BỐN BÀI THƠ CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

MỜI TRẦU

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là người đàn bà có số phận bi kịch. Bà tài cao chí lớn nhưng lại chịu một đời tình duyên hẩm hiu. Bà khao khát cuộc đời cao đẹp trong trắng mà buộc phải chấp nhận cuộc đời phàm tục, ô trọc. Điều đáng quý ở bà là tuy hờn giận cuộc đời đầy phản trắc đen bạc mà bà vẫn giữ mãi ước mơ về hạnh phúc đằm thắm. Mời trầu là một mong muốn hạnh phúc lứa đôi thắm thiết giữa một môi trường bạc bẽo, phản trắc.

Mời trầu là một nghi thức giao duyên, tỏ tình của trai gái. Mời trầu, bỏ trầu, nhận trầu tượng trưng cho tình yêu trai gái, và khởi đầu nhân duyên. Ca dao có bài :

    Vào vườn hái quả cau xanh,

Bổ ra làm sáu, mời anh xơi trầu.

    Trầu này têm những vôi tàu,

Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay.

    Trầu này ăn thiệt là say,

Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng.

    Dù chẳng nên vợ nên chồng,

Xơi dăm ba miếng, kẻo lòng nhớ mong,

(Việt Nam thi văn hợp tuyển)

Có lẽ ai mời trầu cũng bắt đầu bằng việc giới thiệu miếng trầu đem mời. Cô gái dân gian đã xiết bao trân trọng, chăm chút, có thể nói là làm dáng, làm sang cho miếng trầu đem mời người bạn. Cô giới thiệu từ việc hái, việc bổ cau, việc têm trầu và cả cách têm, cách pha chế nữa ! Và lời mời mới nhũn nhặn làm sao !

Hồ Xuân Hương mời trầu một cách khác hẳn, không giống cách mời xã giao thông thường, bình thường.

Bài thơ của bà cũng bắt đầu bằng việc “giới thiệu” miếng trầu của mình. Bà đã già dặn, để không tô vẽ, mỹ hoá, làm dáng. “Quả cau nho nhỏ” gợi lại “Quả cau nho nhỏ, Cái vỏ vân vân” xinh xinh, ngon lành. Nhưng “miếng trầu hôi” thì không phải là miếng trầu ngon lành lý tưởng rồi, cái tiếng “hôi” nghe cũng không đẹp, không nhã tý nào ! Đáng chú ý là bà rất đỗi thành thực, công bố rõ ràng trầu tôi là miếng trầu hôi, như muốn nói : trầu của tôi nó thế đấy, có thế nào mời thế ấy, không màu mè tô vẽ như ai, nhưng đây là trầu tay tôi quệt, với tất cả tấm lòng thành. Bà Hồ Xuân Hương giới thiệu miếng trầu như giới thiệu một tấm lòng thành thật, pha chút khiêm nhường. Cách mời cũng không văn vẻ : “Này của Xuân Hương…”, một lời mời thân mật, thẳng thắn của người đã chán mọi sự màu mè hào nhoáng.

Hai câu sau là phần “ngỏ ý”, nhưng là một lời ngỏ ý đặc biệt, nghe như lời bảo ban, khuyên nhủ của một bậc đàn chị : “Này này chị bảo cho mà biết…”. Trong lời bảo ban này có một tấm lòng thành thật khát khao hạnh phúc lứa đôi tươi đẹp (“Có phải duyên nhau thì thắm lại”, tức ăn trầu) và một lời “răn” trước (“Đừng xanh như lá, bạc như vôi !” tức không ăn ). Lời ngỏ ý vừa nói với bạn, lại vừa như nói với đời. Lời mời này thật khiến ai được mời khó xử. Bà không ảo tưởng với đời, biết đời lắm kẻ xanh như lá, bạc như vôi. Nhưng đời cũng có kẻ chân thật, có nơi hy vọng. Nhưng câu thơ cuối cùng có nghĩa là “Xin đừng từ chối, không ăn”, vì không ăn, thì miếng trầu vẫn “xanh” và “bạc” chứ không “thắm” !

Mời trầu là niềm khát khao giao duyên của một tấm lòng thành thật, nhưng không ảo tưởng với đời.

ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Đề thơ là một phong tục văn chương của Trung Quốc xưa, đến đời Đường đã rất thịnh hành. Khách du sơn ngoạn thuỷ, thăm thú thắng cảnh đền đài, hứng tình làm thơ, vung bút đề thơ để lưu bút tích và bày tỏ cảm xúc, chí khí của mình. Ta đã biết tương truyền bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu đề ở lầu Hoàng Hạc, làm thi tiên Lý Bạch bối rối. Hoặc bài Đề đô thành nam trang của Thôi Hộ đề trên cánh cửa một trang viện vắng bóng người đẹp. Ở nước ta, tục này cũng thịnh hành, trên nhiều hang động đẹp đều lưu bút tích thi nhân.

