TÁC GIẢ VÀ KIỂU TÁC GIẢ (2)

II. CÁC BÌNH DIỆN CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ

Tác giả được hiểu như là một ý thức, một thái độ đạo đức về đời sống, mọt giọng điệu  thì sự biểu hiện của hình tượng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang được nghiên cứu. Phương pháp luận phân tích tác giả vẫn còn chưa thật rõ rang. Thể loại chân dung văn học rất thịnh hành hơn cả thế kỉ nay ở Việt Nam và trên thế giới thường thiên về viết tác giả tiểu sử, đôi khi có đá một vài đặc điểm thuộc cá tính nhà văn, thì vẫn là con người ở ngoài tác tác phẩm. Ít có chân dung  văn học khám phá được hình tượng tác giả mà thi pháp học đề cập. Trong phạm vi thi pháp học có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ở phương diện ngôn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong !ập trưởng đời sống, đến giọng điệu lời văn. Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu người trần thuật mà cả trong giọng điệu của nhân vật. Có người tập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian thời- gian, cấu trúc,  truyện kể, nhân vật và giọng điệu. Theo chúng tôi thì hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả, có sự hình dung của tác giả đối với chính mình.

2.1. Cái nhìn nghệ thuật.

Cái nhìn là một năng lực tinh thần chủ quan đặc biệt của con người, nó có thể thậm nhập vào sự  vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật. Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn. M.Khrápchencô nhận xét: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ”[1]. Dù đối với nghệ thuật dân gian, thần thoại, tính cá nhân có đổi thay nhất định, thì cái nhìn là một điều kiện quyết định. Nhà văn Pháp Marcel Proust có nói: “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn”. Do vậy cái nhìn, và qua đó, cách nhìn, là một biểu hiện của tác giả. Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, cách quan sát, cái ấn tượng, do đó nó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi … Cái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian và bị không gian thời gian chi phối. Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét. Cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, đối sánh … Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặt bên nhau, hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng. Điều chủ yếu, cái nhìn cs khả năng phát hiện giá trị và ý nghĩa của sự vật.

Cái nhìn có thể xét ở hai phương diện. Một là điểm nhìn của người trần thuật và nhân vật, và hai là cái nhìn thể hiện trong chi tiết khách thể, nơi cái nhìn hướng đến. Cái nhìn như là điểm nhìn, xin xem ở tự sự học. Tự sự học đã xét điển toàn tri, hạn trị, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, nhìn xa, nhìn gần…Ở đây chỉ nói về hệ thống chi tiết. Cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn. Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã bước vào cái phạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà họ chú ý: Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia, tức là ta đã nhận ra con người nghệ sĩ của tác giả. Cái nhìn của nhà văn có thể biểu hiện trong các loại đồ vật mà họ am hiểu và quan tâm. Ví dụ trong Hồng Lâu Mộng phần do Tào Tuyết Cần viết, gồm 80 hồi đầu, (40 hồi sau do Cao Ngạc viết), đã thể hiện một sự am hiểu về các thứ tơ lụa, vải vóc, các kiểu và bộ phận của trang phục, một lĩnh vực mà người thường không sao hiểu hết. Cái nhìn có thể thiên về âm thanh, mùi vị,  màu sắc, cảm giác. Sự thống kê các từ về màu sắc được sử dụng trong văn của các tác giả cho thấy cái nhìn của tác giả khác nhau rất nhiều. Thanh Tâm tài nhân trong Kim Vân Kiều truyện miêu tả phụ nữ hoàn toàn không có mùi hương, trái lại, Nguyễn Du trong Truyện Kiều các nhân vật nữ như Kiều, Đạm Tiên thường đi tới đâu là mang theo mùi hương đến đó. Cái nhìn tác giả còn thể hiện trong hệ thống ngôn từ. Từ ngữ có thể ví như những xúc tu, nó không chỉ gọi tên sự vật, mà còn nói lên cảm giác của tác giả đối với đời sống. Như thế cái nhìn tác giả tuy trừu tượng nhưng vẫn có dấu tích để phân tích, cảm nhận.

