PHAN NGỌC – NGƯỜI SUỐT ĐỜI CHỈ ĐI THEO PHƯƠNG PHÁP CẤU TRÚC

Trần Đình Sử

 Nhắc đến Phan Ngọc có người nói ông là nhà bách khoa, là người biết nhiều ngoại ngữ, người có nhiều công trình sáng giá. Theo tôi, xét theo nét nổi bật nhất, thì ông là người suốt đời kiên trì chỉ theo một phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu gì ông cũng không xa rời chủ nghĩa cấu trúc. Cái điều có vẻ cố chấp ấy là một cá tính khoa học dũng cảm làm nên diện mạo độc đáo có một không hai của ông. Chúng ta biết chủ nghĩa cấu trúc vốn là một bước tiến trong khoa học xã hội sau hơn một thế kỉ chỉ biết có nguyên tắc lịch sử. Chủ nghĩa Mác Lê coi nguyên tắc lịch sử là sinh mệnh, cho nên coi chủ nghĩa cấu trúc như kẻ thù, và cho đến năm 1980, 20 năm sau  trong sách Kí hiệu, nghĩa và phê bình văn học, Hoàng Trinh vẫn tiếp tục phê phán chủ nghĩa cấu trúc, thì sự kiên trì ấy của Phan Ngọc có một ý nghĩa thách thức. Điều thú vị là ông Hoàng Trinh sau khi phê phán xong thì bị chủ nghĩa cấu trúc thuyết phục, ngả sang kí hiệu học, rồi viết sách Từ kí hiệu học đến thi pháp học năm 1992, lại nhờ ông Phan Ngọc, một nhà cấu trúc chủ nghĩa đề tựa!

  Phan Ngọc là nhà nghiên cứu, phê bình thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Ông sinh năm 1925, hơn chúng tôi những 15 tuổi, quê ở Yên Thành, Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng và quan lại nổi tiếng, từ bé đã biết đọc chữ Hán, lớn lên học trường dòng, và có bằng tú tài, rất giỏi tiếng Pháp, biết cả tiếng La Tinh. Ông tự học các tiếng Anh, Nga và một số ngoại ngữ khác và trở thành một học giả uyên bác hiếm có. Sau cách mạng tháng Tám, ông làm sĩ quan phiên dịch trong quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ cho ủy ban đình chiến. Điều đặc biệt là ông không hề học đại học ngày nào, chỉ nhờ tự học mà trở thành một trong những giảng viên đại học đầu tiên thuộc nhiều ngành văn khoa sau năm 1954. Sự thiếu hụt tri thức nền của đào tạo đại học về sau cũng bộc lộ thành những khiếm khuyết chết người của ông trong học thuật.

  Ông bắt đầu nghiên cứu văn học từ  năm 1955 khi vừa sắp 30 tuổi. Ông làm giảng viên Đại học tổng hợp từ những ngày đầu thành lập,  với tư cách là nhà khoa học đa ngành: nhà ngữ học, lí luận văn học, nhà văn hoá học, nhà phiên dịch. Nhưng đáng tiếc, vì được coi là có dính dáng đến vụ Nhân văn – Giai phẩm sau năm 1956, mà sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy của ông phải gián đoạn rất sớm, (Có người bảo, ông bị quy vào nhóm đó, là do ông viết bài phê phán quan niệm văn học tuyên truyền của Trường Chinh trong báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam năm 1948. Hình như ông có nói một câu “phạm thượng”, nếu không phê phán Trường Chinh, thì ông không phải là Phan Ngọc, nghĩa là ông trả giá vì vạ miệng) cho nên từ năm 1960 ông đã bị đình chỉ giảng dạy hơn 20 năm, mãi cho đến năm 1980 ông mới được trở lại nghiên cứu với Viện Đông Nam Á. Suốt thời gian ấy thỉnh thoảng ông mới có cơ hội báo cáo khoa học. Mặc dầu vậy, sự nghiệp văn chương của ông vẫn đồ sộ rất đáng nể.