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoạn, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ đề nơi nào phải đúng với tình cảnh, sự tích nơi đó, xem như cảm nghĩ về nơi được đề.

Sầm Nghi Đống là Thái thú đất Điền Châu, Quảng Tây, Trung Quốc, tùy tướng của Tôn Sĩ Nghị trong cuộc xâm lược Việt Nam năm 1789. Đống được Nghị giao cho giữ đồn Khương Thượng, Đống Đa. Khi bị quân Tây Sơn đánh, bí thế đã thắt cổ tự tử. Để giữ mối quan hệ bang giao hai nước, Quang Trung cho người Hoa lập miếu thờ Sầm Nghi Đống tại Ngõ Sầm Công, phía sau phố Hàng Buồm ngày nay (Theo Nguyễn Lộc. Hồ Xuân Hương, thơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1968). Theo sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (NXB Văn hóa, Hà Nội. 1963) thì ghi chú có hơi khác : Đống được giao trấn thủ Ngọc Hồi, đồn Ngọc Hồi thất thủ, Đống tự tử. Về sau có đền thờ ở gò làng Ngọc Hồi.  Chưa rõ ai đúng.

Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền :

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.

Những ai được lập đền, dù là quân giặc, đều được coi là thần, để người thường đến thắp hương cúng bái, cầu vọng. Nhưng Hồ Xuân Hương thì chỉ “ghé mắt trông ngang”. “Ghé mắt”, theo Từ điển Tiếng Việt là “nghiêng đầu và đưa mắt nhìn”, chỉ thuần túy là động tác, không hàm ý kính trọng. “Ghé mắt trông ngang” chớ không phải trông lên, đã thể hiện một thái độ bất kính đối với “vị thần” xâm lược thất bại. “Đền Thái thú đứng cheo leo” hẳn là đền xây trên gò, và người ta không dễ trông ngang. Rõ ràng Hồ Xuân Hương cố tình chọn một cái nhìn coi thường đối với vị Thái thú ở nơi tha hương này. Chữ “cheo leo” cũng hay, nó chỉ một thế đứng cao nhưng không có nơi bấu víu, dễ đổ ụp xuống. Chữ “kìa” cũng hàm ý bất kính, bởi nó kèm theo các động tác chỉ trỏ, mà đối với các nơi đền đài linh thiêng, người đến viếng không được nói to, giơ tay chỉ trỏ như đối với đồ vật. Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất linh thiêng, cung kính của một ngôi đền.

Hồ Xuân Hương không chỉ nhìn ngang ngửa, chỉ trỏ trước một ngôi đền, bà lại còn tự ví mình, so sánh mình với người được thờ nữa :

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu !

Cái ý nghĩa “đổi phận làm trai” đã thể hiện cái mặc cảm phụ nữ thua kém nam giới mà xã hội phong kiến đã áp đặt vào ý thức nhà thơ. Nhưng mặt khác, nó cũng thể hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận của bà. Cái cách bà tự xưng là “đây” để đối lại với Sầm Nghi Đống là “đấy”, thì dù bà chưa đổi phận được, bà cũng đã tự coi mình ngang hàng với bậc mày râu và rất coi thường vị nam nhi họ Sầm. Mặc dù trong xã hội có mặc cảm thua lép ở giới phụ nữ, thì cá nhân Hồ Xuân Hương không chịu thua lép ! Câu kết “… há bấy nhiêu” có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm nhiều gấp nhiều lần, so với sự nghiệp của Sầm, song đúng hơn, nên hiểu là một lời dè bỉu : sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư, nó quá ít đối với một đấng nam nhi đấy !

Bài thơ là một khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ. Thái độ “bất kính” của bà là một thách thức đối với ý thức trọng nam khinh nữ, thách thức với các “sự nghiệp anh hùng” của nam nhi, thách thức đối với thần linh. Bài thơ thể hiện mạnh mẽ nhu cầu giải phóng cá tính của con người, bất chấp các ước lệ ràng buộc của xã hội phong kiến.

