TÁC GIẢ VÀ KIỂU TÁC GIẢ (1)

  1. KHÁI NIỆM TÁC GIẢ NHƯ MỘT PHẠM TRÙ THI PHÁP

1.1Tác giả trong lịch sử văn học

Tác giả (tiếng La Tinh là auctor – chủ thể hành động, người đặt nền móng, người lập pháp, người thấy và nói riêng là người sáng tạo tác phẩm) trong lịch sử là khái niệm đa nghĩa.  Thông thường ta nói tới hai dạng tác giả: khi nói “tác giả dân gian”, “tác giả cổ tích …” thực chất là nói tập thể tác giả dân gian đã kế tiếp nhau sáng tác và lưu truyền các tác phẩm dân gian mà ta không thể quy về cho riêng ai. Thông thường hơn là nói tới tác giả văn học viết, có tên họ, quê quán, hành trạng, tiểu sử. Ví như nói Tư Mã Thiên, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Shakespeare, Dante, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Tác giả này xuất hiện vào giai đoạn mà các sáng tạo về tư tưởng, văn học, triết học, khoa học … có xu hướng cá thể hóa. Hiện tượng này xuất hiện khi có văn tự, một thời điểm của lịch trình tiến hóa văn học.

Tuy nhiên vai trò, chức năng của tác giả do đặc trưng của ý thức nghệ thuật của thời đại quy định. Ở thời đại cổ xưa, khi chưa có quy tắc thi pháp nào tồn tại thì chưa có tác giả. Thời cổ đại có nói đến tác giả thì đó thường là một uy tín, một quyền uy. Chẳng hạn nói đến ngụ ngôn Ezov thì Ezov là  người sưu tập hoặc người có uy tín về thể loại. Các tên tuổi thời cổ đại được nhắc đến như Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Homere, thì các tên ấy có thể là đại diện cho các nhóm tư tưởng, có ý nghĩa như là các quyền uy về tác phẩm, mà chưa có ý nghĩa như là một cá nhân xác thực đã sáng tạo ra tác phẩm như ngày nay người ta hiểu cả về phương diện cá tính cả về phương diện pháp luật[1]. Trong Trang Tử có tác phẩm của những người khác. Sách Luận ngữ của Khổng Tử thì do học trò của ông ghi chép lại. Trong Kinh Thánh ta bắt gặp nhiều tên sách các nhà tiên tri như Ê sai, Giêgemi… hay sách văn thơ như của Giop, của Thi Thiên…thì cũng chưa có ý nghĩa tác giả như thời hiện đại. Thời cổ đại, trung đại tên tác giả là người làm ra tác phẩm, như là người đầu tiên, người  có uy tín, hoặc như là người mở đầu quy phạm, người tuân thủ quy phạm, người có chữ nghĩa nhiều hơn là người sáng tạo cái mới.

Thời trung đại tác giả phục tùng quy tắc tác giả thể loại. Mỗi thể loại có tác giả đặc trưng với mặt nạ đặc trưng. Sáng tác theo thể loại nào thì phải khuôn mình theo quy tắc của thể loại ấy. Trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi tác giả cáo Bình Ngô khác với tác giả Quân trung từ mệnh tập, khác với Lam Sơn thực lục, cũng khác với tác giả trong Ức Trai thi tập hay Quốc âm thi tập. Hầu như chỉ có hai tập thơ thì Nguyễn Trãi mới là tác giả đúng nghĩa của nó. Mấy tác phẩm kia ông viết theo tư cách của nhà sử học hoặc theo tư cách của Vua Lê Lợi hay của Bình Định Vương Lê Lợi. Mãi đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện ở phương Tây, vấn đề thiên tài, cá tính, phong cách nhà văn được đặt ra vấn đề tác giả được xác định. Tác giả trở thành khái niệm quan trọng nhất của nghiên cứu văn học. Tác giả không chỉ là người sáng tạo ra tác phẩm bằng tài năng của mình, mà quan trọng hơn, tác giả thể hiện một tư tưởng, một triết lí, một bài học mà người đọc phải thận trọng nghiên cứu để phát hiện ra cho chính xác. Nhà phê bình nào phát hiện ra tư tưởng sâu sắc của tác giả thì cũng trở thành một tác giả lớn.  Tuy nhiên kể từ khi gắn tác giả với khái niệm thiên tài, kẻ sáng tạo ra qui tắc của cái đẹp thì khái niệm tác giả nhiều khi được thần thánh hóa, xem như một nhà tiên tri, một vị thần toàn năng sáng thế, một siêu nhân, một kẻ đặc quyền được Thượng Đế gửi gắm, là ông thầy của cuộc đời! Đó là cội nguồn của tác giả độc thoại. Sự hiện diện của sáng tác dân gian cho phép xác nhận không cần phải quá đề cao tác giả.

1.2.Khái niệm tác giả trong thi pháp học lí thuyết

“Tác giả” cùng với tác phẩm, thể loai, thời kì văn học hầu như là những khái niệm không thể thiếu đối với phê bình, nghiên cứu, lịch sử văn học. Thoạt nhìn ngày nay ai cũng hiểu tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, song tác giả là gì, nó chi phối tác phẩm như thế nào, có ý nghĩa thi pháp ra sao thì là vấn đề phức tạp về lí thuyết. Đây vẫn là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận thi pháp bắt đầu từ giữa thế kỉ XX.

