QUA ĐÈO NGANG và hai bài thơ khác của BÀ HUYỆN THANH QUAN

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan (Nguyễn Thị Hinh) thuộc vào số tác giả để lại tác phẩm không nhiều, nhưng gây được mối cảm tình nồng thắm nơi bạn đọc. Những ai đọc thơ bà đều cảm thấy một điệu thơ êm ái, ngọt ngào, một nỗi buồn cô đơn, lặng lẽ ám ảnh trong tâm hồn. Bài Qua Đèo Ngang này đúng như vậy.

Về mặt thanh luật, bài thơ làm đúng theo luật thơ Đường thất ngôn bát cú thể trắc. Cả bài chỉ có ba chữ “cỏ”, “chen”, “ta” là không theo sát luật chuẩn, nhưng được luật “nhất, tam, ngũ bất luận” cho phép. Điều đáng chú ý là mấy chữ không theo sát đó lại nằm trong dụng ý của tác giả là tăng thêm thanh bằng cho bài thơ được thêm êm ái, và tạo nên sự lặp từ tự nhiên : “chen đá, lá chen hoa” và “ta với ta“.

Xét về mặt tả cảnh, bài thơ cực tả cảnh chiều tà hoang vắng, cô độc để thể hiện một niềm cô trung, nhớ tiếc kín đáo của nhà thơ.

Bài thơ mở đầu bằng cảnh “bóng xế tà” nơi đèo cao heo hút. Bóng xế tà – cụm từ kết hợp vừa Nôm vừa Hán – chữ tà như kéo dài cái bóng chiều ra cho tình cảm thêm ngao ngán, bâng khuâng. Cảnh chiều tà, lạc nhật, tịch dương, tà dương trong thơ cổ thường xuất hiện rất nhiều và gợi niềm hoài nhớ về một triều đại cũ, non nước cũ, cố quốc, cố hương, cố tri.

Cảnh “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”, tuy có cỏ cây hoa lá, nhưng hẳn không phải cảnh đẹp bởi vì sự “chen đá”, “chen hoa”, gợi vẻ um tùm, hoang dại, vô trật tự, chen lấn, lại không sắc hương, đường nét.

Hình ảnh mấy chú tiều phu “lom khom” mải mốt hái củi dưới núi, như chẳng quan tâm gì thế sự, còn “lác đác” mấy túp lều chợ (có sách chép là rợ – đồng bào thiểu số ; có lẽ đây là mấy túp lều tạm che mưa, nắng của kẻ tiều phu, không phải lều chợ), gây nên cảm giác vừa hoang vắng, vừa xa lạ. Đây đúng là nơi sơn cùng thủy tận của xứ Đàng Ngoài thời vua Lê, chúa Trịnh. Từ đây trở vào đã là xứ khác.

Chính lúc ấy vẳng lên tiếng con chim cuốc kêu buồn nghe như vua Thục Đế xưa khóc nước cũ cố quốc:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Ở đây, đúng ra phải viết là “con cuốc cuốc”, con chim cuốc kêu “cuốc cuốc”. Nhưng người nghe lại nghe là “quốc quốc” nên chép là “quốc”, như đang khóc nước, một trường hợp “tá âm” – mượn âm trong văn chương khá phổ biến. Trần Danh Án, một di thần nhà Lê có câu : “Giá cô kêu gia gia, Đỗ quyên kêu quốc quốc” (lời dịch).

Chim đa đa (giá cô) được đọc chệch thành “gia gia” cho đối với “quốc quốc” và hợp cảnh nhớ nhà ; và tiếng kêu “mỏi miệng” mà vô ích mới đáng thương làm sao. Đây là tiếng chim kêu khi chiều xuống hay tiếng lòng thương nhớ réo gào trong tâm hồn Bà Huyện ? Thật khó mà phân biệt, khi con người đang đứng trên đường phân chia xưa kia của hai xứ.

