BỐN BÀI THƠ THỜI NHÀ TRẦN

THUẬT HOÀI

(Tỏ lòng)

(PHẠM NGŨ LÃO)

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) trước là môn khách, sau là con rể của Trần Hưng Đạo, quê làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông là vị tướng đã lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân

Mông – Nguyên, trong việc mở mang biên giới phía Nam, được phong chức Điện soái thượng tướng quân. Ông là người văn võ toàn tài đã để lại một số thơ văn, trong đó có bài Thuật hoài viết bằng chữ Hán.

Mở đầu bài thơ, ông vẽ ra một tư thế hiên ngang, kiêu dũng :

Múa giáo non sông trải mấy thu

(Cầm ngang ngọn giáo giữa non sông vừa mấy mùa thu)

Đây là câu thơ dịch từ câu thơ “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu”. Hai chữ “múa giáo” không hay bằng “Cầm ngang ngọn giáo”, bởi cầm ngang ngọn giáo là một tư thế hiên ngang, vững chãi như một bức tượng, còn “múa giáo” gợi một động tác múa may, dù có diệu nghệ cũng làm mất đi cái ý hiên ngang lẫm liệt. “Cầm ngang ngọn giáo giữa non sông” gợi một hình ảnh khổng lồ của con người mang tầm cỡ vũ trụ, nổi lên trên bối cảnh giang sơn, sông núi, và hình ảnh đó sừng sững tới mấy năm. Chỉ một câu đã phác hoạ được bức tượng đài bất hủ về vị tướng anh hùng bảo vệ Tổ quốc. “Vừa mấy thu” ý nói thời gian chưa bao nhiêu.

Ba quân hùng khí át trời sao

Nguyên văn “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu”. Ba quân là biểu tượng chỉ chung cho quân đội, binh sĩ. Tỳ hổ là những loài thú dũng mãnh, đem ví với quân đội rất hợp. Mấy chữ “khí thôn Ngưu” lấy tích trong sách xưa, nói giống hổ báo, con non chưa có vằn có đốm đã có khí thế ăn được trâu (bò) ; giống hồng hộc, con non lông cánh chưa mọc đủ mà đã có tấm lòng bốn biển ; người hiền trẻ tuổi cũng thế. Câu thơ dịch
“Ba quân hùng khí nuốt  trôi trâu” tuy nghe hơi thô, nhưng đúng tinh thần nguyên tác. “Thôn ngưu” là nuốt chửng được cả con trâu. Tất nhiên đây chỉ là câu thơ cực tả khí thế, sức mạnh. Người Trung Quốc còn có những cách nói tương tự, như “chí khí nuốt sơn hà, chí khí nuốt vũ trụ, chí khí nuốt cầu vồng,… đều nói cái khí thế phi phàm, khác thường.

Nếu hai câu trên nặng về miêu tả vị tướng và quân đội thì hai câu dưới là câu luận :

Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu !

Câu thơ nói lên ý thức nghĩa vụ phụng sự đất nước cao cả của tác giả. Công danh đây là công lao và danh vọng, xưa thường chỉ việc đỗ đạt, làm quan, lập công, tên tuổi được ghi vào bia đá bảng vàng. Nhưng chế độ khoa cử ở Trung Quốc mới có từ đời nhà Đường, đời nhà Hán thời Gia Cát Lượng tất nhiên chưa có. Do đó công danh đây thuần túy do công lao mà nổi tiếng. Ở đây Phạm Ngũ Lão nói tới công danh gắn với danh tiếng của Vũ hầu Gia Cát Lượng đời Hán thì không dính dáng tới khoa cử đỗ đạt.

Chữ “nợ công danh” ở đây, “nợ” là dịch từ chữ “trái”, mà “trái” thì từ chữ “trách” mà ra, nghĩa là “người có trách nhiệm, trọng trách”. Người xưa cho rằng người đàn ông sinh ra là có nợ tang bồng, lập công báo quốc, chỉ ai trả được cái nợ ấy thì mới xứng với danh hiệu “nam tử” – tức đàn ông.