Thực ra từ xa xưa người ta đã biết đến nguyên tắc “văn như con người viết ra nó” (văn như kì nhân) từ đời Tùy, Đường, Tống (từ thế kỷ VII ở Trung Quốc), và “phong cách ấy là con người” (thế kỷ XVIII ở phương Tây, Buffon) để chỉ sự thể hiện mình của tác giả trong tác phẩm, đông nhất tác phẩm và tác giả. Người Trung Quốc xem người ở lầu son gác tía thi văn khác với người ở chốn lều tranh. Còn Buffon thi cho rằng, người có tư duy mạch lạc thì văn sáng sủa, còn kẻ đầu óc tù mù thì văn chương như hũ nút.

 Giữa thế kỉ XIX các nhà văn Nga đã nhận thấy vai trò quan trọng của tác giả trong tác phẩm. N. M. Karamzin nói : “Người sáng tạo bao giờ cũng tự miêu tả mình trong tác phẩm, va thường là đi ngược lại ý muốn của mình.” M. E. Santykov-Sheđrin nói: “Mỗi tác phẩm tiểu thuyết đều bộc lộ tác giả của nó với tất cả cái thế giới bên trong của người đó.” L. N. Tolstoi nói rõ nhất về vấn đề này. Ông viết trong bài Lời nói đầu cho tập tác phẩm của G. Maupassant như sau: “Những người ít nhạy cảm với nghệ thuật thường nghĩ rằng, tác phẩm sở dĩ tạo thành một chỉnh thể là do tác phẩm có các nhân vật thống nhất, là do tác phẩm miêu tả đời sống của một con người. Điều đó không đúng, Đó chỉ là cái nhìn bề ngoài. Chất xi măng gắn kết mọi tác phẩm vào một khối, từ đó tạo ảo giác về sự phản ánh một cuộc đời, không phải là sự thống nhất của nhân vật, mà là sự thống nhất của thái độ đạo đức độc đáo của của tác giả đối với đối tượng… Về bản chất, khi chúng ta đọc hay trực cảm về tác phẩm nghệ thuật của nhà văn mới, câu hỏi cơ bản nảy sinh trong ta  bao giờ cũng là : Nào, anh là người thế nào, anh khác gì với những người mà tôi đã biết? Và anh ta có thể nói được điều gì mới về cách nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào? Dù cho nhà văn viết gì mặc lòng, ông thánh, bọn cướp, sa hoàng, bọn gia nhân…bao giờ chúng ta cũng tìm và chỉ nhìn thấy tâm hồn của nghệ sĩ”[2] Một nhà văn nếu không có gì mới, không có gì riêng thì người đọc sẽ quên họ.  Nếu hai nhà văn trên chỉ nêu hiện tượng thì chính Tolstoi là người nói rõ thực chất con người tác giả trong tác phẩm, đó là thái độ đạo đức, là tâm hồn khi thể hiện tác phẩm.Ý kiến của Tolstoi cũng cho thấy không phải nhà văn nào  cũng có tác giả. Nếu anh ta chỉ sáng tác ttheo mẫu sẵn thì anh ta chẳng có gì đáng chú ý.

Chính vào lúc này các nhà phê bình Pháp với lí thuyết tiểu sử học của Sainte – Beuve, họ tìm các bằng chưng ngoại tại để khẳng định và đề cao tác giả, mở đầu một phong khí nghiên cứu tác giả rất rầm rộ trong văn học. Phê bình văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc. Thể loại truyện kí nhà văn, chân dung văn học rất đỗi thịnh hành. Đã là nhà phê bình thì không ai không viết chân dung văn học.

Đến cuối thế kỉ,  nhà văn Henry James trong sách Nghệ thuật văn xuôi (1884) đã nói về “lập trường tác giả”, “điểm nhìn” ám chi hình tượng tác giả, chứng tỏ nhà văn Anh và các nhà phê bình Anh là những người đầu tiên về mặt lí thuyết nhận ra vai trò trung tâm của tác giả trong việc tổ chức tác phẩm, chính anh ta có điểm nhìn lựa chọn chất liệu, chọn góc độ thu nhỏ để đưa chúng vào tác phẩm. Người đầu tiên nêu vấn đề Ai là người kể trong tiểu thuyết? là nhà nghiên cứu Đức Wolfgang Kaizer đầu thế kỉ XX.  Từ đầu những năm 20 thế kỉ XX các nhà nghiên cứu Nga như M. Bakhtin, V. Vinogradov, F. Gukovski, L. Ginzburg, B. Korman, đã nghiên cứu về sự thể hiện tác giả trong văn bản, nhưng do các học giả ấy nằm ở ngoại biên, cho nên vấn đề của họ không được chú ý. Mãi đến những năm 60, sau khi “băng tan” trong lí luận xô viết thì vấn đề này mới được quan tâm trở lại.

Trong khi đó các nhà phê bình mới Anh Mĩ với quan điểm văn bản là trung tâm ra sức phủ định tác giả. Họ cho việc đi tìm tư tưởng tác giả trong tác phẩm là một sự ngộ nhận. Các nhà cấu trúc luận cũng không quan tâm vấn đề tác giả..

