BỐN BÀI THƠ NGUYỄN TRÃI

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

(Cửa biển Bạch Đằng)

(NGUYỄN TRÃI)

Bạch Đằng hải khẩu là bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi trong Ức Trai thi tập. Theo cụ Đào Duy Anh, bài thơ được làm vào thời kỳ nhà thơ thành đạt, làm quan tại triều. Bản dịch của Nguyễn Đình Hổ khá sát với nguyên tác.

Đây là bài thơ thuộc dạng hoài cổ. Hoài cổ là nhớ lại việc xưa, người xưa : nhà thơ về lại nơi địa danh lịch sử, bày tỏ nỗi niềm. Thơ hoài cổ có loại bày tỏ niềm thương tiếc triều đại đã qua như thơ Bà Huyện Thanh Quan sau này (Thăng Long thành hoài cổ) hoặc thể hiện một suy nghĩ triết lý về lịch sử và đời người (như bài Tô Tần đình của Nguyễn Du).

Bài thơ này có lẽ viết khi về thăm lại chiến trường xưa, nơi ghi dấu son thắng lợi vẻ vang của dân tộc chống quân Nam Hán ở thế kỷ X, phá quân Mông – Nguyên thế kỷ XIII.

Hai câu đầu miêu tả phong cảnh cửa biển và giới thiệu cuộc đi chơi :

Biển rung gió bấc thế bừng bừng

Nguyên văn chữ Hán nói rõ : gió bấc thổi trên biển, làm cho không khí trên biển lạnh căm căm. Chính lúc đó nhà thơ :

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng

Sao lại có cuộc đi chơi vào lúc gió bấc thổi như vậy ? Tra lại lịch sử, Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào tháng chạp âm lịch năm 938, còn Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng vào ngày . Có thể là nhà thơ nhớ tới chiến công của Ngô Quyền dựng nền độc lập mà đi thăm chăng ? Cửa Bạch Đằng này, theo cụ Đào Duy Anh, là cửa sông Chanh, ở phía đông thị trấn Quảng Yên ngày nay, chứ không phải là cửa Nam Triệu. Ở đấy, núi đá lởm chởm nom xa như cá lớn bị chặt ra thành từng khúc, khiến tác giả liên tưởng tới chiến công của người xưa :

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

“Ngạc” là cá sấu, cố nhiên là cá dữ, còn “cá kình” là cá voi, thì không dữ, là cá hiền, song người xưa coi như mãnh thú. Có câu thành ngữ “Kình thôn hổ thực” (nghĩa là : Cá voi nuốt, hổ ăn thịt), và “kình ngạc” đi liền với nhau là hình ảnh tượng trưng chỉ giặc lớn, giặc dữ. “Giáo gươm chìm gãy” là dấu tích của nơi chiến trường xưa. Nhà thơ Đỗ Mục, người đời Đường, trong bài thơ Xích Bích cũng có câu “Giáo chìm gươm gãy sắt chưa tan” nhớ lại trận Xích Bích nổi tiếng, hàm ý chế giễu Chu Du thắng trận là nhờ vào ngọn gió đông nam. Ở đây, Nguyễn Trãi biểu hiện một ý thơ mạnh hơn : giáo chìm gươm gãy còn hiện lên trên bãi sông như một bãi chiến trường !

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

“Quan hà” là quan ải, cửa biển này là nơi quan ải của Tổ quốc. Chữ “hiểm yếu” ở đây, nguyên văn chữ Hán là “bách nhị”, lấy điển tích ở Sử ký của Tư Mã Thiên nói về thế hiểm trở của nước Tần, chỉ cần hai vạn quân Tần có thể địch lại với hai trăm vạn quân chư hầu. Ở đây, người dịch dịch thoát thành “hiểm yếu”. “Hào kiệt, công danh” là chữ nhắc lại chiến công và anh hùng xưa. Hai câu thơ này tràn đầy lòng tự hào với thế sông, thế núi của Tổ quốc và chiến công của các anh hùng dân tộc. Cả thế đất lẫn con người đều góp vào chiến công.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng…

Việc trước quay đầu nhìn lại đã qua lâu rồi, nhưng tới dòng ngắm cảnh, lòng vẫn bâng khuâng, bồi hồi nhớ lại. Nguyên văn chữ Hán ba chữ cuối câu tám là : “ý nan thăng”, nghĩa là “biết bao ý nghĩ không sao nói hết được” vì xúc động.

Bài thơ ngợi ca phong cảnh đất nước và công tích của người xưa, thấm đượm lòng tự hào và cảm phục. Bài thơ sử dụng một số điển tích cũ, có dấu vết tập cổ, nhưng ý đã hoàn toàn đổi mới, tình cảm lại chân thành kín đáo, thật là một bài thơ hay về đất nước và lịch sử.

TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

và MỘ XUÂN TỨC SỰ

(NGUYỄN TRÃI)

Nguyễn Trãi không chỉ nổi tiếng với văn chính luận như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh, với thơ quốc âm như Quốc âm thi tập, mà còn nổi tiếng với thơ chữ Hán. Hai bài thơ : Trại đầu xuân độ (Bến đò xuân đầu trại) và Mộ xuân tức sự (Cuối xuân tức sự) cho ta thấy khát vọng của nhà thơ muốn được hòa nhập cùng thiên nhiên, rung cảm với sức sống của thiên nhiên.

Hai bài thơ này nguyên bằng chữ Hán, nhưng theo sách giáo khoa, chúng ta hãy tìm hiểu qua bản dịch của nhà thơ Khương Hữu Dụng.

Đây là hai bài thơ thuộc loại tức sự, tức cảnh, tả cảnh tả việc thấy trước mắt mình. Nhà thơ nhìn cảnh sinh tình, tình hòa trong cảnh. Đặc điểm của lối thơ này là : cảnh chính là hình ảnh của tình, tình cảnh hòa quyện làm một.

Bến đò xuân đầu trại là một bức tranh xinh xắn gồm bốn câu (dòng). Hai câu đầu cực tả cảnh mùa xuân đầy sức sống. Câu “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi” có một ví von thật hay, nhưng khá lạ với người hiện đại : “cỏ xanh như khói” (xuân thảo lục như yên). Khói tất nhiên không phải màu xanh, lại càng không phải xanh lá cây. Nhưng khói nghi ngút bay lên làm một vùng trở nên mờ mịt, bàng bạc, cho nên người xưa nói “yên vũ” – mưa khói, “yên ba” – khói sóng, “yên liễu” – liễu khói, “yên hà” – ráng khói. “Cỏ xanh như khói” hình dung một vùng cỏ xanh phơi phới trông xa như khói mờ. Cỏ cây giống khói hơn khi có mưa xuân như bụi làm đất trời mờ mịt. Thông thường nước sông không thể vỗ trời (thủy phách thiên), nhưng mưa xuân che mờ cảnh vật, làm cho mặt sông và bầu trời nối liền với nhau, có cảm tưởng như nước vỗ lên trời. Trước mắt ta một cảnh xuân của thiên nhiên đầy sức sống hiện ra : cỏ xanh phơi phới, nước sông vỗ trời. Hai câu sau thể hiện một ý tương phản : cảnh sinh hoạt của con người dường như đã ngừng nghỉ, đường đồng vắng ngắt ít người đi, con đò gối bãi suốt ngày ngơi !

Sự tương phản của cảnh xuân vũ trụ sôi động và cảnh vắng vẻ của sinh hoạt con người thể hiện một ý thơ thâm trầm mang tinh thần văn  hóa phương Đông : cái đẹp thâm thúy nhất là sức sống tự nhiên của vạn vật, đất trời, là sinh ý của tạo hóa, vũ trụ. Nhà nho xưa cho rằng cái đức lớn lao nhất của đất trời là cái đức sinh, tức là cái đức làm cho mọi vật được sống. Nhà nho Trình Minh Đạo đời Tống bên Trung Quốc thường để cỏ mọc xum xuê trước cửa sổ. Có người khuyên nên giẫy đi, ông trả lời : “Tôi muốn thường xuyên được nhìn thấy sinh ý của tạo vật”. Ông lại xây bể cạn nuôi cá con và thường ra ngắm. Có người hỏi vì sao, ông đáp : “Tôi muốn xem vạn vật tự đắc ý như thế nào”. Liên hệ với câu chuyện này, có thể nói trong bài thơ nhỏ trên đây, Nguyễn Trãi cũng say mê với sinh ý của cỏ xuân và sông nước, một ý thơ đậm đà ý vị triết lý Đông phương.

Bài Cuối xuân tức sự cũng biểu hiện một cảm hứng tương tự. Sinh hoạt của nhà thơ nhàn nhã đến mức tĩnh lặng :

Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn,

Khách tục không ai bén đến gần.

Và trong không khí tĩnh lặng đó, nhà thơ cảm nghe được sinh ý của mùa xuân tự nhiên : cuốc kêu, mưa bụi, hoa nở

Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn,

Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan.

Đó cũng là lúc con người được sống tự do, thanh thản với đất trời. Chỉ khi không bị thúc bách bởi công việc, con người mới thực sự cảm được cái sinh thú tự nhiên của mình và xung quanh.