    Truớc hết về dịch thuật, do ông làm thành viên của tổ phiên dịch của Đại học Tổng hợp, nhiệm vụ chính của ông là dịch theo định mức, cho nên thành tựu trước hết của ông là phiên dịch. Ông đã dịch nhiều công trình kinh điển có  tầm cỡ trên thế giới, thuộc loại khó nhằn, như Mĩ học của Hegel, Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Đạo đức kinh của Lão Tử, Thi pháp văn học Nga cổ của D. Likhachev, Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc của B. Riftin, Hình thái học nghệ thuật của M. Kagan, dịch và diễn giải 1040 bài thơ của Đỗ Phủ, dịch Sử Kí của Tư Mã Thiên, Chuyện làng nho của Ngô Kính Tử, góp phần dịch Chiến tranh và hoà bình của L. Tolstoi, dịch Oliver TwistDavid Copperfield của Dickens, Thần thoại Hy Lạp…Một sức lao động to lớn và bền bỉ đáng khâm phục. Trong lĩnh vực này ông có chủ trương độc đáo. Khi dịch thơ Đỗ Phủ, ông chủ trương không dịch theo nguyên thể, không phân biệt dịch nghĩa dịch thơ, không cần chú thích điển cố, dịch sao cho người đọc hiểu được trực tiếp tình thơ ý thơ là được. Trên thế giới người ta dịch thơ Trung Quốc  đều như thế, chẳng ai kĩ tính như người Việt là dịch theo nguyên thể. Theo tôi đó cũng là một cách làm có lí. Dịch thành thơ luật dĩ nhiên là tốt, nhưng nếu mà ngôn ngữ kém hay thì đâm ra gò bó và dĩ nhiên là khó hay. Có người bác lại, bảo, chẳng qua là ông muốn dịch cho nhanh, cho nhiều, nếu dịch từng bài thơ theo đúng vận luật thì phải mất thời gian, bao giờ cho xong, và vị tất ông đã sở trường dịch thơ. Cứ nhìn ông Nam Trân, Khương Hữu Dụng dịch thơ Đường thì rõ ràng không phải ai cũng làm được. Ông có nhiều sáng kiến dịch, dịch là sáng tạo. Dịch văn xuôi, “Nho lâm ngoại sử” mà dịch thành “Chuyện làng nho” là rất sáng tạo. Không biết là công của Phan Ngọc hay của phụ thân ông là Phan Võ làm việc này? Người non tay sẽ mất thì giờ với mấy chữ “nho lâm”, rồi “ngoại sử”, có khi còn phiên âm nguyên dạng  cho bạn đọc thưởng thức. Nhưng quá coi trọng về lượng nhiều khi không tương xứng về chất, như trường hợp dịch Mĩ học của Hegel là ví dụ.

   Thứ hai, ông uyên bác bởi biết nhiều ngoại ngữ. Có thể tính trong đó có tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng La Tinh, một số tiếng Đông Nam Á như tiếng Mã Lai, Khme…Và mặc dù ông có rất ít thì giờ để nghiên cứu, ông vẫn có một phạm vi nghiên cứu rất rộng, từ ngôn ngữ đến văn học, văn hoá, mĩ học, giáo dục. Ngoài các công trình viết chung với Lê Ngọc Cầu và Phạm Đức Dương về tuồng đồ, tiếp xúc ngôn ngữ Đông Nam Á, cho đến nay tác phẩm của Phan Ngọc chưa xuất bản hết, song nhìn chung có ba mảng lớn. Một là những công trình nghiên cứu hình thức nghệ thuật trong hệ thống phong cách học cấu trúc, gồm cấu trúc của thơ, câu đối, thơ song thất lục bát, thơ Đường, Truyện Kiều, xem Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, … Hai là nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc và khảo sát các nhân cách lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, xem Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học. Bản sắc văn hoá Việt Nam – và cách tiếp cận mới,  Bản sắc văn hoá Việt Nam. …Ba là các công trình gắn liền với tiếng Việt, như Cách sửa lỗi chính tả cho học sinh, Mẹo giải thích từ Hán Việt. Hai quyển này rất dễ hiểu và có những mẹo rất thú vị, không thông minh độc đáo không viết được. Ngoài ra ông còn cho biết có nhiều công trình khác ông đã viết dở dang, chờ được hoàn thiện để xuất bản. Các công trình ấy đều có giá trị khác nhau, chẳng những đem lại tri thức, mà còn đem lại phương pháp nghiên cứu. Đặc biệt cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều còn đem lại cho ông lòng khâm phục và mến mộ của bạn đọc, nó cũng đem lại cho ông Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000. Cuốn sách đã đem lại một loạt những phát hiện mới về nghệ thuật của Truyện Kiều, cách lựa chọn chủ đề, cách miêu tả nhân vật, tiểu thuyết tâm trạng, để nhân vật ngồi một mình, kết cấu theo lối kịch, ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ thiên nhiên, ngôn ngữ thơ của truyện, ngữ pháp thơ trong truyện.  Cách giải thích thơ Đường bằng ngôn ngữ học năm 1995 cũng là một thành công tuyệt vời. Nhờ thế, ông có được vị trí cao trong giới phê bình văn học Việt Nam hiện đại.