M.Bakhtin với quan niệm tiểu thuyết đa thanh từ những năm 30 đã đưa tác giả từ vị trí chúa tể xuống vị trí người đối thoại.

Năm 1961 Weyne Booth nhà nghiên cúu Mĩ trong công trình Tu từ học tiểu thuyết lại làm sống lại tác giả với khác niệm “tác giả hàm ẩn”. Ông chống lai thuyết văn bản trung tâm, chống lại thuyết sáng tác tiểu thuyết một cách khách quan của nhà hiện thực chủ nghĩa,  chống lại thuyết tiểu sự học ngoại tại. Nhưng cũng từ lúc này ,

từ những năm 60, với sự phát triển của lí thuyết tiếp nhận, li thuyết đối thoại, liên văn bản, ký hiệu học mà quan trọng nhất là ý nghĩa của văn bản không có tính xác định, và mặt khác là sự gia tăng vai trò sáng tạo của người đọc trong đời sống văn hóa dã dẫn đến hiện tượng mà một số người tuyên bố tác giả đã chết, tác phẩm chỉ còn là cái cớ để người dọc tự do giải mã, tự do rót vào đó cái nội dung của mình, tựa như một bản ký âm mà nhạc công có thể diễn tấu theo hứng thú của mình. Lí thuyết liên văn bản cho rằng mọi tác phẩm đều chỉ là sự sáng tạo lại các văn bản đã có trước, như thế thì vai trò tác giả không có gì lớn. Lí thuyết tiếp nhận khẳng định ý nghĩa là do người đọc kiến tạo, lựa chọn, do đó không phải của tác giả. Chủ nghĩa hậu hiện đại lại dựa vào tính không xác định của nghĩa trong kí hiệu, văn bản mà hoài nghi vị thế của tác giả. Một khi nghĩa của văn bản đã không xác định thì tác giả bám vào đâu mà tự xác định được mình? Tác giả khi viết đã bị hoà tan mất bản thân mình trong cái biển kí hiệu, trong hình thức biểu đạt. Theo tác giả Mĩ W.Spanos thì tác giả cũng chỉ là một người bình thường, phổ thông mà thôi, anh ta không chống lại được tính phi xác định ấy được. Nhà kí hiệu học Ý Umbertô Êcô trong tác phẩm Lời nói thêm về tên gọi hoa hồng nói: “Khi hoàn thành tác phẩm thì tác giả nên chết đi để khỏi làm nghẽn đường đến với văn bản”. Roland Barthes trong bài Cái chết của tác giả lại  nói: “Sự  nảy sinh của người đọc phải dựa trên tiền đề cái chết của tác giả”. Jacques Derrida thì khẳng định: “Văn bản là tất cả, ngoài văn bản ra thì không có gì hết”.  Michel Foucault trong tác phẩm Tác giả lả gì? cho rằng viết là kiến tạo cái biểu đạt, cần phải xóa bỏ vai trò sáng tạo chủ đề của nhà văn. Chỉ nên phân tích anh ta từ phía chức năng của một diễn ngôn phức tạp và nhiều biến hóa mà thôi. Ông tiên đoán: “Song song với sự biến hóa không những của xã hội, chức năng tác giả vốn ngoại hiện vào một khoảnh khắc của quá trình ấy sẽ biến mất”[3]. Theo ông, tác giả là khái niệm có tính chức năng. Trước hết là chức năng chỉ trỏ, cho biết văn bản của ai; hai là chức năng quy loại, cho thấy nhiều tác phẩm thuộc một tác giả. Ba là đối với người đọc, tác giả có chức năng là “một biện pháp dùng để ngăn trở sự tự do hư cấu, tự do chi phối và cấu tạo lại tác phẩm mà thôi”. Một khi các quy ước ấy thay đổi thì tác giả cũng như một người đọc[4].

        Như vậy, khẳng định tác giả là người sáng tạo cái biểu đạt là nhất trí rồi. Cái biểu đạt ấy có mang tư tưởng tác giả không, do tình trạng nghĩa bất định mà bị hoài nghi, thậm chí là phủ định. Đây là một vấn đề rất phức tạp, không thể kết luận giản đơn. Chúng ta cần phân tích để làm sáng tỏ một số khía cạnh.

Thực ra sự đề cao tác giả, tôn sùng tác giả một chiều chỉ là sự ngộ nhận. Nhà phê bình thường nhân định  về tác giả mà phần nhiều họ khẳng định sự tìm tòi của chính họ. Trong mọi trường hợp tác giả đã bị người phê bình giải thích lại theo tư tưởng của mình. Do đó, cái tác giả bị nhân danh kia có chết cũng là chuyện bình thường. Phế bỏ “tác giả” ấy đi là chuyện sòng phẳng. Nhưng đồng thời sự tồn tại của tác giả trong văn bản là tất yếu, bởi vì như mọi hoạt động giao tiếp của con người, hoạt động văn học cũng là một hoạt động giao tiếp, mà đã thế thì tất yếu có người phát văn bản và người nhận, tác giả là người phát, người phát và người nhận là tiền đề của nhau, khó nói được người này phải chết đi để cho người kia lên ngôi. Sự hiện diện của tác giả không hề  trở ngại cho người đọc, hơn thế, là điều kiện để người đọc giao tiếp. Người đọc không đọc tác phẩm không của ai cả. Hoạt động đọc sáng tạo của người đọc có thể mở ra những cách giải thích ý nghĩa khác nhau như là một đối thoại, nhưng không làm biến mất văn bản và khách thể thẩm mỹ ở trong ấy, và do đó không xóa bỏ được yếu tố tác giả như là một ý thức, một quan điểm đối với thế giới, người tham gia sự kiện nghệ thuật qua tác phẩm. Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang thế giới cảm đặc thù và trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật[5]. Do vậy hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại.