BÁNH TRÔI NƯỚC

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Bài thơ Bánh trôi nước của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một bài thơ tứ tuyệt xinh xắn làm theo lối thơ “vịnh vật”. Đó là lối thơ xuất hiện vào thời Lục Triều ở Trung Quốc (thế kỷ III – VI) và thịnh hành ở nước ta từ thế kỷ XV với thơ Nôm Nguyễn Trãi và đặc biệt là Hồng Đức quốc âm thi tập. Các “vật” được vịnh bao gồm động vật như con hạc, con bướm, con ve… ; thực vật như cây mai, cây đào, cây trúc… ; đồ vật như cây đàn, cái bút, cái quạt… ; con người như ông vua, người đẹp… Thơ vịnh vật có hai yêu cầu. Một là, miêu tả cho giống với đặc điểm sự vật được vịnh, sao cho người ta đọc lên là nhận được ra. Hai là, ký thác tâm tình, mượn sự vật mà gửi gắm tình cảm, ý chí, tư tưởng. Thơ vịnh càng giống càng khéo, gửi gắm tâm tình càng sâu càng hay. Do vậy “vịnh vật” cũng tức là “vịnh hoài”, làm thơ tỏ nỗi lòng.

Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh vật độc đáo : vịnh món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà dễ thường cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình :

Thân em thì trắng, phận em tròn,

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

          (DƯƠNG QUẢNG HÀM.

Việt Nam thi văn hợp tuyển, Hà Nội, 1950)

Đây là lời “tự giới thiệu” của bánh : từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân làm bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão (nát).

Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân (tấm lòng son). Thiếu nhân bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một ly.

Nhưng bài thơ đâu phải là tác phẩm quảng cáo cho một món ăn dân tộc. Thơ vịnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Bài thơ của Hồ Xuân Hương, vì thế, còn là lời tự bộc bạch của một tấm lòng phụ nữ. Ta có thể nói nhà thơ mượn lời cái bánh trôi để nói lên thân phận và tấm lòng người phụ nữ. Bánh trôi là một hình ảnh gợi hứng, một ẩn dụ, một biểu tượng. Có người liên hệ hình thức bài thơ này với hình thức câu đố, song nói chung bản thân câu đố không có chức năng biểu cảm, trong khi đó vịnh vật (hay vịnh sử cũng thế) phải có chức năng biểu cảm mới được. Cái lấp lửng của câu đố là để đánh lừa, gây nhiễu từ phía người phán đoán, còn cái song quan của thơ vịnh là phương thức biểu cảm của nó. Chúng ta hãy xem bài thơ này không đố ai cả. Nhan đề bài thơ đã nói rõ nó tả cái gì ngay từ đầu rồi.

Thân em thì trắng, phận em tròn

Muốn cho lời thơ vịnh vừa tả vật, vừa ký thác, thì lời thơ phải lấp lửng, “song quan”, mở ra hai cửa, cửa nào cũng hiểu được. Có bản chép “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, Hà Nội, 1963) thì câu thơ trần trụi như là chỉ tả cục bột. Chữ “thân” và chữ “phận” mới gợi lên suy nghĩ về một cuộc đời. Và do vậy, các chữ “trắng”, “tròn” mới gợi lên hình bóng một người con gái đẹp xinh, phúc hậu. “Thân trắng” vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. “Phận tròn” vừa có nghĩa là bánh trôi được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

Bảy nổi ba chìm với nước non

“Bảy nổi ba chìm” là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, vùi dập, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. “Nước non” là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người. Ở đây hàm ý chỉ mối tình, tình duyên. Trong bài Tự tình, Hồ Xuân Hương có câu : “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Câu này tỏ ý từng trải, sướng vui, đau khổ đều đã chịu đựng.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Hoặc sinh ra xấu, đẹp, hoặc gia cảnh giàu, nghèo, hoặc lấy chồng tốt, xấu, đều do một “tay kẻ nặn” là tạo hóa, số phận làm ra hết. Trong xã hội cũ, trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm thấy thương thân, xót thân rất rõ qua các đối lập :

    Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ?

    Thân em như thể cánh bèo,

Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi.

Tuy chưa có cách gì làm đổi thay được số phận oan trái, bất công, người phụ nữ vẫn giữ lòng thủy chung, trinh bạch :

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Người phụ nữ vẫn giữ niềm thủy chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thủy chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được đời mình, tất cả đều phó mặc cho “tay kẻ nặn”, thì chẳng đáng thương hay sao ? Chẳng phải là hình ảnh chân thực về thân phận người phụ nữ hay sao ? Bánh trôi nước là bài thơ cảm thương về thân phận, tố cáo số phận. Đặt trong văn cảnh văn học đương thời và trong thơ nữ sĩ thì cảm nhận thương thân rất rõ rệt, một cảm xúc còn được thể hiện trong nhiều bài khác nữa.

