất nghì”, nghĩa là không ra dáng. Nay nói “mày râu nhẵn nhụi” có lẽ không nên hiểu là cạo nhẵn râu và lông mày, mà chỉ nên hiểu chung là chẳng thấy râu ria đâu, thiếu tư thế. Hai chữ “bảnh bao” (“áo quần bảnh bao”) là chỉ áo quần tử tế, chải chuốt. Có người nói hai chữ “bảnh bao” thường dùng để khen áo quần trẻ em, nay dùng khen người lớn, hàm ý mỉa mai. Vậy là ngay cả tư cách đàn ông, trượng phu của Mã cũng bị phủ định. Tuy nhiên, câu này cũng có thể hiểu một cách khác : mày râu nhẵn nhụi là mày râu được cắt xén, tỉa tót trai lơ, đi đôi với bộ cánh bảnh bao, ra dáng chú rể.

Về hành vi, cử chỉ thì Mã càng thiếu văn hóa :

    Trước thầy, sau tớ lao xao

    …

    Ghế trên ngồi tót sỗ sàng.

“Lao xao” là từ gợi tả âm thanh vang lên nhiều phía, lộn xộn, không thứ tự : tớ thầy cùng nói, không ai nhường ai. “Ghế trên” là chỗ dành cho bậc cao tuổi, bậc gia trưởng trong nhà. Nay Mã là người đi hỏi vợ, bậc con cái, lại giành lấy ghế trên một cách sỗ sàng, chướng mắt. Tóm lại, kẻ đi mua người là một kẻ, mặc dù ngụy trang bằng danh hiệu “Giám Sinh”, nhưng bản chất vô học, hèn hạ vẫn bộc lộ trọn vẹn. Đó là hạng người vô loài, bất nhân, ỷ thế đồng tiền mà làm điều càn rỡ.

Phần còn lại của đoạn thơ tả cảnh mua người rất hiếm có. Ở đây có kẻ mua, người bán mình.

Nhà thơ đã cực tả nỗi xót xa, nhục nhã của Kiều khi bị đem ra làm món hàng :

    Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.

    Ngại ngùng dín gió, e sương,

Ngừng hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.

“Nỗi mình” là mối tình đối với Kim Trọng vẫn còn canh cánh. “Nỗi nhà” là việc cha, em bị hành hạ, không thể không cứu. Hai nỗi đau chồng chéo đè nặng trong lòng. Cho nên mỗi bước đi của nàng làm rơi bao nhiêu hàng lệ : khóc cho mình, khóc cho tình, khóc cho cha và em. Ngoài nỗi đau và uất ức, Kiều còn nỗi xấu hổ, thẹn thùng. Một người con gái khuê các, nay ra chào khách sao khỏi sượng sùng, xấu hổ ! Nhà thơ dùng ẩn dụ bông hoa rất hay. Kiều ra với Mã ví như cành hoa đem ra ngoài sương gió. Cho nên “Ngại ngùng dín gió, e sương”, vì sương gió làm cho hoa tàn, hoa rụng. Và vì tự ví mình với hoa, nên nhìn hoa mà thấy thẹn, tự thấy không xứng với hoa. Đó là tình cảm, đạo đức cao đẹp, thầm kín của Kiều, chỉ mình Kiều cảm thấy.

Trong khi đó thì mụ mối cứ giới thiệu Kiều như một món hàng, một đồ vật. Mụ “vén tóc”, “bắt tay” cho khách xem, ép nàng đánh đàn, làm thơ cho khách thấy, không hề để ý gì tới nỗi đau bên trong đang giày vò nàng Kiều :

Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai

Quả đúng là cảnh “Cành hoa đem bán cho phường lái buôn” hết sức đau xót.

Xem xong thì ngã giá :

    Cò kè bớt một thêm hai,

Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm.

Giá mua “ngoài bốn trăm” là con số lớn, thế mà người mua còn cò kè bớt một thêm hai mất nhiều thì giờ (“giờ lâu”) ở số đơn vị, thì ta thấy sự mua bán riết róng, chi ly biết chừng nào ! Câu “Cò kè bớt một thêm hai” bộc lộ rõ nhất bản chất con buôn của Mã, chứ không phải là người đi kiếm vợ lẽ, nàng hầu. Tính toán của hắn hoàn toàn đặt ở tiền, chứ không đặt ở người.

Kết thúc cảnh mua người là lời tổng kết chua chát của Nguyễn Du về sức mạnh của đồng tiền chi phối số phận con người :

Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong.