     Thứ ba, ông là nhà khoa học có ý thức về phương pháp luận nghiên cứu chặt chẽ, tức là thức nhận về đối tượng và phương pháp nghiên cứu của mình. Điều đặc biệt là suốt đời ông chỉ theo một phương pháp, đó là phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc. Đối tượng nghiên cứu của ông là nội dung của các hình thức, tức là giải mã hình thức, hay ngữ nghĩa học hình thức nghệ thuật. Ông thường gọi phương pháp nghiên cứu của ông là “thao tác luận”, nhưng theo tôi, đó trước hết là một lối nói che mắt, vì để tránh nói ra các nguyên lí ngôn ngữ học cấu trúc, một lí thuyết những năm 60 bị coi là cấm kị.  Ông tự bảo đó là kiểu “bán nồi mà không bán vung”, tức là công bố nội dung mà không cho biết tên gọi. Nhưng cách nói “thao tác” ấy vẫn có lí, bởi vì mọi nghiên cứu đều phải được thao tác hoá để xác định đối tượng, phạm vi, bình diện, thời gian…, đồng thời là cách nói để tránh đi vào bản chất, một cách tiếp cận “phản bản chất chủ nghĩa”. Mặc dù ông không trích dẫn tên ai, song với các thao tác tìm quan hệ, phân xuất, đối lập, lựa chọn, thay thế, tìm độ khúc xạ trong ngữ cảnh thì nó gợi lên trục lựa chọn và trục kết hợp của R. Jakobson, trục ngang, trục dọc của Saussure. Ông cũng sử dụng khái niệm hình thức của hình thức, hình thức của nội dung của nhà ngữ học Louis Hjelmslev. Điều này cho thấy ông không thể che mắt ai được. Ông lại nói, sở dĩ không trích dẫn ai, là để ông tự chịu trách nhiệm đối với mọi ngôn luận của mình. Thực ra không ai có thể làm khoa học một mình được, trích dẫn còn cho thấy ông theo khuynh hướng nào, sử dụng và biến đổi các tư tưởng của người đi trước đến đâu, sự tự thức nhận về phương pháp ở mức độ nào, sòng phẳng đến mức nào. Nếu được trích dẫn đầy đủ vẫn rất tốt. Đối tượng nghiên cứu của ông là nội dụng của hình thức, tức là nghiên cứu ngữ nghĩa học của các hình thức ngôn ngữ, các hình thức văn học như thơ, câu đối, thể song thất lục bát, tu từ học văn học. Nói cách khác là đi tìm sự mã hoá nội dung của chúng. Những gì được mặc nhiên thừa nhận rồi, đối với ông phải đi tìm lại cái nội dung của nó. Chẳng hạn ai cũng thấy thơ Đường là hay, thì ông nghiên cứu vì sao hình thức thơ Đường là hay. Ông nghiên cứu phong cách thơ Đường và tuyên bố trong một bài giảng mà tôi được nghe trực tiếp, trong phạm vi hẹp, phong cách là cấu trúc, là nét bất biến. Tìm phong cách là tìm cái bất biến. Các thao tác đối lập, lựa chọn, tổ hợp, kết hợp quả đã đem đến công cụ để xử lí các quan hệ biểu đạt trong văn bản, giúp cho nhà nghiên cứu có cái nhìn sáng tỏ. Theo tôi, đó là một cách đặt vấn đề đúng đắn và khoa học. Và đó là cơ sở để cho nhiều công trình của ông có được giá trị khoa học đáng kể. Phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc có tầm quan trọng đối với nghiên cứu văn học, mà ở Việt Nam Phan Ngọc hiện vẫn là một trong số  rât hiếm  người thực hành có thành quả, đạt đến những mẫu mực.