TỰ TÌNH (II)

(HỒ XUÂN HƯƠNG)

Bài Tự tình (II) này là một bài trong chùm tự tình của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Tự tình là kể nỗi lòng, một đề tài thường thấy trong thơ xưa.

Mở đầu là một âm thanh trong đêm khuya :

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Những người có nhiều tâm sự thường không ngủ say, đêm khuya chỉ một âm thanh nhỏ cũng dễ dàng đánh thức. “Văng vẳng” là âm thanh từ xa vọng lại, cũng là âm thanh nghe từ trong giấc ngủ. Đáng chú ý là chữ “dồn”. Trống cầm canh đêm khuya là thứ trống giữ nhịp, thay gác, vốn bình thường hết sức, chẳng có gì gọi là dồn hay không dồn. “Dồn” đây là cảm xúc của nhà thơ. Trống canh là tín hiệu thời gian đang thúc giục.

Trơ cái hồng nhan với nước non

“Hồng nhan” là danh từ vốn chỉ vẻ đẹp phụ nữ, rồi chỉ người phụ nữ đẹp một cách trang trọng. Đem ghép chữ “cái” vào thành “cái hồng nhan” làm cho hồng nhan được vật thể hoá, xóa đi màu sắc văn chương, để hiện ra một thiếu phụ cô đơn. “Trơ” đây không chỉ là trơ trọi, cô đơn, mà còn có gì như là vô duyên vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương, đáng giận. Cái tiếng trống thời gian nó đang đánh vào cảm thức cô đơn của nàng. Người phụ nữ đây tỉnh dậy không chỉ thấy mình nằm một mình trơ trọi, mà cảm thấy rõ cái phận hồng nhan vô duyên của mình. “Nước non” là hình ảnh của vũ trụ, của đời, của thế giới. Một số phận dang dở giữa đời.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Chén rượu tình mới thoảng qua, mới có chút say đã hết, lại tỉnh. Vừng trăng chưa tròn đang khuyết mà đã xế. Một cảm giác về sự dở dang, chưa được thỏa mãn đủ đầy trong hai câu thơ. Câu thơ cũng có mơ hồ. Vầng trăng chưa tròn mà đã xế, hay đang khuyết, chưa tròn, đang đợi đến lúc tròn ? Hình như có cả hai. Vầng trăng vừa có thật, vừa tượng trưng.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Đây là cảnh thực của đêm trăng bóng xế mà ánh sáng của nó xiên ngang mặt đất, “đâm toạc chân mây” hay còn là ký ức những đêm tình ái đã qua ? “Xiên ngang”, “đâm toạc” có thể là những từ tả cảnh, nhưng có lẽ đúng hơn là tả tình, chúng gợi nhắc những kỷ niệm, đồng thời là cả khao khát nữa những động tác mạnh mẽ đầy sức sống.

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tý con con.

Thời gian trong bài thơ đâu phải chỉ là một đêm. Đó chỉ là một đêm trong vô vàn đêm, trong năm này qua năm khác. Xuân đi xuân lại lại. Thời gian tuần hoàn. Xuân vẫn đang còn. Nhưng cuộc đời tình ái thì ít ỏi quá. Người ta còn gọi tình người là khối tình, tấm tình, ở đây chỉ gọi là mảnh tình, cái mảnh như là mảnh vỡ, mong manh, không nguyên vẹn. Một mảnh tình đã bé nhỏ đến thế, mà cũng chỉ được “san sẻ tý con con” !…

Cả bài thơ là một nỗi khao khát tình duyên, nỗi than đời bất công, nỗi khao khát ái ân chưa được thỏa mãn, là tình cảnh đáng thương của người phụ nữ dở dang, lẽ mọn, một biểu hiện thương thân của con người cá nhân đã thức tỉnh.

Cái đáng chú ý của bài thơ còn ở chỗ này : Ngày xưa những nỗi khát thèm ái ân, tình duyên, dưới mắt lễ giáo phong kiến được coi là tội lỗi, là cấm kỵ, người khát khao chỉ nên bấm bụng chịu đựng cho đến trót đời. Nhưng Hồ Xuân Hương đã chân thành nói toạc ra tất cả, biến nó thành sự thường tình, đương nhiên. Cái lớn lao trong thơ Hồ Xuân Hương là đem những nhu cầu chính đáng của con người bị xã hội chôn vùi trong cấm kỵ mà nói to lên, xé toạc cấm kỵ, trả về cho đời sống con người.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s