Nhà lí thuyết Nga B.Uspenski nhận xét: “Đặc điểm của người kể chuyện ngôi thứ ba trong Chiến tranh và hòa bình là một người thông minh, nhạy cảm, có tình cảm yêu ghét riêng, có kinh lịch riêng, đồng thời  như  mọi người, nó cũng bị hạn chế của năng lực nhận thức nội tại”[2].. Khi ông miêu tả nhân vật, ông phân biệt rạch ròi cái tốt và cái xấu. Ví dụ Êlen quyến rũ nhưng biết kiềm chế, trang nhã và khó lòng chê trách, nhưng ông ghét sự khéo léo, ghét cái vẻ đẹp như làm bằng sáp của cô. Tác giả kể thành thực như  tin rằng mọi người đọc đều nhất trí với ông. Trong trần thuật ông dùng cách nói “Mọi người trong nhà  dường như nhận ra chàng”, “nàng dường như giật mình vì lời của chàng”, làm cho người kể chuyện ngôi thứ ba của ông có xu thế nhập vào ngôi thứ nhất, ngôi thứ nhất hiện diện trong đó, chứng tỏ tác  giả nhìn vào trong nhân vật.

Trong khi miêu tả buổi tiếp khách sang trọng tại nhà bà Anna Shere, tình cảm yêu ghét làm tác giả (người kể chuyện) đối lập Anna với khách khứa của bà; đối lập Pier và Curaghin, đối lập  Curaghin với lão công tước, đối lập Natasa với Xônhia, Vêra; đối lập Natasa với Elen … đó là đối lập giữa chân thực và giả dối, tự nhiên và kiểu cách, đầy đặn và trống rỗng, cao thượng và đê tiện. Sự đối lập trên thể hiện hình tượng đạo đức thẩm mỹ của nhà văn. . .

Cái nhìn của Tolstoi là một cái nhìn phân tích lý trí. Điều này thể hiện ở câu văn trần thuật đầy câu phụ, câu điều kiện, câu rào đón. Ngay khi nhập vào nhân vật, ông cũng không đồng nhất với nhân vật, mà dùng hình thức “dường như”, mà “dường như” là sự suy đoán bên ngoài.

Cái nhìn của Tolstoi thể hiện trong nhân vật. Ông tả Napoleon với nhiều đặc điểm chân thật, nhưng ông gia tăng phần đê tiện mà xóa mờ bớt phần tài năng. Ông là một kẻ chống Napoleon. Tolstoi là người thích các biểu hiện cao cả, trong sáng của tâm hồn, như tâm hồn Anđrây sau lần bị thương thứ nhất, tâm hồn Natasa sau sự kiện với Anatol, chủ nghĩa anh hùng vui vẻ của tiểu đoàn Raévski … Do vậy ông phản cảm với những biểu hiện xác thịt như bộ ngực đầy lông lá của Napoleon, đôi vai trần của Êlena.

Tìm tác giả trong cái nhìn của tác giả, chúng tôi cũng lưu ý cái cách mà Nguyễn Du, để cho các nhân vật tự xưng với nhau: “Trách lòng hờ hững với lòng…”, “Lấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng“. Những kẻ bạc ác thậm chí cũng lấy lòng mà xưng hô với nhau. Mụ Tú Bà nói “Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao?” Đó là cách xưng hô kiểu nhân vật Nguyễn Du. Nguyễn Du cũng nhìn thấy qua chữ “ai” những con người cá thể bình thường, bình đẳng đầy nhân tính (Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang, Tấm lòng ân ái ai ai cũng lòng: Ông nhìn con người như những giá trị mong manh dễ hư nát qua từ “chút”: “Đôi ta chút nghĩa đèo bòng”, “Chữ trinh còn một chút này”,“Thưa rằng chút phận ngây thơ”,” Được rày nhờ chút thơm rơi”, “Rằng tôi bèo bọt chút thân”… Có thể nói Nguyễn Du hiện diện qua những từ ngữ độc đáo chỉ riêng ông sử dụng có hệ thống. [3] (Xem thêm Thi pháp truyện Kiều).