Dừng chân đứng lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Một phút dừng chân lại nhìn trời, nhìn non, nhìn nước, như một động tác chào từ biệt, một cử chỉ phơi trải tấm lòng. Còn bảy chữ trong câu kết là một lời cảm thán, chữ nào cũng mang nặng một niềm đơn chiếc mà không có ai chia sẻ. “Một mảnh tình” không giống với một tấm tình, bởi nó thiếu nguyên vẹn, như bị cắt xé ra, và cũng có ý tự khiêm nữa. Lại là “tình riêng”, tình cá nhân của tác giả, tình nhớ triều xưa, hẳn không giống với tình số đông đương thời. “Ta với ta” nghĩa là chỉ ta mới hiểu ta ; mà như vậy càng tăng thêm cảm giác về sự cô độc.

Bầu trời, ngọn núi, bờ biển càng gợi ra một không gian bao la, cao rộng bao nhiêu, lại càng tương phản với mảnh tình bé nhỏ, đơn chiếc bấy nhiêu. Hai câu thơ mà rất nhiều ý. Nhưng cái buồn thầm lặng mà vẫn cứng cỏi. Phải chăng đây là nét đặc trưng của nỗi buồn xưa, nỗi buồn trước cảnh non sông biến đổi, triều đại hưng phế, nhưng tình riêng vẫn còn “bất biến” với chính mình ?

Qua Đèo Ngang đâu phải giản đơn là vượt qua một con đèo, một địa danh, địa giới. Qua Đèo Ngang còn là vượt qua một triều đại, vượt lên chính mình. Cái tên Đèo Ngang đối với Bà Huyện có thể có chút ý vị ngang trái nào đó. Đạo đức phong kiến không chấp nhận một thần dân có thể thờ hai vua, hai triều đại, nhưng triều đại mới vẫn cần sự cộng tác của các thần dân triều đại cũ. Bà Huyện sinh vào thời Nguyễn, chồng bà cũng làm quan thời Nguyễn. Nhưng vốn người gốc Thăng Long Bắc Hà thì lòng lưu luyến triều xưa của nhà Lê còn nặng. Qua Đèo Ngang thời ấy có nghĩa là rời bỏ đất cũ, vào theo chúa mới, đất mới. Điều làm cho bà không hổ thẹn là bà vẫn không thôi thương tiếc cựu triều.

Bài thơ thật êm ái, tha thiết. Cảnh sắc Đèo Ngang được miêu tả bằng những đường nét tiêu biểu của cảnh thực, lại vừa tiêu biểu cho nỗi lòng. Thơ bà Thanh Quan hay về âm điệu réo rắt, tha thiết, lại có vẻ đẹp trau chuốt sắp đặt, cao quý trang nhã, mang đậm hồn cổ điển.

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

(BÀ HUYỆN THANH QUAN)

Thơ Bà Huyện Thanh Quan là thơ của những nỗi niềm nhớ thương hoài cổ, cô độc. Chất liệu trong thơ bà có khi không có gì độc đáo, mới mẻ, nhưng đọc lên cứ vương vấn mãi trong tâm hồn. Bài Chiều hôm nhớ nhà là như vậy.

Nhan đề bài thơ có nơi chép là Cảnh chiều hôm rõ là không sát. Ông Hư Chu và ông Quách Tấn chê nhan đề Chiều hôm nhớ nhà cũng không sát, vì theo ông Quách Tấn hai chủ đề của bài thơ là “giữa đường xa” và “ngày sắp hết” (Thi pháp thơ Đường). Và do vậy, ông đề nghị đặt nhan đề lại là Đường chiều. Nhưng xét ra cả hai ông đều có lý, nhưng lại không thấy rõ nỗi nhớ nhà hàm ẩn trong cả bài thơ. Cho nên lấy nhan đề Chiều hôm nhớ nhà vẫn đúng.

Tình cảm gia đình và sự cám cảnh cô đơn của người lữ thứ xuyên thấm toàn bài.

Mở đầu là cảnh chiều xuống, bóng hoàng hôn nhập nhoạng :

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.