Đoạn thơ này thật đặc sắc : cảnh mua bán rất thật, bộ mặt kẻ mua, người bán cũng được khắc họa sắc nét, phơi bày hết bản chất, địa vị, nỗi lòng của từng loại người. Đoạn thơ là một tiếng khóc cho con người, là một lời tố cáo công phẫn, cháy bỏng.

TRAO DUYÊN

(Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Sau khi đã giải quyết xong thủ tục bán mình (“Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao”), lấy tiền lo lót cho xong vụ kiện (“Họ Chung ra sức giúp vì, Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong”) Kiều đang chờ lên xe hoa theo Mã Giám Sinh. Đêm ấy Kiều bồi hồi thương cho Kim Trọng, tìm cách trả nghĩa nợ tình cho chàng. Đèn thắp sáng đêm, nước mắt đầm đìa. Nhân Thúy Vân thức dậy hỏi, Kiều bấy giờ mới cậy em thay lời và trao duyên cho em. Đây là đoạn thơ trữ tình dài nhất trong Truyện Kiều. Trước đây Tản Đà từng nhận xét : “Trong cả quyển Kiều, văn tả tình không mấy đoạn dài hơn như đây. Đoạn này thật lâm ly, mà như thế mới hết tình sự”.

Nếu nói Nguyễn Du là nghệ sĩ tài hoa bậc thầy về miêu tả tâm lý nhân vật thì đoạn này là đoạn thơ tiêu biểu nhất, thần tình nhất, khiến cho các nhà phân tích, bình giảng trước nay không hết lời thán phục và ca ngợi. Lê Trí Viễn kế thừa cách hiểu của các ông Nguyễn Tường Tam, Đào Duy Anh đã có những lời phân tích, bình phẩm thấu đáo nhất đối với hai câu sau đây. Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du viết :

    Cậy em, em có chịu lời

Tại sao lại dùng “cậy” mà không dùng “nhờ”, Nguyễn Tường Tam và Đào Duy Anh có lẽ là những người đầu tiên giải thích ngoài lý do thanh điệu (trắc), gây một điểm nhấn lắng đọng cho câu thơ, còn vì chữ “cậy” bao hàm cái ý hy vọng tha thiết của một lời dối dăng (trông cậy), có ý nương tựa, gửi gắm, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt. Nếu dùng “nhờ” thì bấy nhiêu nghĩa sẽ nhạt hết. Còn nói “chịu” mà không nói “nhận” cũng như vậy : “chịu” lời là một sự chấp nhận bắt buộc, còn “nhận” thì tùy lòng, mà trong trường hợp này Kiều muốn em không được từ chối đề nghị của chị. Lời lẽ thắt buộc được lựa chọn thật là tinh xác, chặt chẽ.

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

Cái yêu cầu em ngồi lên trên để Kiều lạy trước, thưa sau cũng là một ý nài ép như vậy. Nhưng bây giờ lại dùng lễ nghi để bắt buộc. Lời “thưa” rất trang trọng, báo hiệu nội dung nghiêm trang, trịnh trọng sẽ nói ở sau. Vừa tình vừa lễ như vậy thì Vân từ chối sao đặng ?

Lời thưa của Thúy Kiều rất rõ ràng, dứt khoát :

    Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em !

Người xưa xem tình yêu là một gánh nghĩa vụ, gánh nặng, cho nên nói “gánh tương tư”. Mà giữa đường đứt gánh thì dang dở vô cùng, không sao mang xách cho hết. Hình ảnh đã nói rõ tình trạng bất lực của Thúy Kiều. Mọi việc phó thác cho em gánh vác. Keo chim loan dùng nối dây đàn, dây cung bị đứt, ở đây dùng chỉ nối mối dây tơ duyên (Đoạn trên có câu : “Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong”). Nhưng tơ duyên của Kiều đã đứt, đối với Thúy Vân, đó là mối tơ thừa. Thúy Kiều hiểu thấu cảm giác và tình cảm thiệt thòi của em nên nói thẳng ra luôn. “Mặc em” có nghĩa là phó mặc cho em đó, dở hay em gánh vác cho chị. Câu nói này cũng mang giọng điệu người chị phó thác cho em nữa, cho nên có nhiều sức nặng. Bốn câu thơ đã nói hết tình trông cậy, ủy thác và nài ép, không cho em chối từ.

Nhờ cậy xong Kiều mới nói lý do :

    Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

    Sự đâu sóng gió bất kỳ,

Hiếu, tình khôn lẽ hai bề vẹn hai ?