Chúng tôi cho rằng tác giả không thể hoà tan vào chất liệu và kí hiệu. Khi xem sáng tác chỉ là sự viết, chỉ là sự làm ra cái biểu đạt, thì theo Ju. Lotman, nhà văn phải tiến hành mô hình hoá thế giới, sáng tạo ra ngôn ngữ. Trong quá trình viết đó nhà văn có tài năng không viết bằng ngôn từ trừu tượng, trung tính có trong từ điển, mà sáng tạo bằng những ấn tượng mà sự cảm thụ bằng tất cả sức mạnh của thân thể, bằng năm giác quan, bằng chỉnh thể thân thể (theo cách hiểu của  hiện tương học Merleau-Ponty), nghĩa là bằng tất cả sự thấy, sự nghe, sự cảm, sự ngửi, sự nhớ, sự mong, sự tiếp xúc, sự nếm, sự trực cảm, bằng tưởng tượng, hồi tưởng, nghĩa là bằng con người vật chất, tâm hồn của anh ta…và do đó in dấu sâu đậm, không phai mờ của cá thể mình vào cái biểu đạt, tạo nên cái mà lí luận gọi là cá tính văn học.Mô hình thế giới ấy, cái thế giới quan ấy chính là tư tưởng của nhà văn.

1.3.Tác giả thực tại và tác giả hàm ẩn, mặt nạ tác giả và hình tượng tác giả

Lí thuyết văn học hiên nay chưa có định nghĩa thống nhát về khái niệm tác giả. Tác giả thực tại như là người đã sáng tạo ra tác phẩm thì mọi người nhất trí. Riêng vấn đề hình tượng tác giả, thì có ý kiến chưa tán thành. Nhà lí luận V. E. Khalizev cho rằng hình tượng tác giả  chỉ nên hiểu là chân dung nhà văn do nhà văn hay nhà hoạ sĩ tự vẽ mình.[6]. M. Bakhtin cũng  sợ rằng nói hình tượng tác giả sẽ lẫn với các hình tượng khác như hình tượng nhân vật.  Còn sự tự thê hiện mình trong toàn bộ tác phẩm một cách hàm ẩn thì được mọi người tán đồng. Từ  những năm 20 người ta đã chủ trương phân biệt tác giả tiểu sử ở ngoài tác phẩm với tác giả ở trong tác phẩm.  Cần phân biệt tác giả tiểu sử như một khái niệm ngoài thi pháp. Đó là tác giả thật, có tên họ, giới tính, nghề nghiệp, học hành, quê quán, thời gian sống và hành trạng, góp phần soi sáng cho các khía cạnh tư tưởng, tâm ]ý trong tác phẩm, là người sáng tác và là người nắm tác quyền về mặt pháp lí. Tác giả tiểu sử bao gồm cả khuynh hướng tư tưởng, xu hướng thẩm mĩ, sự tham gia vào các hoạt động xã hội. Đây là khái niệm của văn học sử, nhiều khi làm đau đầu nhà văn học sử. Ví dụ ai là tác giả bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, ai là tác giả thực của một số thơ Hồ Xuân Hương? Và Hố Xuân Hương là ai, câu chuyện cũng còn nhiều chưa rõ. Trường hợp tác phẩm khuyết danh khuyết phần tác giả tiểu sử, trở nên trừu tượng. Tác giả thực tại ngoài tác giả tiểu sử, còn có tác giả tư tưởng thẩm mĩ, tác giả nghệ sĩ…. Đây là tác giả mà lịch sử văn học thường quan tâm đánh giá. Chẳng hạn nói: “Tolstoi lánh xa phong trào tư tưởng tiên tiến của thời đại, bởi ông mang nặng các định kiến quý tộc gia trưởng Nga” (B. Bursov) hoặc “Nguyễn Du một mặt vẫn kế thừa truyền thống, mặt khác lại phá vỡ truyền thống để đi đến chủ nghĩa hiện thực, nhưng rốt cuộc Nguyễn Du vẫn dừng lại trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa hiện thực chứ chưa đi được vào quỹ đạo của nó” (Nguyễn Lộc). Cần phân biệt tác giả tiểu sử với tác giả hàm ẩn trong tác phẩm. Khi sáng tác thì cái phần thực tại ấy đứng ngoài tác phẩm. Chỉ cái tôi thứ hai, cái chủ thể sáng tạo của nhà văn tham gia vào văn bản. Khi đọc Truyện Kiều ta không thấy tiếng nói, bóng dáng của ông Tham tri bộ Lễ của triều Nguyễn, mà chỉ thấy một con người đồng cảm sâu sắc với những số phận bất công, bất hạnh. Tú Xương trong đời thật không giàu nhưng không nghèo tới mức “một tuồng rách rưới con như bố, hai chữ nghêu ngao vợ chán chồng”, hay “mùa nực nhưng mình mặc áo bông” như ông viết tự giễu trong thơ. Người viết trong thơ là một vai khác so với con người thật ngoài đời. Hàn Mặc Tử là một con người mắc bệnh hiểm nghèo, nhưng trong thơ là một con người khác. Bích Khê cũng có tình hình tương tự như vậy. Các công trình của Trần Thanh Mại đã có nhầm lẫn giữa hai bình diện này khi nghiên cứu Tú Xương và Hàn Mặc Tử. Sự phân biệt giữa tác giả tiểu sử với tác giả hàm ẩn đòi hỏi ta phải tìm hiểu tác giả tham gia vào tác phẩm. Đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Nga B. O. Korman: “Thuật ngữ tác giả trong nghiên cứu văn học được dùng theo những nghĩa khác nhau. Trước hết nó chỉ nhà văn là người tồn tại trong thực tế. Trong các trường hợp khác nó chỉ một quan niệm, một quan điểm đối với hiện thực, mà biểu hiện của nó là toàn bộ tác phẩm. Cuối cùng từ này dùng để chỉ một số hiện tượng đặc trung cho thể loại và loại hình văn học.”[7]