Vũ hầu Gia Cát Lượng là người nổi tiếng, ai cũng biết qua truyện lịch sử Tam quốc diễn nghĩa. Ông là  người tài năng xuất chúng và trung thành rất mực với nhà Thục Hán. Chính Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, và ông làm Thừa tướng. Khi Lưu Bị sắp chết đem nước giao phó cho Gia Cát Lượng. Vì cảm cái ơn ấy mà ông sáu lần đem quân đánh Ngụy để báo đáp Tiên chúa, cuối cùng ốm chết trong khi đang chỉ huy đánh Ngụy. Trong bài Biểu xuất quân (Xuất sư biểu) lần sau, ông viết những lời cảm động chân thành : “Cúc cung tận tụy, chết thì mới thôi”. Và trận đó ông chết lúc mới 54 tuổi. Phạm Ngũ Lão là danh tướng đời Trần, ông sống tới 65 tuổi. Rõ ràng là Phạm Ngũ Lão lấy Gia Cát Lượng làm mẫu mực công danh cho đời mình, và lấy làm thẹn khi chưa lập được công danh như Gia Cát Lượng. Câu thơ tỏ chí vừa khiêm tốn vừa hào hùng. Nếu ta biết Gia Cát Lượng đã trả nợ công danh cho đến hơi thở cuối cùng, mà Phạm Ngũ Lão cầm ngang ngọn giáo “vừa mấy năm” (cáp kỷ thu), thì câu thơ còn có nghĩa là thời gian làm tướng còn dài, và ông mong muốn được lập công báo quốc suốt đời như Gia Cát Lượng.

Còn một khía cạnh nữa khiến Phạm noi gương Gia Cát là, trong bài Biểu nói trên, Gia Cát cho biết ông xuất thân áo vải, cày ruộng kiếm ăn cho qua đời loạn. Thế mà Lưu Bị không hiềm ông địa vị hèn mọn, ba lần đến lều tranh mời ra, cái ơn tri ngộ ấy lớn lắm. Phạm Ngũ Lão vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, không phải xuất thân quý tộc, mà cũng được Trần Hưng Đạo coi trọng, cho làm rể, đề bạt làm Điện soái thượng tướng quân, thì cái ơn này cũng không nhỏ. Cho nên ông nói “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. Nói thế cũng còn có nghĩa là nói mình chưa báo đáp được cái ơn tri ngộ của chủ tướng như Gia Cát Lượng.

Nếu xét bốn câu thơ ở tương quan trong bài thì ta thấy Phạm Ngũ Lão thấy thẹn là do ông làm tướng chưa lâu (“vừa mấy thu”), ba quân đều là quân tỳ hổ, có hùng khí, có chí lớn, không có gì đáng trách, đáng thẹn vậy có thể là ông thẹn vì chưa có tài lớn được như Gia Cát Lượng chăng ? Thực ra “thẹn” chỉ là cách nói bày tỏ hoài bão lập công không thua kém Gia Cát Lượng mà thôi.

Bài thơ tuy ngắn mà ý tứ cô đọng hàm súc, hình ảnh hoành tráng đậm màu sử thi, lý tưởng cao đẹp, có sức mạnh cổ vũ đối với các thế hệ thanh niên nước nhà. Bài thơ cũng tự khắc hoạ diện mạo tinh thần tướng sĩ đời Trần, những người đã chiến thắng quân Mông – Nguyên khét tiếng, bảo vệ trọn vẹn giang sơn Đại Việt chúng ta.

CẢM HOÀI

(Nỗi lòng)

(ĐẶNG DUNG)

Đặng Dung người Hà Tĩnh, con trai Quốc công Đặng Tất. Theo sách Ô châu cận lục thì : tức giận vì cha bị giết hại oan uổng, ông từ Thuận Hóa đưa quân ra Thanh Hoa đón Trần Quý Khoáng về Nghệ An lập ngôi vua, đổi niên hiệu Trùng Quang. Khi Trương Phụ (Minh) đến đánh, ông nhiều phen chiến đấu, có lần tập kích lên thuyền Phụ định bắt sống y, nhưng vì không biết mặt, để Phụ sổng mất. Về sau ông bị Phụ bắt đưa về Trung Quốc, dọc đường nhảy xuống sông tự vẫn.