Cái nhìn nghệ thuật cũng thể hiện ở cấu trúc nhân vật truyện kể. Nhà nghiên cứu văn học  Lã Nguyên trong bài tiểu luận Nguyễn Tuân nhà văn của hình dung từ đã khám phá ra bản chất nghệ sĩ của Nguyễn Tuân ở trong sự đam mê kì nhân, kì sự, kì vật, kì thú, kì quan. Nếu các nhà văn hiện thực phát hiện ra con người dưới đáy thì Nguyễn Tuân là người phát hiện ra con người bên lề, con người ngoại biên.  Ông thích giang hồ, xê dịch là vì không chịu nổi những gì đã thành khuôn phép ,đông cứng,mất đi sự linh động. Trong sáng tác của ông, chỉ ở thế giới bên lề mới có các bậc kì nhân, kì tài, những người chí thành, chí tình, mới diễn ra những chuyện kì duyên, kì ngộ. Quan trọng hơn, chỉ khi nào phiêu dạt sang bên lề, ra ngoại biên, sáng tạo nghệ thuật mới tìm thấy sự kì thú để thăng hoa.”[4]  Sau năm 1945 ông chuyển từ truyện kể kì nhân sang kì quan, truyện kể về cảnh vật, con người., bởi loại truyện này hợp với cái gu của ông là nghệ sĩ của hình dung từ. vì ở đây nhà văn lại được miêu tả “kì địa, kì phong, kì thuỷ, kì thanh, kì sắc, kì hình, tuyệt đỉnh, tuyệt vời, tuyệt mĩ…”Khi chuyển sang kể về tù binh  giặc lái Mĩ ông lại chuyển truyện kể sang đề tài “quái nhân”, một loại người được ông phóng túng tạo ra vô vàn tên gọi và hình dung từ mới.Nghiên cứu hệ thống truyện kể cũng cho ta hình tượng của một tác giả của nha văn.

2.2.. Giọng điệu

Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm. Nếu như trong đời sống ta thường chỉ nghe giọng nói là nhận ra con người, thì trong văn học cũng vậy. Giọng điệu giúp nhận ra tác giả. Có điều giọng điệu ở đây không giản đơn là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ: ứng xử trước các hiện tượng đời sống. “Hệ số tình cảm của lời văn … được biểu hiện trước hết ở trong giọng điệu cơ bản”[5]. Theo B.Brecht có thể hiểu giọng điệu  như một tư thế biểu cảm. Ông đã nói về các cử chỉ biểu cảm như cúi đầu, ngẩng đầu, khoát tay, ngoảnh mặt… đều có ý nghĩa biểu cảm. Do đó giọng điệu trong văn học không chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từ vựng, mà còn bằng cả hệ thống tư thế, cử chỉ của thân thể biểu cảm trong tác phẩm.

Giọng điệu có cấu trúc của nó. Xét lời văn trong quan hệ với các chủ đề của anh ta thì ta có giọng điệu cơ bản. Xét lời văn trong quan hệ với người đọc ngoài văn bản thì ta có ngữ điệu. Sự thống  nhất của hai yếu tố này tạo ra giọng điệu.

Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. V.Bielinski từng nói: “Cảm hứng (pathos) chủ đạo là gì? – Sáng tác, đó không phải là trò đùa, và tác phẩm nghệ thuật không phải là sản phẩm của nhàn hạ hay tùy hứng, nó đòi hỏi lao động của nghệ sĩ … Cảm hứng là một sức mạnh hùng hậu. Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà ‘là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh thần của mình, và do đó tư tưởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ trừu tượng, không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động.”[6]

Cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến một cái gì cao cả, có ý nghiã đối với tồn tại con người, nói đến niềm vui, nỗi đau, lòng căm giận có ý nghĩa sâu rộng. Nếu cảm hứng là cao cả thì giọng điệu là cao cả, nhà văn sẽ sử dụng các từ cao cả, to lớn, những từ ngữ cổ kính có âm hưởng biểu hiện thống thiết, về cú pháp sẽ sử dụng các câu hỏi, câu cảm thán, câu mệnh lệnh, câu kêu gọi… Tác phẩm sử thi, thơ tụng ca, hành khúc thường có giọng điệu như vậy. Các hình thức đó thể hiện niềm tin, khát vọng, ý chí của tác giả.

Vị thế của nhà văn cũng tạo ra giọng điệu. Nhà văn tự coi mình là nhà tiên tri, nhà truyền đạo, vị quan tòa, người tố cáo, kẻ kêu oan, người oán hận… thì sẽ có giọng điệu thích hợp với vị thế đó.