   Tuy nhiên một người hầu như suốt đời nghiên cứu bị nhiều hạn chế thì tình trạng đó cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến thành tựu của họ. Phan Ngọc cũng thế. Tác giả Việt kiều Nguyễn Ngọc Giao (1940 – 2003) ôn lại kỉ niệm những ngày Phan Ngọc tham gia báo cáo khoa học ở Paris cho học giả Việt kiều nghe, đã phát biểu:

“Hơn hai mươi năm sống trong thư viện thầm lặng, anh đã thu hoạch một kho tri thức đồ sộ, đặc biệt trong một số lãnh vực khoa học xã hội mà miền Bắc không có, và bị hoàn toàn cô lập với học thuật thế giới. Trong những trước tác được công bố sau 1980, ta gặp đầy ắp những ý kiến độc đáo, những liên tưởng, giả thuyết đầy hứa hẹn. Đáng buồn là vì thiếu vắng không khí khoa học, tự do tranh luận, những ý tưởng mới, những giả thuyết độc đáo không được mổ xẻ, đối chứng… để đi tới những kết luận vững chắc.” (Văn Việt, 10/9/2020). Nói cách khác các giả thuyết khoa học của ông chưa được đề xuất đúng với ý nghĩa và tầm vóc mà nó có thể có, còn những chỗ non yếu, chưa vững chắc.