Tác giả như là quan niệm hay quan điểm về hiên thực thể hiện trong toàn bộ tác phảm chính là tác giả hàm ẩn. Tác giả hàm ẩn (implied author) là một phần của con người thực đã được phân thân, trở thành chủ thể sáng tạo trực tiếp vì động cơ thẩm mĩ. Khái niệm tác giả hàm ẩn này do nhà lí thuyết Mĩ Weyne Booth đề xuất năm 1961 trong sách Tu từ học tiểu thuyết[8] .Ông viết: “ Quả thực đối với một số nhà tiểu thuyết, khi sáng tác họ tựa hồ như phát hiện hay sáng tạo ra chính mình. Đúng như Jessamyn West đã nói, có lúc, chỉ thông qua sự viết nhà tiểu thuyết mới có thể phát hiện – không phải câu chuyện của anh ta, mà là tác giả của câu chuyện, hoặc có thể nói đó là tác giả chính thức của câu chuyện. Bất kể chúng ta gọi tác giả hàm ẩn này là tác giả chính thức hay là thuật ngữ cái toi thứ hai mà  gần đây Kathleen Tillotson đã làm sống lại. Điều chắc chắn là cái hình tượng về sự hiện diện (presence) của tác giả này mà người đọc tiếp nhận được là một trong những hiệu quả quan trọng nhất của tác giả.  Bất luận tác giả cố gắng biến mình thành kẻ vô cá tính thì người đọc vẫn kiến tạo nên một hình tượng của tác giả chính thức của tác phẩm”[9] Trong ý kiến này ta thấy quan điểm của ông  có phần giống với quan điểm của Tolstoi, mặt khác là cho thấy tác giả hàm ẩn xét về phía tác giả, còn hình tượng tác giả lại thuộc về người đọc. Tác giả hàm ẩn là sự hiện diện diện của người sáng tác, còn hình tượng tác giả là hiệu quả của tác giả hàm ẩn. j chỉ thấy hình tượng tác giả. Đây là điều mà Khalizev chưa chú ý đến khi giả thích hình tượng tác giả.

Theo W. Booth sáng tác phải có tác giả và tác giả chi phối sự tiếp nhận của người đọc. Tác giả là người mã hoá thông tin trong tác phẩm, để đến lượt mình người đọc giải mã. Đó chính là thực chất của tu từ tiểu thuyết. Nói tác giả hàm ẩn là nói tính chất vừa không lộ diện của nó, vừa tính chất có mặt của nó. Trong văn bản tác phẩm không có lời nào là lời của chính tác giả, mặc dù đều do tác giả viết ra.  Lời của tác giả đều ẩn vào trong lời của người kể chuyện, vào nhân vật, chủ thể trữ tình. Trong các lời ấy, tác giả hàm ẩn hiện diện như là một ý thức, là quan điểm, và là nguyên tắc đạo đức, thẩm mĩ, xã hội, chi phối điểm nhìn, giọng điệu, đánh giá, phân tích của văn bản. Trong cấu trúc giao tiếp của văn bản nghệ thuật tác giả hàm ẩn này tương ứng với người đọc hàm ẩn trong văn bản, bởi văn bản viết theo cái nhìn của người đọc mà tác giả hình dung ra. Và khi người đọc tiếp nhận là đã tiếp nhận tác giả hàm ẩn vào bản thân mình.  Do đó không thể tách bạch độc giả khỏi tác giả được.  Trên thực tế người đọc đọc theo cái nhìn của tác giả. Mọi lời của văn bản đều hướng về người ấy. Lấy ví dụ trong bài thơ Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, ta thấy tác giả thực tế đứng ngoài, ông chỉ ơ vị trí người đề từ, khi viết lời đề tặng: “Tặng chị Lý anh dũng”. Còn trong bài thơ ông là một người khác. Ông gọi nhân vật trong thơ là “em” với những lời thơ rất đỗi  vang vọng và tha thiết. Ông đại diện cho ý thức của đồng bào miền Bắc đương thời. “Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt, Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt. Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh, Trên mình em đau đớn cả thân cành.” Tác giả hàm ẩn này cũng hứa hẹn dõng dạc, chắc nịch: “Ôi đôi mắt em nhìn rất đẹp. Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thép. Em sẽ đi trên đường ấy thênh thang. Như những ngày xưa rực rõ sao vàng.” Đây là lời của chủ thể trữ tình. Mối quan hệ giữa tác giả hàm ẩn với tác phẩm là mối quan hệ nội tại giữa người sáng tác với văn bản. Quan điểm tác giả là kinh ngạc, khâm phục, yêu thương, xem em là biểu tượng của Việt Nam, tuy hi sinh đau đớn nhưng tất thắng. Không thể đồng nhất hoàn toàn tác giả thật với tác giả hàm ẩn.