Nội dung thông báo cụ thể, rõ ràng, nhưng sự trùng điệp ba chữ “khi” : khi gặp, khi ngày, khi đêm đã nói lên sự thề ước sâu nặng, không thể nuốt lời, nên phải nhờ em.

Từ đây Kiều chuyển sang phân tích ý nghĩa :

    Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

    Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Tuổi trẻ em còn lâu dài, vì thương chị mà thay chị nối tình với Kim Trọng thì chị dẫu chết cũng hả dạ, vì có được tiếng thơm là người có tình nghĩa với chàng. Nhưng điều đặc biệt là từ đây trở đi Kiều coi mình như đã chết, như người chết. Câu “Ngày xuân em hãy còn dài” có nghĩa là ngày xuân của chị đã hết rồi, chị chỉ còn “thịt nát xương mòn” và “ngậm cười chín suối” nơi cõi chết. “Chín suối” (cửu tuyền) là nơi đất rất sâu, chỗ người ta mai táng người chết.

Nói xong lời thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều bèn trao vật kỷ niệm :

    Chiếc thoa với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Kim thoa (có bản chép là “chiếc vành”) là tặng vật đầu tiên Kim Trọng tặng cho Kiều khi nàng nhận lời : “Giở kim thoa với khăn hồng trao tay”. Tờ mây là tờ hoa trên có vẽ vân mây, là tờ hoa tiên trên đó Kiều đã ghi lời thề (“Tiên thề cùng thảo một trương”). Lạ nhất là câu tiếp theo : “Duyên này thì giữ, vật này của chung.” Nhiều nhà bình luận Truyện Kiều đã nói rất đúng : Kiều trao duyên chứ không trao tình. “Duyên” đây là nhân duyên, duyên phận, cơ duyên, tức là sự run rủi của số phận cho hai người trai gái được lấy nhau. Nhưng vật kỷ niệm này là “của chung” – Lời lẽ có vẻ như là Kiều còn muốn giữ lại một phần cho mình, không muốn trao cả cho em. Nhưng xét cho kỹ thì Kiều đã nói đúng. Kiều trao kỷ vật, nhưng còn cái hồn của kỷ vật – tức mối tình trao gửi nơi đầu mày cuối mắt, cái ngây ngất, nồng nàn, lời thề dưới trăng thì trao làm sao đặng ? ! Nó thuộc về quá khứ, chôn sâu trong trái tim Kiều, cho nên chỉ có thể là của chung.

Nhưng kỷ vật này cũng không phải chỉ là kỷ vật tình yêu hai người : xưa là của Kiều và Kim, nay thành của Kim và Vân. Từ nay nó còn là kỷ vật làm tin để nhắc nhở đến chị nữa đó, để em có được hạnh phúc thì cũng đừng quên chị :

    Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

    Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Cây đàn hồ ngày nào Kiều đàn cho Kim Trọng, và mảnh trầm hương ngày nào từng chứng kiến lời thề nguyền cũng để lại cho em như là của tin. Đối với chị chúng đã trở thành quá khứ xa xôi rồi (ngày xưa). Đến đây Kiều lại thấy mình là người đã chết :

    Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

    Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Kiều đã mất hết hiện tại. Tương lai của nàng trông chờ vào lòng thương. Mai sau em đốt hương, chơi đàn (so tơ) – những hoạt động hạnh phúc, em hãy nhớ đến chị. Cái cách hình dung oan hồn bơ vơ của mình nơi mai hậu thật là thê thảm : Kiều sau này chỉ còn là ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ ! Còn gì có thể gây lòng thương cảm hơn là gợi lên những hình ảnh của hư vô ? Kiều lúc ấy đã chết, nàng chỉ còn có oan hồn, nhưng xin nhớ cho :

    Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.

Kiều mang nặng lời thề, nhưng dù có tan tành cái thân xác phụ nữ mảnh mai như bồ liễu, nàng cũng quyết đền ơn đáp nghĩa (đền nghì) cho Kim Trọng. Trúc mai là biểu tượng của tình thân yêu thời niên thiếu, là biểu tượng của mối tình đầu, rất sâu nặng. Lúc bấy giờ chị và em đã là người của hai thế giới khác nhau :

    Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rảy xin giọt nước cho người thác oan.