    Quả thật, suy nghĩ sâu sẽ thấy trong các công trình của Phan Ngọc vẫn còn nhiều khiếm khuyết về lí thuyết và thực hành. Song đôi khi người ta còn băn khoăn, ngôn ngữ và văn học là hai hiện tượng khác nhau. Đối tượng của ngữ học là ngôn ngữ tự nhiên, giao tiếp tự nhiên, mà đối tượng của nghiên cứu văn học là tác phẩm/văn bản, một hiện tượng có phần siêu ngôn ngữ. Đơn vị biểu đạt của ngữ học lớn nhất là câu, đơn vị của văn bản văn học là phát ngôn, là các loại nhân vật, cho nên không đơn giản áp dụng trực tiếp thao tác ngữ học vào văn học được. Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ đã tái mã hoá, không còn là ngôn ngữ tự nhiên. Cho đến nay phần động các nhà ngữ học hình như vẫn còn đồng nhất ngôn ngữ của ngôn ngữ học với ngôn ngữ của văn học với nhau và muốn áp dụng trực tiếp phương pháp ngữ học vào văn học. Nếu trung thành với phong cách học ngữ học thì ông có lẽ không  nên phân tích phương pháp kể chuyện với nhân vật, tâm lí của nó trong Truyện Kiều, vì thiếu nhất quán. Nếu đã phân tích như hiện có thì ông phải mở rộng lí thuyết phong cách học ngôn ngữ của ông để tìm cái chung kí hiệu học của hai loại ngôn ngữ.  Ở đây thiết nghĩ ông đã vận dụng kí hiệu học chủ nghĩa cấu trúc thì đúng hơn. Và người đọc không cần tinh ý lắm cũng thấy mấy chương sau xét về Câu thơ Truyện Kiều, Ngôn ngữ Truyện Kiều, Ngữ pháp Nguyễn Du… tuy là có nhiều phát hiện hay, song chẳng gắn bó gì với mấy chương đầu, mặt khác, mấy chương về ngôn ngữ này có vẻ như có có phần chồng chéo lên nhau. Ông cho rằng nghiên cứu khoa học chỉ cần phương pháp đúng, thao tác đúng, có thể kiểm tra được, ngoài ra một số chí tiết sai cũng không sao. Nhưng thao tác đúng có khi chưa đủ. Ví dụ trong bài Thơ là gì, trước hết phải đối lập thơ với văn xuôi, nhưng ông lại hiểu văn xuôi là thứ lời nói thường, phi nghệ thuật, thì đối lập ấy  đã không ổn ngay từ đầu rồi. Chuyên nhất, đi tận cùng một phương pháp là rất tốt. Nhưng thời của những niềm tin vào đại tự sự đã qua rồi. Giải cấu trúc cũng đang thay thế cấu trúc.  Huống gì nghiên cứu Truyện Kiều, mà xem ra ông Phan Ngọc còn xa lạ với tự sự học, một thành tựu của cấu trúc luận mà ông tâm đắc. Có lẽ vào khi tự sự học phát triển thì ông đã phải tạm thời lánh xa cấu trúc luận để được yên ổn. Cho nên khi báo cáo ở Pháp vào những năm 80, mà ông không đề cập đến tự sự học thì mọi người đã thất vọng nhìn thấy ông rất lạc lõng. Ông lại dùng các thao tác cấu trúc ấy để  xác lập mô hình bản sắc văn hoá Việt Nam với 4 yếu tố bất biến: Tổ Quốc, Gia đình, Thân phận, Diện mạo. Có vẻ như thao tác luận đã thành một phương pháp vạn năng. Nhưng chủ nghĩa cấu trúc đã nghiên cứu nhân chủng học thành công thì ở đây ta cũng nên nhận rằng mô hình ấy có ý nghĩa giúp ta nhìn nhận nhân cách văn hoá của con người. Hầu hết công trình nghiên cứu của ông đều hấp dẫn, nhiều gợi mở và đều có những chỗ gây tranh cãi. Ông thường nói, làm khoa học, chỉ cần có thao tác đúng, còn kết quả có thể có khuyết điểm, vì ai mà chẳng có khuyết điểm.  Đúng là chẳng ai tránh được khuyết điểm, song đã là khoa học thì phải kín kẽ cả trong thao tác lẫn trong phân tích dẫn chứng, bởi vi chân lí khoa học bao giờ cũng thách thức những tri thức đã biết và buộc người ta phải thay đổi nhận thức và tất yếu gây tranh cãi. Vì thế, gây tranh cãi cũng là một điều hấp dẫn của khoa học. Tất nhiên ở đây có cả điều tranh cãi vì ông có chỗ chưa kín kẽ. Phải chăng vì mưu sinh và bị hạn chế mà ông thiếu thời gian để có thể đạt tới nhất quán và hoàn thiện hay vì cố chấp?   Thời còn là sinh viên tôi đã nghe tiếng ông và hâm mộ ông, đã tìm cách tiếp cận ông, nhưng cái thời đấu tranh tư tưởng những năm 60 ấy, tôi không được tiếp cận. Có lần tôi đề nghị bà  Phan Thanh Cam, tức nữ sĩ Mai Hương, chị ruột của Phan Ngọc giới thiệu cho tôi đến thăm ông, và đã bị bà mắng át đi, bảo mi muốn rắc rối hay sao? Mãi đến những năm 80, khi tôi đã có bài đăng báo, xin đến gặp ông, ông rất vui vẻ, cởi mở, chia sẻ những ý tưởng khoa học mới của mình. Trong sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, tuy không trích dẫn ai, song ông đã dẫn tôi và có phần tranh luận với tôi rất thú vị.

    Trong gần 30 năm công việc phiên dịch với định mức sản phẩm dịch thuật đã tước mất của ông thời gian nghiên cứu. Sau này có dịp, ông tâm sự, ông chẳng thích thú gì khi dịch nhưng công trình hay cho những kẻ không xứng đáng đọc, thì mất công nhiều làm gì. Tâm lí tiêu cực ấy hẳn có ảnh hưởng đến chất lượng dịch thuật của ông. Ông quên rằng độc giả của ông rất đông, không giới hạn với mấy kẻ mà ông không thích. Có người thấy ông làm việc, hai mắt chăm chăm nhìn vào sách, hai tay lia lịa đánh máy, không có thì giờ dừng lại tra cứu, thì sự phiên phiến, sai sót là khó tránh. Sự tước bỏ quyền được công bố tác phẩm và giảng dạy cũng khiến cho ông không vội hoàn thành các nghiên cứu, khiến chúng dang dở. Từ 1960 đến 1965 ông chỉ hoàn thành bản thảo cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Có lẽ đó là niềm đam mê không dừng lại được. Phải từ năm 1980 khi ông 55 tuổi, mới được mời làm chuyên viên cao cấp cho Viện nghiên cứu Đông Nam Á, ông mới trở lại với các đề tài nghiên cúu nhiều mặt của mình. Đến lúc này thì công việc lại nhiều quá, ông làm không xuể. Mãi đến đầu những năm 80, trong không khí ngày càng cởi mở về tư tưởng và văn nghệ của đất nước, ông mới dần dần có dịp cho ra mắt bạn đọc nhiều công trình khoa học. Đọc các sách của ông, dù có thể có điểm có thể gây tranh cãi, song cũng có nhiều bài thuộc hàng kiệt tác, ví như bài Cái hay của thơ Đường và nhiều chương trong cuốn sách về phong cách Nguyễn Du. Người đọc luôn cảm thấy được một vốn tri thức nhiều mặt rất uyên bác hiển hiện trên từng trang giấy.