Tác giả hàm ẩn xét một mặt khác lại là mặt nạ tác giả (author’s mask).Thuật ngữ này do nhà nghiên cứu Mĩ Malmgren đề xuất năm 1985. Theo các nhà nghiên cứu thì thuật ngữ này cũng đã được M. Bakhtin đề xuất vào những năm 20 (maska – lichina), có nghĩa là một trong các biến thể của biểu hiện hình ảnh con người tác giả ở bên trong ra bên ngoài. Mặt nạ là một dụng cụ dùng để che mặt, để nguỵ trang nhằm che giấu bản thân thật của mình, đồng thời là dụng cụ để phô bày cái phương diện mà mình muốn bày tỏ cho mọi người thấy. Đây là phương diện rất thông thường trong tâm lí giao tiếp đời thường của con người. Khi khách đến nhà chủ nhà dù có nghèo vẫn tiếp đãi lịch sự để khách không hiểu lầm gia chủ. Người dốt thường hay nói chữ để khoe mình giỏi. Người không biết ngoại ngữ vẫn thường khuyên kẻ khác nên học ngoại ngữ để nâng cao trình độ. Kẻ kiêu ngạo hay ra vẻ nhún nhường hạ mình. Hoặc cơ quan thiếu đoàn kết, thiếu dân chủ thì khi đại hội nêu khẩu hiệu Đoàn kết – Dân chủ treo chính giữa hội trường. Tác giả hàm ẩn là hiện tượng tư tương thẩm mĩ. Tác giả tự phát hiện ở một tầm cao mới, một tư tưởng chứ không phải một kẻ lừa dối người đọc. Những sự làm dáng, làm văn, ra vẻ triết lí dễ dãi trong tác phẩm người đọc đều nhận ra hết. Như vậy, khác với tác giả hàm ẩn nói về mối quan hệ tác giả với văn bản, mặt nạ tác giả là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa tác giả với  người tiếp nhận, với xã hội. Mặt nạ thường do cái vai trò mà chủ thể muốn đóng trong đời sống xã hội. Trong văn học mặt nạ tác giả là cái hình thức tác giả dùng để tự giới thiệu mình trong tác phẩm, thể hiện qua người kể chuyện hay nhân vật hư cấu, khién người đọc có ảo giác người kể chuyện ấy chính là tác giả thật, hoặc ngược lại tưởng tác giả vắng mặt và mình là chủ nhân của văn bản đang đọc.

Mặt nạ tác giả do là cái dành để giới thiệu cho người đọc cho nên nó còn được gọi là hình tượng tác giả, là hình tượng một phần do tác giả gợi ra, một phần khác do người đọc tưởng tượng kiến tạo nên. Nhiều người đồng nhất hình tượng tác giả với mặt nạ tác giả. Tuy nhiên theo tôi cần và có thể phân biệt hai khái niệm này. Mặt nạ tác giả là những gì tác giả mượn để thể hiện mình (người kể chuyện, nhân vật…), còn hình tượng tác giả là cái phần mà người đọc thông qua những mặt nạ để suy ra những gì thuộc về tác giả, tách khỏi phần mặt nạ. Vì thế thiết nghĩ không nên đồng nhất chúng. Dĩ nhiên hình tượng tác giả về bản chất cũng là mặt nạ. Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm mới là phạm trù của thi pháp học .Mặt nạ tác giả và hình tượng tác giả về một mặt nào đó có thể coi là từ đồng nghĩa, nhưng nội hàm thì khác nhau và đều là phạm trù của thi pháp học.

Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được tác giả sáng tạo ra trong tác phẩm, nhưng sáng tạo theo một cách khác so với sáng tạo nhân vật. Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư  cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện có tính hư cấu sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới nhân vật. Cũng vậy, trong văn học các nhà văn thường biểu hiện mình như người phát hiện, người phê phán xã hội, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sĩ v.v… Điều đó đã trở thành yêu cầu quy ước đối với người đọc. L.Tolstoi từng nói, nếu trước mắt ta là một tác giả mới, thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối với người đọc? L.Tolstoi còn nói khi đọc tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu chính là tính cách của tác giả thể hiện trong đó. Nếu một nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý.

Hình tượng tác giả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt. Nhà thơ  Đức I.W.Goethe nhận xét: mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt. Có nghĩa là nhà văn biểu hiện nguyên tắc cảm nhận của mình về thế giới, cách thức suy nghĩ của mình và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình. Và nguyên tắc cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm. tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm, và đó cũng là sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học.