Cảm hoài là nhan đề thường gặp trong thơ cổ dùng để biểu lộ cảm xúc, hoài bão. Cảm hoài là có cảm xúc trong lòng, tức nỗi lòng. Trong Tây sương ký có câu : “Tri âm giả phương tâm tự đổng, cảm hoài giả đoạn trường bi thống”, nghĩa là “Kẻ tri âm lòng thơm tự hiểu, kẻ cảm hoài đứt ruột xót đau”. Do vậy thi đề cảm hoài thường nói việc oán hận, bi thương. Bài thơ này làm vào lúc Đặng Dung ra sức tận tuỵ phù rập nhà Trần, đánh giặc cứu nước, nhưng vận nhà Trần đã tàn, cơ đồ đang đổ, khó lòng xoay chuyển. Cảm hoài là một bài thơ giãi bày gan ruột.

Mở đầu bài thơ tác giả nêu lên một tình thế bi kịch :

Thế sự du du nại lão hà

“Du du” chữ Hán có nhiều nghĩa, ở đây lấy nghĩa biến động, rối ren, không biết thế nào mà lần.

Dịch :

Việc đời bối rối tuổi già vay

Việc đời biến động mờ mịt, chưa thấy đâu là viễn cảnh, nhưng ta thì đã già rồi, biết làm sao ! Đây là bi kịch nhân sinh khi con người cảm thấy lực bất tòng tâm. Trong lúc đó thì :

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

“Hàm ca” có nghĩa là đắm đuối vào việc uống rượu, ca vũ (Hán ngữ đại tự điển, quyển hạ, tr. 5895). Khổng Dĩnh Đạt giải thích : “hàm ca” là một biểu hiện đạo đức hư hỏng. Trời đất vô cùng mà đắm vào rượu chè ca vũ là biểu hiện suy đồi.

Dịch :

Trời đất vô cùng, một cuộc say

Trời đất vô cùng mãi say sưa đắm chìm trong cuộc xoay vần theo luật của nó, chẳng kể gì đến con người, làm cho con người thêm cô độc, tăng thêm tính bi kịch của người có chí khí. Hai câu thơ mở đầu đã bộc lộ cảm giác bi kịch : người sống không gặp thời, nêu ra chủ đề bài thơ.

Hai câu thực thể hiện mối quan hệ giữa con người và thời thế :

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Khi gặp thời thì người làm đồ tể, kẻ đi câu cũng dễ dàng lập được công danh. Người đồ tể đây ám chỉ Phàn Khoái đời Hán lúc trẻ làm nghề bán thịt chó ở chợ, sau theo Hán Cao Tổ đánh Tần, bảo vệ Hán Cao Tổ ở cuộc hội ẩm tại Hồng Môn không để cho Hạng Vũ giết hại. Kẻ câu cá đây là chỉ Hàn Tín, thuở hàn vi Tín đi câu để mưu sinh, sau giúp Hán Cao Tổ làm nên nghiệp lớn. Cả hai người đều phò Hán Cao Tổ, lúc gặp thời, nhà Tần để sổng con hươu (thất lộc), Hán Cao Tổ chém rắn trắng, nên đều thành công. Đặng Dung cho thành công như thế là dễ.

Vận khứ – vận hết, kẻ anh hùng cũng nhiều người nuốt hận. Ẩm hận – nuốt hận, nghĩa là ôm hận mà không cách gì nói lên được, một hình ảnh về sự cay đắng. Giang Yêm trong bài Hận phú có câu : “Từ xưa đến nay ai cũng đều chết cả, không ai là không uống hận mà im tiếng”. Hai câu này được dịch là :

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ

Anh hùng lỡ bước, ngẫm càng cay.