Nếu nhà văn cỏ cảm hứng chính luận, phê phán, bất mãn với thực tại thì anh ta sẽ có giọng điệu lên án, mỉa mai, tố cáo, lúc đó anh ta sẽ sử dụng các biện pháp mỉa mai, châm biếm, nhại. Yếu tố tình thái, biểu hiện sự đánh giá của tác giả đối với phát ngôn của mình, cũng là yểu tố quan trọng của hình tượng tác giả. Truyện đau thương đòi hỏi giọng buồn thương, ngậm ngùi, truyện hài hước thì giọng đùa vui, giễu cợt…

Bên trong cảm hứng là thái độ của nghệ sĩ đối với đối tượng miêu tả và đối với người đối thoại ở trong hay ngoài tác phẩm là chất giọng bắt nguồn từ bản chất đạo đức của tác giả.

Các nhà nghiên cứu đã nói đến giọng điệu của Tolstoi trong Chiến tranh và hòa bình, một giọng điệu mềm mại, tỉnh táo, đôn hậu của một người vững tin vào đạo đức và chân lý. Giọng điệu của L.Tolstoi vang lên khắp nơi trong tác phẩm của ông từ Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, đến Phục sinh và các tác phẩm sau đó. Người ta nhận ra giọng của ông trong cậu Nicôlenca, trong Anđrây, trong Lêvin, trong Nêkhliuđov. Ngôn ngữ  giản dị, mặn mà, dễ thương của đại úy Tusin, giọng điệu vui vẻ, âm vang của Natasa đều thể hiện những tình cảm trong sáng, chân thành, là những tình cảm mà tác giả yêu mến, bảo vệ.

Khác với giọng điệu của L.Tolstoi, một giọng điệu tự tin, độc thoại, trong tiểu thuyết của Dostoiévski thể hiện một giọng điệu đầy biến dộng, bất an, gấp gáp, truyền đạt một cảm nhận về kịch tính của cuộc đời. Trong hàng loạt tiểu thuyết của ông có thể bắt gặp các câu như: “Tôi không kịp…”, “Tôi lao đi, hầu như là  chạy…,” bỗng nhiên nhảy vọt khỏi chỗ …”, “Sự việc hết sức gấp, gấp  lắm…”. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét trong văn Dostoiévski có thể bắt gặp nhiều từ “bỗng nhiên”, chẳng hạn trong Thằng ngốc: “Nhưng bỗng nhiên có một cái gì bất ngờ – Tôi phải lưu ý cho ngài Gavriin Andaliônôvich, công tước bỗng nhiên nói, rằng tôi trước đây quả thực đã ốm yếu lắm, thực tế là tôi đã là thằng ngốc; nhưng giờ đây tôi đã lành”; hoặc trong Tội ác và trừng phạt: “Bằng toàn bộ cơ thể chàng bỗng nhiên cảm thấy rằng chàng sẽ không còn được tự do để  suy nghĩ, không có tự do ý chí, rằng bỗng nhiên tất cả đã được quyết định hoàn toàn”.

Tất nhiên dó không phải là giọng điệu duy nhất. Dostoiévski chọn cho người trần thuật của ông một giọng điệu bình tĩnh, khoan thai kiểu sử thi, khô khan cặn kẽ như sử biên niên. Nhưng trong giọng ấy lại xen pha vào giọng điệu của tác giả, không phải là giọng điệu duy nhất đúng, mà chỉ là một giọng khác có tính chất đối thoại. Có người nhận xét là nhà văn trần thuật trong một giọng điệu hoàn toàn xa lạ với ông, và cái giọng thật của ông luôn luôn tìm cách xâm nhập vào giọng xa lạ ấy với tinh thần đối thoại. Đó là nét chân dung nghệ thuật về nhà văn trong văn của ông.

Trong Truyện Kiều, gắn với cảm hứng cảm thương, hình tượng tác giả có giọng điệu cảm thương, ai oán, đẫm nước mắt. Tố Hữu đã viết rất đúng: “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều”. Giọng điệu cảm thương ở đây thể hiện trước hết ở những lời than, lời tố cáo, lời lên án thống thiết trong truyện. Thứ hai là biểu hiện ở tiếng khóc ai oán, đau đớn của Kiều và hầu hết những ai quan tâm đến nàng, từ cha mẹ đến Kim Trọng, nhất là Kim Trọng, Nhân vật Kiều hầu như đẫm trong nước mắt. Thứ ba, giọng điệu cảm thương biểu hiện trong các motiv về sự đổ vỡ, tan nát.