Không phải tất cả mọi người đều yêu mến và đồng cảm hết với những gì ông viết. Bởi công trình của ông cũng có không ít những chỗ nhầm lẫn hay quá lời. Ví dụ ông giới thiệu Lưu Hiệp trên Tạp chí Văn học nước ngoài, mà sử dụng tư liệu tiểu sử Lưu Hiệp quá cũ, lại cho ông theo Đạo gia, mà thực ông theo nho gia. Điều này Nguyễn Khắc Phi đã chỉ ra.  Khi giúp học giả Đào Duy Anh chỉnh lí Từ điển Truyện Kiều, ông đưa thêm tiếng Khmer vào, khiến các nhà ngữ học phản ứng, ông An Chi đã phê phán trong sách Tiếng trống trước của nhà sấm. Hay như dịch Mĩ học của Hegel cũng có ý kiến của nhà văn Phạm Thị Hoài cho là chưa đạt, nhiều chỗ tuỳ tiện thêm, bớt sai lệch, cẩu thả, đoán mò, và “gần như toàn bộ bản dịch đều sai cả”(Sấm Hegel, 2002). Tôi thử đem đối chiếu bản dịch Mĩ học tập I của Phan Ngọc năm 1999 với bản dịch Mĩ học tập I của Chu Quang Tiềm bằng tiếng Trung năm 1958, thì quả thật, Phan Ngọc đã có rất nhiều tùy tiện trong diễn đạt. Ví dụ, Cái đẹp tự nhiên thì Phan dịch thành cái đẹp trong tự nhiên, tính khách quan  hoàn toàn ngoại tại thì ông dịch thành Tính khách thể thuần túy bề ngoài, Đời sống nội tâm chưa được biểu hiện thì ông dịch thành Thế giới bên trong chưa được phát triển, Tưởng tượng thì ông dịch thành hư cấu. Rõ ràng các khái niệm bị ông dịch chệch hẳn nguyên tác. Cái đẹp tự nhiên là phạm trù phân biệt với cái đẹp nghệ thuật, không thể thêm chữ “trong” vào đây được. Tính khách quan và tính khách thể không thể thay thế cho nhau, chưa được biểu hiện và chưa phát triển, tưởng tượng và hư cấu tuy có chỗ gần nhau nhưng rất khác nhau, không thể đánh tráo cho nhau. So sánh diễn đạt của Chu Quang Tiềm với diễn đạt của Phan Ngọc dễ dàng thấy ngay được văn ông Tiềm chặt chẽ, logich, còn văn ông Ngọc dài dòng, luộm thuộm. Có thể nói rằng nhận xét của Phạm Thị Hoài rất khách quan. Quả là một sự thật đáng buồn, và tôi có thể nói rằng, cuốn sách này chỉ có thể đọc qua cho biết, còn không thể sử dụng vào nghiên cứu khoa học được vì không chặt chẽ về khái niệm và thuật ngữ. Tôi nghĩ vì sao lại có được các lỗi như thế? Vì vội, vì chủ quan, vì coi thường người đọc, vì kém ngoại ngữ?  Đều không phải. Có lẽ lỗi do ông không xem sự khác biệt về thuật ngữ và khái niệm có một ý nghĩa nguyên tắc, không thể lẫn lộn. Ông chỉ hiểu chúng phương phưởng. Xem bài trả lời của ông Phan Ngọc đối với nhà văn Phạm Thị Hoài, thì nữ nhà văn cũng có chỗ bất cập, nói quá. Nhưng trả lời người phê bình bằng cách vạch lỗi của đối phương không phải là cách trả lời nghiêm chỉnh của một dịch giả khi bị phê bình. Từ điểm này mà suy ra thì rất có thể các bản dịch sách tiếng Nga khác của ông đều có vấn đề chất lượng dịch thuật. Ngay như cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều được rất nhiều người tôn vinh, theo nhận xét của tôi, cũng có không ít chỗ, nhiều nội dung lập luận chưa chặt chẽ.(Xem: Phan Ngọc và thi pháp Truyện Kiều, trong sách Trần Đình Sử Lí luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1996, tr. 310 – 324) . Đó là chưa kể trong sách còn chứa những lời đề cao thi văn của các lãnh đạo, dù động cơ là gì, nghe vẫn chối tai. Tôi nhớ hồi ấy, ông dịch Mĩ học Hegel chỉ để in rônêô mà thôi, nghĩa là lưu hành tham khảo nội bộ, không công bố chính thức, cho nên dịch giả có thể không yêu cầu cao. Ông đủ ngoại ngữ để đọc, có đủ  tài liệu để tra cứu, có lẽ chỉ thiếu thời gian để dừng lại tra cứu, đối chiếu nhằm tìm cách dịch thoả đáng. Sau này có điều kiện xuất bản thì dịch giả đã cao niên, không còn sức lực để nâng cao chất lượng bản dịch cũ được nữa. Hay như bản dịch Thi pháp văn học Nga cổ hoàn toàn thiếu vắng các dẫn chứng bằng tiếng Slavo cổ, ngôn ngữ nhà thờ Nga cổ mà ở Việt Nam rất ít người biết để bổ khuyết. Đây là điều bất khả kháng. Nói thế để không nhằm biện hộ, mà cũng không nên vì thế mà phủ nhận sạch trơn các công trình dịch thuật và biên soạn của ông, mà chỉ để hiểu môi trường làm việc của ông và sức lực của mỗi người là rất có hạn. Ông Phan Ngọc thường nói với bọn trẻ chúng tôi, điều chủ yếu là cách đặt vấn đề và phương pháp làm việc, còn trong sự thể hiện khó tránh khỏi có một số chi tiết thiếu chính xác, gây tranh cãi, đó chỉ là cái phụ. Vả lại đây là công trình của một người, quan điểm của một người, đâu phải là chân lí duy nhất. Nói thế là ông đã có ý dễ dãi rồi. Tôi không nghĩ thế, theo tôi người nghiên cứu nên cố gắng đạt đến chính xác tối đa, không được thì đành chịu vậy.