Nhưng đáng chú ý là âm thanh của tiếng tù và và tiếng trống thu không. Những âm thanh không chỉ báo hiệu thời khắc chuyển canh, ngày tàn, mà còn báo hiệu thời giờ nghỉ ngơi đoàn tụ gia đình mỗi ngày đã bắt đầu. Đáng chú ý nữa là những âm thanh kia vọng từ những nơi xa xăm – xa đưa. Có bản chép “vẳng trống đồn”. Khoảng cách ấy cho thấy người lữ thứ đang ở giữa độ đường, cách xa làng mạc, huyện trấn.

Ý niệm về nhà thể hiện trong cảnh ngư ông và mục tử :

Gác mái ngư ông về viễn phố,

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

“Gác mái” là gác mái chèo, không chèo nữa, ông chài (ngư ông) thảnh thơi để cho con thuyền từ từ trôi về bến xa, không một chút vội vã. Chú mục đồng (mục tử) cũng vừa “gõ sừng” trâu mà hát nghêu ngao trên đường về nhà. Đó là cảnh hạnh phúc của những người sống trên quê mình vào thời khắc nghỉ việc. Đó cũng là nỗi khát khao thầm kín của kẻ xa nhà.

Người lữ thứ thì mỏi mệt, không biết bao giờ mới về kịp nhà mình. Cảnh đường xa, trời chiều làm bước chân người thêm nặng trĩu :

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Cả hai câu thơ tràn đầy chướng ngại và trắc trở. Ngàn mai là rừng cây mai nhỏ, mềm, bị gió cuốn nghiêng ngả đã đáng thương mà con chim kia lìa đàn phải bay trong gió ấy cơ hồ mỏi rã cánh. Con đường liễu yếu lại chịu cảnh sương sa, xa tắp ấy người phải dồn bước để vượt qua ! Cả hai câu thơ cũng chứa đầy sự yếu đuối, mỏi mệt của những khách nhỡ đường ! Hai câu thơ không nói trực tiếp tới sự nhớ nhà, mà nỗi nhớ nhà trĩu nặng trong cánh chim và bước chân dồn dập.

Cuối cùng thì nỗi nhớ nhà được thốt lên trong lời kết :

Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

“Chương Đài” đây là phố Chương Đài ở Tràng An đời Đường, nơi Liễu thị kết duyên với Hàn Hoành. Sau Hàn Hoành về thăm quê, rồi Tràng An có biến, thế là hai người cách xa. Chương Đài đây tất nhiên không phải là địa danh đời Đường, mà chỉ là điển cố chỉ nơi ở của nhà thơ, cũng tức là của người khách, là nơi ở nhà nơi phố thị ấm áp, còn người lữ thứ thì đang ở trên đường tha hương cách trở, không cách gì chia sẻ ấm lạnh với nhau được !

Nhớ nhà vì cách xa. Cả bài thơ đầy ắp không gian cách xa. Câu nào cũng hàm ý không gian cách xa : xa đưa, viễn phố, cô thôn, ngàn mai, dặm liễu, kẻ Chương Đài, người lữ thứ làm cho người lữ thứ càng thêm cô đơn lạnh lẽo. Sự đối lập quê mình và quê người cũng tăng thêm không gian cách xa trong tình cảm. Thời điểm trời chiều làm cho cảm xúc cách xa và mong nhớ càng thêm da diết.

Nhưng nhớ nhà chỉ là một biểu hiện bề ngoài – trong sâu thẳm của bài thơ là tình cảm thương thân tha thiết : thương mình nhỡ nhàng, thương mình xa lạ, thương mình yếu đuối, thương mình cô đơn. Không gian càng bao la, hình bóng con người càng nhỏ bé, đơn chiếc. Chính tình cảm thương thân đã khiến cho bài thơ được đồng cảm lâu dài.