2.3. Sự thể hiện của tác giả thành hình tượng.

Sự tự biểu hiện, tự biểu diễn, tự tạo dáng, tự hoạ cũng  là một phương diện khá phổ biến trong sáng tác, một phương diện tạo thành của hình tượng tác giả. Nhiều trường hợp tác giả tự hình dung hình tượng của mình trong tác phẩm. Khi Thế Lữ viết:

Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng

Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi

Hoặc khi Xuân Diệu viết:

Tôi là con chim đến từ núi lạ,

Ngứa cổ hát chơi …

                     Hoặc:

Tôi muốn riết mây bay vả gió lượn

Tôi muốn say cánh bướm với tình yêu

Tôi muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng…

Thì hình tượng nhà thơ hiện ra trong tác phẩm.      

Các tác giả tùy bút, bút ký, ký sự hoặc tiểu thuyết cũng không ít trường hợp miêu tả mình trong tác phẩm. Ngyễn Tuân là nhà văn thích làm dáng, tạo dáng trong văn học và cả trong cuộc đời. Ông tự biểu hiện mình qua rất nhiều chi tiết khác thường, những liên hệ kì lạ.Trong một tuỳ  bút Nguyễn Tuân kể ông mua vé đi tàu thuỷ, khi tìm ghe theo số vé mới biết mình ngồi bên cạnh một người con gái xấu, không đẹp. Đến bến sau ông lên bờ tìm phương tiện khác, không đi tàu nữa, vì chả lẽ suốt chuyến tàu cứ ngồi bên một người không đẹp như thế. Trong bài Cây Hà Nội, khi miêu tả một cây đẹp bên bờ hồ Hoàn Kiếm, ông liên hệ, cây đẹp quá, nếu ai có muốn tự tử chắc không nỡ treo cổ lên cái cây này. Các hành vi và lời nói có tính cách lập dị, làm dáng mà không ít nhà nghiên cứu gọi là “ngông”. Nhà nghiên cứu Lã Nguyên nhận xét: “Điều đáng chú ý là không được đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tác giả ngoài đời. Nguyễn Tuân giỏi làm dáng, nhưng không có tài hài hước, dẫu giờ đây, nhiều trang văn làm dáng của ông đọc lên khiến ai cũng phải bật cười. Ông cầm “chầu” rất oai, “sô lô” rất oách, nhưng khi vào vai đào, kép lại vô cùng ngượng nghịu. Ông không giỏi thông tin sự kiện. Toàn bộ tài năng của ông bộc lộ ở khả năng tạo ra bức tranh về các trạng thái thế giới. Ông mô tả giỏi hơn kể chuyện và ông kể chuyện chẳng qua cũng là để mô tả. Nhờ thế, sáng tác của ông tạo ra một thế giới hình tượng đầy hấp dẫn. Đặc điểm tài năng này đã đưa Nguyễn Tuân đến với tuỳ bút. Mọi sáng tác của ông đều được kiến tạo theo cấu trúc tuỳ bút, ngay cả khi nó là tác phẩm truyện”.

Tóm lại, cái nhìn, giọng điệu và sự tự thể hiện là ba yếu tố cơ bản tạo thành hình tượng tác giả trong thế giới nghệ thuật của họ mà người đọc luôn luôn bắt gặp trong quá trình giao tiếp, thưởng thức.


[1] M. B. Khrapchenco. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của vănhọc. nxb Nhà văn xô viết, M., 1974, tr.66.

[2] B. Uspenski. Thi pháp học kết cấu.M., 1970, tr. 109 – 110.

[3] Trần Đình Sử. Chân dung Nguyễn Du trong Truyện Kiều.  xem Những thế giới nghệ thuật thơ, nxb GD, Hà Nội, 1995,

[4] Lã Nguyên. Nguyễn Tuân nhà văn của hình dung từ. Bài đã đăng trên bloc cá nhâ, đăng trên trang web của Hội nhà văn Việt Nam, in trong tập tiểu luận của tác giả Phê bình kí hiệu học , Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2018.

[5] M. Khrapchenco. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Tldd. Tr. 128.

[6] V. Bielinski. Tác phẩm chọn lọc, M., 1975, tr. 111.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s