Nói tới Phan Ngọc không thể không nói đến phong cách của ông, một phong cách phản ánh cá tính và đặc điểm của thời đại mà ông sống.

Điều đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Phan Ngọc không hề khô khan. Ông là người có lối viết độc đáo, hấp dẫn. Đọc văn ông người ta có cái thú được trò chuyện với một người sẵn sàng bộc lộ niềm say mê khoa học, cởi mở xẻ chia những tìm tòi thức nhận mới của mình. Ông thường tự cho mình là người hay nói những điều khó nghe, nghịch nhĩ. Ý nói là ông chỉ nêu những điều mới mẻ khác thường. Đó là cảm giác hình thành từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước, song bây gìơ chưa hẳn đã hết nghịch nhĩ đối với một số người. Điều ấy cho thấy Phan Ngọc là người thích thách thức và đối thoại. Một đặc điểm nữa là văn ông thường không hề trích dẫn một ai, không mấy khi chú thích xuất xứ dẫn liệu. Và để gây chú ý ông cũng có nhiều chỗ khoa trương, cường điệu, bốc đồng, nhiều rào đón, uốn éo. Nhưng biết làm sao được? Con người trước hết phải tồn tại. Điều đáng quý là ở Việt Nam chỉ có mình ông  đi theo phương pháp ngữ học cấu trúc, và ai quan tâm, khi đụng đến vấn đề này có thể tham khảo ở Phan Ngọc.

  Hà Nội, 2007 – 2021

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s