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

(BÀ HUYỆN THANH QUAN)

Hoài cổ là nét tình cảm rất đặc trưng của thơ trung đại Trung Quốc và Việt Nam. Biết bao nhiêu nhà thơ lấy hoài cổ làm đề tài. Bởi lòng người gắn bó với những giá trị đã mất, mà đối với quá khứ người ta không làm đổi thay được gì ngoài chút lòng hoài niệm. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm (Hà Nội ngày nay), chồng bà là người làng Nguyệt Áng (cũng thuộc Hà Nội ngày nay), nhưng làm quan ở huyện Thanh Quan (Thái Bình). Bà sinh ra trong thời Nguyễn nhưng do quê Bắc Hà mà lòng lưu luyến đế đô không bao giờ nguôi. Thăng Long là đất đế đô từ đời Lý, đến thời Lê – Trịnh lại càng lộng lẫy, nguy nga. Theo sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án cho biết chúa Trịnh có hành cung gọi là Bắc cung, có ao Long Trì, ngày lễ tiết trang hoàng lộng lẫy, ăn chơi xa xỉ. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút còn cho biết chúa Trịnh Sâm thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự ở các ly cung trên Tây Hồ. Đình đài xây dựng liên tục. Chúa ra cung Thụy Liên trên Tây Hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ… Cảnh tượng thật là xa xỉ. Cảnh hành cung dãi dầu gợi cho Bà Huyện cảm xúc về hưng phế, tang thương.

Bài thơ này mở đầu bằng câu hỏi :

Tạo hóa gây chi cuộc hý trường ?

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

Tạo hóa được coi là đứa trẻ, thì cuộc đời là trò chơi, sân chơi của nó, đến nay đã bao nhiêu năm. Thời gian trôi nhanh trong hai chữ “thấm thoắt”. Quá khứ phồn hoa, huy hoàng nay chỉ còn trong dấu tích :

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Cỏ đã mọc trên lối xưa xe ngựa đi về và nền cũ lâu đài chỉ còn bóng nắng chiều soi  tới. Hồn và bóng lờ mờ hư ảo trong tâm tưởng. Khung cảnh hư ảo chi nhìn ra trong tưởng tượng.

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa rất khéo nói về nỗi đau trước bao nhiêu biến đổi. Đá cứng chai lỳ chịu đựng, còn nước gợn sóng như cau mặt. Nếu hai câu trên nói về cảnh thì hai câu này đã nói tới lòng người chịu đựng, phản ứng yếu đuối :

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Sự đổi thay trong “mấy tinh sương” cũng là bóng hình đổi thay theo gương cũ và sự đau lòng đứt ruột cũng có ý vị muôn thuở. Xét về ý nghĩa bài thơ mới đọc thấy không có gì thật mới mẻ, đột xuất, song bài thơ được lưu truyền rộng rãi, hầu như ai cũng thuộc. Nét độc đáo của nó có thể là mấy điểm sau :

Đó là vì bài thơ thể hiện tập trung cảm giác buồn đau trước mọi biến đổi làm tiêu tan các giá trị đời sống. Khác với bài Chiều hôm nhớ nhà đầy ắp cảm giác không gian, bài thơ này đầy ắp cảm giác thời gian, câu nào cũng có dấu hiệu thời gian. Hình bóng quá khứ hiện hình trong hư ảnh gợi niềm thương cảm. Còn thời gian là một cỗ máy biến dịch tàn nhẫn đối với mọi sự nghiệp. Nó chứng tỏ nhà thơ thật nặng lòng với quá khứ, nặng lòng với triều đại nhà Lê đã qua, một triều đại từng có nhiều công nghiệp rực rỡ, huy hoàng.

Điều thứ hai là bài thơ đạt đến mức độ trau chuốt một cách cổ điển. Từ ngữ phần nhiều trang nhã, hai chữ cuối mỗi câu đều là từ Hán Việt, gợi những nét nghĩa cao quý mơ hồ. Điểm thứ ba là âm điệu du dương, niêm luật tề chỉnh, réo rắt, cứ ngân nga mãi lên trong tâm trí, tạo thành khúc nhạc của u hoài.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s