Viện sĩ Nga V.Vinogradov trong rất nhiều công trình khẳng định hình tượng tác giả là cơ sở, là trọng tâm của phong cách ngôn ngữ.  A.Chichêrin cũng cho rằng hình tượng tác giả được sáng tạo ra như một dạng hình tượng nhân vật. Đây là sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lý của sự kiện, mà là chân lý của ý nghĩa, của tư duy, như chân lý của thi ca[10].

Vấn đề hình tượng tác giả không chỉ là sự phản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện tương quan giữa con người sáng tạo ra văn học và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể. Ở đây V.Vinogradov. hiểu vấn đề chỉ trên bình diện ngôn ngữ: hình tượng tác giả được hình thành  từ các đặc điểm ngôn ngữ  của văn bản đã làm thành thuộc tính cá nhân của nhà văn. M. Bakhtin hiểu vấn đề có hơi khác hơn. ông không tán thành gọi sự biểu hiện tác giả là hình tượng tác giả vì sợ lẫn lộn. “Nhân vật thuộc một không thời gian được miêu tả, còn tác giả thuộc không – thời gian miêu tả, nó bao trùm không-thời gian nhân vật. Tác giả nhập vào rồi thoát ra khỏi không – thời gian nhân vật. Tác giả nằm ngoài thế giới nhân vật, đúng hơn là tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiện nhân vật: Tác giả nên ở trên ranh giới của thế giới do anh ta sáng tạo. … lập trường của tác giả có thể xác định qua cách mà anh ta miêu tả bề ngoài của thế giới đó.”[11]. Như vậy tác giả hiện diện tại hình thức tác phẩm (cái biểu đạt) như là một nguyên tắc thẩm mỹ tạo hình cho thế giới nghệ thuật. Chỗ khác ông khẳng định tác giả hiện diện như một điểm nhìn, cái nhìn.[12] Toàn bộ công trình Những vấn’ đề thi pháp Doxtôiépki của Bakhtin dành để nghiên cứu Dostoiévski với tư cách là nhà nghệ sĩ, nghiên cứu hình thức cái nhìn của nhà văn.[13]

Bà Lydia Ginzburg nghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình và nhìn thấy nhà thơ thường xuyên hình dung về mình, tự giới thiệu về mình. A.Chichêrin, A. Boneskaia thấy tác giả biểu hiện qua nhân vật, do đó vẫn có thể gọi là hình tượng tác giả. Vấn đề này có phần tương tự như khái niệm  “tác giả hàm ẩn” đã nói ở trên. Nhiều nhà lý  luận hiện đại hiểu đó là tác giả được suy ra (deduced author), là sản phẩm do người đọc phát hiện.

Như vậy là vấn đề hình tượng tác giả được khẳng định từ nhiều góc độ trong lý luận văn học.

  1. Các hình thức của mặt nạ tác giả

Theo M. Bakhtin thì tác giả hiện diện trong toàn bộ tác phẩm, chứ không ẩn náu ở một bộ phận nào của tác phẩm, dó đó, toàn tác phẩm là mặt nạ của tác giả. Văn bản là một hệ thống phát ngôn, mà mỗi phát ngôn, theo M. Bakhtin là một sự kiện kép: sự kiện phát ngôn và sự kiện được nói tới. Chính người kể cho ta biết việc gì xảy ra là quan trọng hơn cả. Các chủ thể phát ngôn đều là mặt nạ tác giả trong chừng mực khác nhau. Hệ thống phát ngôn hàm chứa hệ thống các chủ thể, bao gồm tác giả (dưới dạng quan điểm, một ý thức), người kể chuyện, chủ thể trữ tình, nhân vật và qua các chủ thể ta có các sự kiện, chi tiết được nói tới, tất cả đều là mặt nạ của tác giả. Hình tượng tác giả (mặt nạ tác giả) thể hiện qua hệ thống chủ thể được miêu tả trong tác phẩm. Tác giả chỉ có thể xuất hiện trong văn bản như là một ý thức, giọng điệu và những ngôn từ tình thái cùng các nguyên tắc tổ chức văn bản. Tất cả các nội dung ấy thể hiện qua các mặt nạ trực tiếp là các lời, các phát ngôn, gían tiếp là các chủ thể, bởi các chủ thể này có lời nói và giọng điệu, cái nhìn riêng của chúng.