“Dạ đài” là nơi âm phủ tăm tối. Em sẽ không trông thấy chị nữa (cách mặt), chị nói em cũng không nghe thấy (khuất lời), em hãy rảy một giọt nước cho người thác oan là chị. Thông thường người ta rảy một chén nước mà ở đây Kiều chỉ xin một giọt, thì đáng thương biết bao. Kiều tuy tự nguyện hy sinh, bán mình chuộc cha, nhưng vẫn ý thức mình bị oan uổng, sau khi chết hồn oan không tan. Theo niềm tin tôn giáo cổ truyền thì nước trong là chất tinh khiết có thể tẩy rửa nỗi oan khuất, làm cho oan hồn được mát mẻ.

Từ khi trao vật kỷ niệm cho đến giờ Kiều như quên hẳn hiện tại, nàng chỉ sống với cái mai hậu hư vô của mình, vì nàng hy vọng em và Kim Trọng được hạnh phúc, và mai hậu nàng sẽ được thương đến. Hiện tại thì nàng chỉ là con số không :

    Bây giờ trâm gẫy, bình tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân !

    Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Nhìn lại hiện tại Kiều chỉ thấy mất mát.

“Trâm gẫy bình tan” là hình ảnh của tình duyên tan vỡ. Một lời kêu than, một lời tiếc nuối : “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” – Bao nhiêu là ái ân hò hẹn (đã “kể làm sao xiết”, lại còn “muôn vàn”, là nhiều lắm), thế là đã hết ! Kiều tự thấy có lỗi rất lớn với Kim Trọng, cho nên gửi lại chàng trăm lạy, nghìn lạy. Đây là lễ vọng từ biệt trong lòng. Câu “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” thấm đượm chua chát.

Từ câu “Bây giờ trâm gẫy bình tan” Kiều như chỉ nói với mình và Kim Trọng trong hiện tại, nàng quên hẳn Thúy Vân trước mặt mình, cũng giống như trước đó, nàng sống hẳn trong thế giới hư vô của mai sau.

    Phận sao phận bạc như vôi ?

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

    Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang !

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !

Đó là lời oán trách, lời cật vấn số phận vô lý, nhưng nàng phải chấp nhận số phận : “Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, nước chảy đưa các cánh hoa trôi nổi, phiêu dạt. Kiều như thấy mình cũng là cánh hoa lìa cành, mặc dòng nước trôi, không làm chủ được mình nữa.

Hai câu cuối cùng là than với Kim, thương xót Kim, đau vì mình phụ Kim, một điều mà mình không muốn. “Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, là dằn vặt, “thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ bạc của mình (như “Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma !”). Lời đau đớn ấy đã khiến Kiều ngất đi :

    Cạn lời hồn ngất máu say,

Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng.

Đoạn “Trao duyên” đây đúng là Kiều đã nói hết lời (cạn lời). Lời trao duyên nhưng nói như một lời trăng trối, lời vĩnh biệt. Trước lời trao là tình của mình, sau khi trao mình đã trắng tay. Trước khi trao mình là người sống, sau khi trao mình cầm bằng như đã chết, chỉ còn hồn oan, chín suối, dạ đài, ngọn gió. Trước khi trao Kiều sống với hiện tại, khi trao Kiều vừa sống với quá khứ và hiện tại. Nhưng khi trao xong Kiều chỉ sống với tương lai hư vô. Phút trở về hiện tại là lúc đớn đau, tan nát đến chết ngất. Nguyễn Du đã hình dung hết trạng thái tâm lý của Kiều. Lời của nàng là lời nói từ trạng thái ấy, không gian ấy. Cho nên lời nàng Kiều khi thì đối thoại, khi thì độc thoại, khi thì nói với người trước mặt, khi thì nói với người vắng mặt.

Toàn bộ đoạn văn là nỗi lòng đau đớn tan nát thê thảm nhất. Con chim sắp chết thì lời kêu thương. Mối tình sắp mất thì lời thê thảm. Đây đúng là đoạn văn lâm ly nhất trong Truyện Kiều.

Chủ đề Trao duyên là một chủ đề chỉ có trong văn học trung đại. Tình  yêu, tình duyên là một bộ phận không tách rời của sự sống con người. Tình yêu là sự gặp gỡ, gắn gó tự nguyện của hai tâm hồn, hai trái tim nam nữ, là sự hiến dâng tự nguyện cho nhau những gì quý báu nhất của cuộc đời. Vì vậy làm sao có thể có chuyện trao duyên, trao tình cho một người khác chưa từng yêu nhau được ? Tình yêu là cái không thể đem trao cho người khác. Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã phân biệt tình yêu và tình duyên. Duyên là sự gặp gỡ, run rủi.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s