Đây là hai bài thơ mà trong Nguyễn Trãi toàn tập (bản in 1976) được xếp vào các bài thơ “làm trong thời ở  ẩn tại Côn Sơn”, hé mở cho ta thấy một thế giới nội tâm thầm kín, chan chứa lòng yêu đời và khát khao hòa hợp với thiên nhiên vĩnh cửu.

THUẬT HỨNG

(NGUYỄN TRÃI)

Nguyễn Trãi không chỉ làm nhiều thơ chữ Hán trong tập Ức Trai thi tập mà còn làm nhiều thơ chữ Nôm trong tập Quốc âm thi tập (gồm 254 bài), được xem là tập thơ Nôm sớm nhất còn lưu truyền lại ngày nay. Tập thơ này được xếp theo từng chùm bài : Ngôn chí 21 bài, Mạn thuật 14 bài, Trần tình 9 bài, Thuật hứng 25 bài, Tự thán 41 bài, Bảo kính cảnh giới 61 bài… Đây là bài thứ 24 trong chùm Thuật hứng.

“Thuật hứng” nghĩa là bày tỏ niềm hứng khởi, hứng thú, cũng tức là bày tỏ chí hướng, khẳng định lý tưởng sống của mình.

Mở đầu, bài thơ nêu ra một lựa chọn :

Công danh đã được hợp về nhàn,

Lành dữ âu chi thế nghị khen.

Nghĩa là công danh đã được rồi thì nên về nhàn, không phải lo âu gì về việc dị nghị, khen chê lành dữ của người đời nữa.

Ở đây công danh nghĩa là công lao và thanh danh, ngày xưa chỉ sự đỗ đạt và quan chức cao, được ghi danh vào bia đá bảng vàng. Lý tưởng của người xưa là công thành danh toại, do đó, công danh trọn vẹn thì nên rút lui. Hoài Nam Tử có câu : “Công thành danh toại thân thoái, thiên chi đạo dã”, nghĩa là công danh đã đạt  mà rút lui đó là việc hợp với đạo trời. Lưu Vũ Tích đời Đường có câu : “Công thành danh toại hội quy lão, Thỉnh hướng Đông sơn vi cận lân”, ý nói công danh đạt thì nên về dưỡng già, làm hàng xóm của núi phía Đông.

Nguyễn Trãi đã là quân sư cho Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Sau khi thắng lợi, ông được ban họ vua (Lê Trãi), được phong tước Quan phục hầu và giữ chức Nhập nội hành khiển, kiêm Lại bộ thượng thư. Có thể nói là công thành danh toại rồi. Do bị tình nghi liên can đến một vụ án, Nguyễn Trãi không được tin dùng. Ông cũng bất hòa với nhiều quan lớn trong triều về quan điểm trị dân, do tính tình ngay thẳng, cương trực của ông. Vì vậy Nguyễn Trãi chán việc quan trường, muốn về ở nhàn. Ta có thể hiểu “nhàn” tức là không làm quan nữa. Quốc âm thi tập có nhiều câu thơ nói lên chí hướng lựa chọn này của Nguyễn Trãi :

Dưới công danh đeo khổ nhục,

Trong dầu dãi, có phong lưu.

(Ngôn chí – bài 2)

Hay :

Lấy đâu xuất xử, lọn hai bề,

Được thú làm quan, mất thú quê.

(Tự thán – bài 39)

Ở bài Thuật hứng này, ta thấy dường như Nguyễn Trãi đã dứt khoát chọn hướng “thú quê”. Đối với ông, cuộc sống thôn quê thật thanh thản, con người được hòa mình với cuộc sống tự nhiên :

Ao cạn vớt bèo cấy muống,

Đìa thanh phát cỏ ương sen.

Câu hai có bản chép “Trì thanh”. Trì hay đìa cũng là ao nước, hồ nước có thể thả sen được. Hai câu này thể hiện lòng ngưỡng vọng một cuộc sống thuần phác, tự nhiên. Ao cạn hết nước thì vớt bèo, cấy rau muống.  Khi ao đầy nước thì phát cỏ, ương cây sen. Điều kiện nào thì trồng cây ấy.

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Kho chứa đựng phong nguyệt đầy lên quá nóc kho, nghĩa là đầy ngập, đầy tràn. “Phong nguyệt” ở đây nghĩa là trăng trong, gió mát, chỉ chung phong cảnh đẹp và cuộc sống nhàn hạ. Người xưa cũng đem chuyện trăng gió đối lập với việc quan. Chẳng hạn, Lương Thư, Truyện Từ Miễn có câu : “Đêm nay chỉ được nói chuyện phong nguyệt, không nên bàn chuyện công việc”. Như vậy, ta có thể hiểu là một khi “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc” thì không còn chỗ đâu mà chứa việc công nữa, cuộc sống sẽ thảnh thơi cùng phong cảnh.