Người kể chuyện là kẻ mà nhà văn lựa chọn để thay mình kể chuyện. Mỗi người kể chuyện với lời của nó chỉ thích hợp với một câu chuyện nhất định. Câu chuyện khác đòi hỏi người kể chuyện khác, lời khác. Tác giả có thể gửi giọng điệu, cái nhìn của mình vào lời kể của người kể chuyện. Trừ người kể chuyện không đáng tin cậy vấn đề có tính phức tạp, còn nói chung điểm nhìn  của người kể  chuyện là của tác giả hàm ẩn. Trường hợp người kể không đáng tin cậy thì sẽ có sự đối thoại giữa những điểm nhìn để thể hiện ý thức của tác giả. Mở đầu Truyện Kiều Nguyễn Du viết: “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trong thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen với má hồng đánh ghen” Các chữ khéo là, lạ gì, quen với đã thể hiện một ý thức, một thái độ vừa mỉa mai vừa lên án. Liên kết các chữ ấy lại ta có một cái nhìn, một giọng điệu. Những câu như “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, hoặc câu: “Hồng quân với khách hồng quần, Đã xoay đến thế còn vần chưa tha”, hoặc “Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi”, hoặc “Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần”.…Thì người kể chuyện ở đây chính là mặt nạ tác giả nói lên quan điểm ýac giả. Nhân vật, nhất là nhân vật chính  cũng có thể là mặt nạ của tác giả. Cô Kiều là biểu hiện nổi bật rồi. Nhân vật Từ Hải trong truyện, khi y nói: “Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu. Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi. Sao bằng riêng một biên thuỳ, Sức này đã dễ làm gì được nhau. Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Thì trong lời nói ấy cũng có thể nghe thấy khí phách của nhà thơ. Những lời này cũng hô ứng với lời thơ trong bài Phản chiêu hồn trong tập Bắc hành tạp lục làm khi đi sứ nhà Thanh. Trong truyện ngắn hay tiểu thuyết kể chuyện theo ngôi thứ nhất, thì ngôi kể ấy tất nhiện không được đồng nhất với tác giả, nhưng có mặt này mặt kia có thể biểu hiện hình tượng tác giả. Chẳng hạn vai kể “tôi” rất khác nhau trong truyện của nhà văn Lỗ Tấn như Chúc Phúc, Cố hương, Trên quán rượu, Tiếc thương những ngày đã mất đã hé lộ những nét riêng của hình tượng tác giả. Có người trích ba câu trong văn của Vũ Trọng Phụng, một của nhân vật Trực Ngôn, một của chính Vũ và một câu trong Làm đĩ, đem đặt bên nhau, cho thấy các lời văn thuộc các chủ thể khác nhau nhưng khá giống nhau về quan điểm.  Điều này cho thấy giữa tác gả chính luận, người kể  chuyện và nhân vật trung tính như Trực Ngôn đều thể hiện quan điểm chung của tác giả, tạo nên hình tượng tác giả. Xuân tóc đỏ, Văn Minh có thể nói những lời tương tự, nhưng đó chỉ là lời nhại, đối tượng châm biếm của nhà văn[14]. Người kể ngôi thứ nhất trong bút kí, kí sự, trong tự truyện, tạp văn có thể hiểu là chính tác giả. Tóm lại tác giả trong tác phẩm chính là những nguyên tắc cảm nhận thế giới, tổ chức tác phẩm, là sự mã hoá ý hướng của người sáng tạo tác phẩm.


[1] S. Averincev, M. Andreiev, M. Gasparov, P. Grincer, A. Mikhailov Thi pháp học lịch sử, nxb Di sản, M., 1994, tr. 9 – 12.

[2] Trích theo bài Đặt vấn đề hình tượng tác giả của  V, B, Kataev, trên Tạp chí Báo cáo khoa học Khoa học ngữ văn,  Số 1, 1966, tr. 32, 37, 38.

[3] M. Foucault. Tác giả là gì. Trong sách Văn hoá và mĩ học hâu hiện đại, Nhiều người dịch, nxb Đại học Bắc Kinh, 1992, tr. 292 -294

[4] M. Foucault. Tác giả là gì. Trong sách Văn hoá và mĩ học hâu hiện đại, Nhiều người dịch, nxb Đại học Bắc Kinh, 1992, tr. 292 -294

[5] M. M. Bakhtin. Vấn đề tác giả. Trong sách Mĩ học của sáng tạo ngôn từ. M., 1979, tr. 162. Xem them: A. Chicherin. Hình tượng tác giả  trong Chiến tranh và hoà bình, trong sách Nhịp điệu của hình tượng.M., 1980.

[6] V. E. Khalizev. Lí luận văn học, M., 2004, tr. 61. Cũng có tác giả chưa chấp nhận. Ví dụ  N. N. Smirnova. Lí thuyết tác giả như là một vấn đề. Trong sách:Lí thuyết văn học như là vấn đề nghiên cứu, Khoa học, M., 2000, tr. 377.

[7]Korman B. O. Tổng kếtviễn cảnh nghiên cứu  vấn đề tác giả. Страницы истории русской литературы. М., 1971. С. 199.

[8] W. Booth. Tu từ học tiểu thuyết (Phần thứ ba), Đại học Bắc Kinh, 1987.

[9] W. Booth. Tu từ học tiểu thuyết, bản dịch trung văn của Hoa Minh, Hồ Tô Hiểu, Chu Hiến, Đại học Bắc Kinh, 1987, tr.80. Lời dịch ở đây có hiệu chỉnh theo bản dịch của Thân Đan.

[10] V. V. Vinogradov.  Vấn đề tác giả và lí thuyết phong cách. M., 1961. Về lí thuyết ngôn từ nghệ thuật. .M., 1971. M. Brandes. Phân tích phong cách học. M., 1971.

[11] M. Bakhtin. Mĩ học sáng tạo ngôn từ, M., 1979, tr. 14 – 15, 166.

[12] M. Bakhtin. Những vấn đề thi pháp Dostoievski. Nxb Giáo dục, nhiều người dịch, Hà Nọi, 1993.

[13] M. Bakhtin. Những vấn đề văn học và mĩ học, nxb Văn học nghệ thuật, M., 1975, tr. 311.

[14] Phùng Ngọc Kiên. Vấn đề chủ thể phát ngôn của Vũ TRọng Phụng, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 11 năm 2013.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s