Hai câu luận nói rõ vào tình thế bất lực của mình :

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

“Trí chủ” là dốc lòng báo đáp ơn vua. “Phù địa trục” là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. Người xưa trong sách Bác vật chí đời Tấn nói đất có 3.600 trục, giằng kéo lẫn nhau. Khi có biến loạn, trục đất rời ra. Cả câu nói có lòng báo đáp ơn vua, ra sức đỡ trục đất nghiêng lệch.

“Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa. Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, ý nói đình chiến. Lúc này Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Nhiều sách giải thích câu thơ này là muốn đem lại hoà bình cho đất nước mà  không được, e không hợp. Bởi vì tại câu kết bài thơ tác giả vẫn mài gươm dưới trăng để đánh giặc, chứ đâu phải để cất gươm vào kho ! Cho nên câu này nên hiểu : Không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh.

Mặc dù hình ảnh “kéo sông thiên hà” là lấy từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ, nhằm rửa binh khí để cất đi không dùng nữa, nhưng ở đây Đặng Dung đã vận dụng sáng tạo thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Hai câu này được dịch là :

Vai khiêng trái đất mong phò chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Kết bài, nhà thơ nhắc lại tình thế lực bất tòng tâm :

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

Dịch :

Thù trả chưa xong đầu đã bạc

Nhưng tinh thần chiến đấu vẫn thường trực :

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

Dịch :

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày !

Long tuyền đây là tên chiếc kiếm báu. Tương truyền nước Sở có suối Long tuyền tôi thép làm kiếm sắc. Về sau Long tuyền dùng để chỉ kiếm sắc nói chung. Đã có kiếm sắc rồi mà nhà thơ vẫn mài kiếm, không chỉ mài ban ngày, mà còn mài dưới trăng khuya, thì ý chí chiến đấu báo đáp ơn nước vẫn không bao giờ nhụt, cho dù biết thời vận đã qua. Đó chính là cái chí đơn độc, âm thầm muốn cưỡng lại mệnh trời.

Đọc lại cả bài dịch của cụ Phan Kế Bính (chúng tôi mạn phép sửa vài chữ) :

Việc đời bối rối tuổi già vay,

Trời đất vô cùng, một cuộc say.

Bần tiện gặp thời, lên cũng dễ,

Anh hùng hết vận gẫm càng cay.

Vai khiêng trục đất mong phò chúa,

Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày !

Bài dịch tất nhiên chưa được đẹp và trau chuốt như nguyên tác, vần điệu cũng chưa réo rắt thiết tha bằng bản Hán văn. Đó là vì nguyên tác sử dụng nhiều điển cố. Ít nhất có năm điển cố phải được giải thích thì mới hiểu được. Bản dịch khó lòng đạt được sự đăng đối chỉnh tề của nguyên tác. Tuy vậy nhìn tổng thể, ta hiểu được bài thơ nói đi nói lại về việc đời khó khăn mà tuổi già rồi (nại lão hà, đầu tiên bạch), về việc hết thời vận (vận khứ, vô lộ vãn thiên hà) nhưng tấm lòng trí chủ vẫn ra sức gánh vác, vẫn mài kiếm Long tuyền dưới trăng. Đó chính là nỗi niềm của nhà thơ muốn bộc bạch với trời đất và hậu thế.

Cảm hoài là một đóng góp vào truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của thời Lý – Trần. Cảm hứng bi tráng sầu hận sâu sắc, âm điệu thiết tha đã làm cho bài thơ khắc sâu vào lòng người.

Xin đọc thêm bài dịch của cụ Phan Võ :

Việc thế lôi thôi tuổi tác này,

Mênh mông trời đất hát và say.

Gặp thời đồ điếu thừa nên việc,

Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay.

Giúp chúa những lăm giằng cốt đất,

Rửa đòng không thể vén sông mây.

Quốc thù chưa trả già sao vội,

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy.

TỤNG GIÁ HOÀN KINH SƯ

(Phò giá về kinh)

(TRẦN QUANG KHẢI)

Trần Quang Khải (1241 – 1294), con trai thứ ba của Trần Thái Tông Trần Cảnh, là Thượng tướng, vừa là nhà ngoại giao, là nhà thơ. Ông không chỉ lập công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, mà còn để lại tập thơ Lạc đạo (Vui với đạo) nhưng thất truyền, hiện chỉ còn một số bài, mà bài Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) được mọi người yêu mến, nhớ thuộc.