Thuyền chở yên hà nặng vạy then

“Yên hà”, theo Hán ngữ đại từ điển là mây khói, nơi có thần tiên ở, cũng có nghĩa là cảnh sơn thủy, non nước, nơi con người có thể lánh đời, quên danh lợi, vui thú với thiên nhiên. Nguyễn Du vào thời kỳ ẩn dật dưới chân núi Hồng Lĩnh có câu thơ tỏ chí : “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen” thì thú yên hà là thú ẩn dật. Như vậy, thuyền chở thú ẩn dật cũng đầy, nặng oằn cả thang thuyền, không còn chỗ mà chở thêm bất cứ thứ gì khác.

Hai câu thơ này nói một ước mong, về nhàn thì tâm hồn nhà thơ chỉ chứa đựng toàn thú phong nguyệt và thú ẩn dật, không còn chỗ nào mà nghĩ đến chuyện công danh, danh lợi nữa. Như thế thật là sướng !

Nhưng hai câu cuối bài thơ đột ngột mở ra một chiều sâu khác trong tâm hồn Nguyễn Trãi :

Bui có một lòng trung lẫn hiếu,

Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.

“Bui” là chỉ, chỉ có một lòng trung hiếu là không thay đổi. “Trung” là một lòng phụng sự nhà vua, “hiếu” là phụng dưỡng, kính thờ cha mẹ. “Trung hiếu” là hạt nhân tư tưởng Nho giáo. Câu thơ cuối lấy lời ở sách Luận ngữ của Khổng Tử, ông tổ Nho giáo, lại càng có âm hưởng mạnh mẽ khác thường : Mài mà không mòn, nhuộm mà không đen.

Với hai câu thơ kết này, bài thơ bộc lộ một mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn nhà thơ mà chưa giải quyết được. Muốn được nhàn thì không được nghĩ đến việc nước, việc nhà, một lòng đắm mình trong phong nguyệt, khói ráng. Đã đắm mình đến mức ấy (“phong nguyệt đầy qua nóc”, “yên hà nặng vạy then”) mà vẫn không suy suyển ý thức trung hiếu, thì có nghĩa là tâm hồn vẫn không nhàn. Nhà thơ có thể dứt bỏ công danh, không theo đuổi nữa (“Chí cũ công danh đã phỉ nguyền” – Thuật hứng, bài 8), nhưng không thể đổi thay lòng trung hiếu. Mâu thuẫn đó nói lên nét đẹp của nhân cách nhà thơ : muốn nhàn là muốn được tự do, phóng khoáng cởi bỏ ràng buộc của công danh, hòa mình vào tự nhiên để sống cuộc đời thanh cao, nhàn tản, nhưng tấm lòng vẫn canh cánh trách nhiệm với đất nước, với cha mẹ. Ông muốn dung hòa cái không thể dung hòa. Đó là một lý tưởng sống rất khó thực hiện, bởi vì phụng sự vua thì lại duyên nợ với công danh. Một phần nào đó cũng là  một mâu thuẫn bi kịch.

Text Box: (1) Xin xem : - Giảng văn, T.1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1969, in lần thứ hai.
- Hướng dẫn giảng dạy văn học lớp Tám, T.2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1971, in lần thứ hai, 1975.
- Giảng văn, T.1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982.
Bài thơ thú vị vì đã đưa vào thơ những hình ảnh về nếp sống của làng quê Việt Nam thân thuộc trìu mến : “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen”. Có thể nói Nguyễn Trãi là nhà  thơ đưa vào thơ sớm nhất những chất liệu Việt Nam : rau muống, lảnh mồng tơi, con niềng niễng, tạo một không khí dân tộc đậm đà.

Bài thơ còn thú vị vì bài thơ thất ngôn bát cú mà xen vào ba câu lục ngôn (sáu tiếng). Câu thơ lục ngôn thường ngắt nhịp chẵn đều đặn : 2/2/2 hoặc 3/3, tạo cảm giác đều đều, chắc nịch. Thơ thất ngôn bát cú pha lục ngôn là một lối thơ độc đáo trong Quốc âm thi tập, làm cho nó có một dáng vẻ khác với thơ cổ thể, cận thể Trung Quốc. Nó chứng tỏ khi làm thơ Nguyễn Trãi không muốn rập khuôn các bậc thầy Trung Quốc của mình.

Đọc bài thơ này, ngoài lý tưởng sống cao đẹp của Nguyễn Trãi, việc đưa vào thơ chất liệu Việt Nam và pha câu lục ngôn vào thơ bát cú là điều đáng chú ý nhất.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s