Bài Tụng giá hoàn kinh sư (kinh sư tức là kinh đô) thuộc loại thơ tức sự, nhân có sự việc mà làm ra. Sự việc đây là phò giá hai vua (tức là vua Trần Thái Tông Trần Cảnh, tuy đã nhường ngôi cho con là Trần Hoảng vào năm 1258, nhưng vẫn trông coi chính sự, cho nên gọi là hai vua) về kinh đô. Đầu tháng 6 năm Ất Dậu 1285, quân ta giải phóng Thăng Long, từ 10 tháng 6 Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để chạy lên phía Bắc, Toa Đô từ Thanh Hóa ra Thiên Trường bị quân ta bắt và chém đầu. Ngày 9 tháng 7 năm ấy, cả triều đình và quân đội về lại Thăng Long. Trở về sau khi chiến thắng người xưa gọi là khải hoàn. Bài Phò giá về kinh này có thể nói là một bài ca khải hoàn của Tướng quốc Trần Quang Khải.

Âm vang chiến công oanh liệt còn náo nức trong lòng, hai câu đầu nhà thơ nhắc lại hai trận thắng :

Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù.

Bến Chương Dương và cửa Hàm Tử là hai địa danh lịch sử nổi tiếng, nay ở đâu, qua bao nhiêu thế kỷ sử sách chỉ còn ghi lại chung chung, chưa được biết cụ thể. Nhưng tên gọi thì thật vang dội. “Cướp giáo” là hình ảnh hoán dụ chỉ việc tước vũ khí giặc, vô hiệu hoá quân địch, còn “bắt quân Hồ” là cách nói khác chỉ việc bắt quân Mông – Nguyên. Hồ là tên người Trung Quốc xưa dùng để chỉ chung các dân tộc sống ở phía bắc Trung Quốc và Tây vực. Quân Mông – Nguyên chính là quân Hồ. Chỉ hai chiến công đó đã đủ nói lên khí phách anh hùng của quân dân ta.

Nhưng hai câu sau đột ngột mở ra một viễn cảnh mới :

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu.

Người dũng tướng không tự thỏa mãn với các chiến công trước mắt mà luôn tính đến kế sách lâu dài cho đất nước. “Tu trí lực” nếu dịch sát phải là “nên dốc sức” xây dựng. Thời thái bình đối với Trần Quang Khải không phải là lúc ăn ngon, ngủ yên, vét của để hưởng thụ, mà là lúc cần phải dốc sức để tăng cường sức mạnh của nhân dân và quân đội, tiềm lực quốc phòng, thì đất nước mới được vững bền lâu dài.

Sử sách cho biết đến tháng 7 âm lịch năm Ất Dậu, tức tháng 8 năm 1285, Khu mật viện triều Nguyên lại bày kế hoạch ráo riết chuẩn bị xâm lược nước Đại Việt một lần nữa để phục thù. Chỉ do viên tướng thống lĩnh A Lý Hải Nha bị ốm chết vào tháng 6 năm Bính Tuất (tức tháng 7 năm 1286) thì Hốt Tất Liệt mới hoãn binh, và sang năm Đinh Hợi (1287) lại sang xâm lược lần thứ ba để tháng 4 năm 1288 bị đại bại thêm một lần nữa.

Câu thơ  Trần Quang Khải không chỉ thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước thiết tha, mà chủ yếu thể hiện tầm nhìn chiến lược xa rộng, niềm tin vào sức mạnh của nhân dân mình, đất nước mình. Bài thơ thể hiện một ý thức cảnh giác kín đáo : quân xâm lược tuy thua nhưng không từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng, nếu nước ta sa sút thì chúng sẽ thừa cơ lấn sang.

Bài thơ ngắn, hào hùng mà ý tứ thật sâu xa, đáng để muôn đời con cháu suy ngẫm

XUÂN HIỂU

(Sớm xuân)

(TRẦN NHÂN TÔNG)

Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông. Ông là một vị vua yêu nước và anh hùng, đã cùng vua cha lãnh đạo nhân dân đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, giành thắng lợi ở phía Tây và phía Nam, củng cố vững vàng biên cương Tổ quốc. Là người khoan hòa nhân ái, ông có sức cảm hóa đoàn kết muôn dân, tuyển dụng hiền tài, có tinh thần dân chủ. Ông là người có sáng kiến tổ chức Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng để nghe ý kiến của các tướng và của các bậc cao niên già cả.

Trần Nhân Tông còn là nhà văn hóa, nhà thơ xuất sắc của thế kỷ XIII. Ông sáng lập dòng thiền Trúc Lâm, và đã sáng tạo nhiều tập thơ, văn. Thơ của ông tinh tế, tình tứ. Bài Xuân hiểu này là như vậy, nó thể hiện một hồn thơ trong trẻo, đa tình của ông.

Bài thơ viết về một thời điểm đặc biệt trong năm : buổi sáng sớm mùa xuân, tại đầu mùa xuân, khi sự chuyển mùa còn chưa hiện ra rõ rệt. Sự chuyển biến của tự nhiên từ mùa này sang mùa khác bao giờ cũng như vậy, từ đông sang xuân, từ xuân sang hè, từ hè sang thu… thời tiết chuyển dần dần, lặng lẽ, nhưng con người thì không dễ nhận biết ngay, vì họ đang thích nghi với thời tiết cũ. Rồi một lúc nào đó, khi có dấu hiệu rõ rệt, con người mới ngỡ ngàng nhận ra rằng mùa khác đã đến. Bài thơ này đã miêu tả cái cảm giác ngỡ ngàng, vui sướng khi nhận ra mùa xuân đã đến một cách bất ngờ.

Bài thơ có bốn câu mà có hai tâm trạng. Hai câu đầu là tâm trạng khi chưa biết xuân về. Hai câu sau tả cảnh xuân đến với tất cả sự hào hứng :

Ngủ dậy ngỏ song mây

Xuân về vẫn chửa hay.

Hai câu đầu đầy động tác : ngủ dậy, mở hai cánh cửa sổ. Chi tiết cánh cửa sổ làm cho động tác được cụ thể hơn. Khi mở cửa không hề biết xuân đã về, nhưng động tác thì đã cho thấy một tinh thần sảng khoái, dứt khoát.

Hai câu tả cảnh tiếp theo rất thần tình, lột tả được thần thái của mùa xuân. Mùa xuân đặc trưng bởi hoa nở, nhưng tác giả chưa nói tới hoa ngay, mà nói đến bướm :

Một đôi bươm bướm trắng

Mấy chữ “một đôi bươm bướm” cũng chan chứa tình xuân. Không phải là một con bươm bướm hay một đàn bươm bướm mà là một đôi. Màu trắng của bướm cũng thật tinh khiết, trang nhã. Câu kết thật hay :

Phất phới sấn hoa bay

Hai chữ “phất phới” lột tả trạng thái hào hứng, hăm hở bay tới bông hoa. Chữ “sấn” khá thần tình. “Sấn” là xông tới, chạy theo, có cái gì như sấn sổ, liều lĩnh một cách đáng yêu. Mùa xuân là mùa khí dương thịnh, mọi vật bừng thức và đi vào hoạt động với một tinh thần hăng hái, yêu đời. Đôi bướm tượng trưng cho tinh thần đó.

Cả bài thơ tràn ngập tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên. Trong bài thơ đâu chỉ có đôi bươm bướm hăm hở bay tới với các bông hoa. Cái động tác ngủ dậy mở một lúc hai cánh cửa cũng mang khí thế xuân mới. Bài thơ chỉ nhắc tới hoa mà không miêu tả hoa. Nhưng đôi bươm bướm trắng bay thẳng tới khóm hoa là quá đủ để nói về hoa thơm, hoa đẹp, hoa đầu mùa đang vẫy gọi.

Bài thơ cho thấy một trình độ thơ ca điêu luyện, tinh tế biết chừng nào của các tác giả đời Trần.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s