KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT (2)

III. CÁC HÌNH THỨC KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC

  1. Không gian thần thoại

Không gian nghệ thuật trong văn học là một hiện tượng lịch sử, vì thế cần điểm qua tiến tình không gian nghệ thuật trong lịch sử.

 Thần thoại là hiện tượng văn hóa – nghệ thuật phổ biến của nhân loại, có ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy nghệ thuật đời sau, do đó nó là một phạm trù của thi pháp học lịch sử.

Không gian thần thoại là yếu tố của thế giới trong thần thoại nguyên thuỷ, có nét khu biệt quan trọng với các quan niệm không gian khác. Người nguyên thuỷ tư duy chủ yếu bằng cảm tính, cụ thể, họ không biết đến không gian toán học hay vật lí. Không gian thần thoại dược người nguyên thuỷ cảm nhận từ thân thể mình, lấy đó làm toạ độ để xác định vị trí mọi vật: trên/dưới, trước/sau, phải/trái, trong ngoài; lấy mặt trời lặn/mọc, sự thay đổi ngày /đêm mà định vị bốn phương. Đặc điểm của không gian thần thoại là không thuần tuý, đồng chất, liên tục, vô hạn như quan niệm Newton, mà là gắn với không gian, mang tính nhân hoá, tính thiên vị rõ rệt.

Không gian không tách rời với thời gian. Theo quan niệm phưong tây thì phương bắc thuộc khí (phong), nơi ngụ mùa đông; phương nam thuộc hoả, nơi ngụ mùa hề; phương đông thuộc thổ, nơi ngụ mùa xuân; phương tây thuộc thuỷ, nơi ngụ mùa thu.[1] Theo quan niệm phương Đông thì phương đông thuộc mộc, ứng với mùa xuân; phương tây thuộc kim, ứng với mùa thu; phương nam thuộc hoả, ứng với mùa hè; phương bắc thuộc thuỷ, ứng với mùa đông. Thổ thuộc trung tâm. Mối liên hệ có khác, song tính chất của không gian thần thoại thì giống hệt nhau.

Không gian thần thoại chia là ba giới với các tính chất khác nhau. Thượng giới (trên không, trên đỉnh núi cao) là nơi thần thánh, tiên với những người tróngáng cao cả ở. Trần thế (hạ giới) là nơi con người và muôn vật ở. Âm phủ (âm ty, địa ngục) là nơi người chết, ma quỷ ở. Giữa ba giới có cây vủ trụ cao lớn nối liền. Mỗi giới có những con vật đặc trưng mang tính chất của giới ấy. Chẳng hạn con rắn, loài bò sát, gắn với mặt đất nên coi như xấu, ác, nham hiểm, là kẻ thù của thượng đế. Chim ưng là biểu tượng trí tuệ, hùng mạnh cao cả, từng đánh nhau với rắn. Rồng phương Tây cũng là con vật xấu, ác, phun lửa, còn rồng phương đông tuy thoát thai từ loài rắn hoặc loài cá, cá sấu, nhưng đã biết bay cao trong mây, phun mưa làm tươi tốt mùa màng, lại có trí tuệ, uy lực, tượng trưng cho đế vương. Môtiv thần thoại này ảnh hưởng tới hình tượng văn học. Trong Liêu Trai, các hồ li tinh dù xinh đẹp, dễ thương thế nào, đều có nơi ở là những ngôi nhà nát, hoang phế, biểu tượng của cõi âm, cõi chết. Trong Truyện Kiều các nhân vật như Đạm Tiên, ở dưới mộ, xuất hiện trong mộng, Giác Duyên, Tam Hợp đạo cô thoắt ẩn, thoắt hiện, thuộc không gian hư ảo, không phải người của trần thế.

      Không gian thần thoại có các mô hình khác nhau. Trục Đông Tây (mặt trời mọc lặn hình thành đầu tiên, sau đến trục Nam Bắc. Trục đông tây tạo nên dường vận động của mặt trời, nơi ngự trị dương thế. Trục nam bắc chia thế giới theo chiều thẳng đứng, phía trên là dương thế, phía dưới là cõi âm. Theo trục Nam Bắc (Côn Tích), ta có:

      Trên = Dương = Nam = Nam giới = Trời = Sáng = Chính = Hè = Ban ngày

      Dưới = Âm = Bắc = Nữ giới = Nước = Bóng tối = Phụ = Đông = Đêm tối.[2]

Thế giới được chia theo vị trí đàn ông, dần bà, dương, âm, sống, chết.

Không gian thần thoại gắn với mẫu gộc, đóng vai trò siêu ngôn ngữ của các hình tượng không gian không chỉ trong văn học, mà còn cả trong kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc, hội hè. Những mẫu cổ về không gian như nhà minh đường (tổ miếu) dưới vuông trên tròn, bánh chưng bánh dày (trời tròn, đất vuông), Kim Tự Tháp chân vuông đỉnh nhọn vv.. .phản ánh quan niệm phương vị cổ sơ. Thần sáng tạo Ấn Độ Brahma có bốn đầu, bốn mặt hướng về bốn phía đông tây nam bắc, bốn tay, một tay cầm kinh vệ đà, một tay cầm hoa sen, một tay cầm chìa khóa, một tay cầm chuỗi hạt. Hoàng Đế Trung Quốc bốn mặt, Giêhôva trong Kinh thánh (sách Exêcchiên) hiện ra các vật sống bốn mặt, bốn tay … Số bốn là mẫu gốc chỉ bốn phương, bốn mùa do thần mặt trời tạo ra. Các phương vị đều có ý nghĩa thần thoại. Ví dụ phương Đông mặt trời lên, tượng trưng sức sống, dương, hoạt động, hình ảnh Đông quân. Phương Tây mặt tròi lặn, lặng lẽ, âm, tượng trưng nữ. Mái Tây, Tây Vương Mẫu, Tây phương cực lạc v.v.. Vì thế mô típ trông bốn bề trong Hán phú hay trong ngâm khúc có cội nguồn thần thoại. Trong Thủy Hử Tống Giang “chinh tứ khấu” cũng có cội nguồn không gian thần thoại. Là siêu ngôn ngữ, không gian thần thoại hòa thấm vào ngôn ngữ, vào truyền thuyết, biểu tượng. Tìm hiểu phương diện này sẽ giúp giải mã các hình tượng nghệ thuật. Ví dụ, Hải đường lả ngọn đông lân (Kiều) thì đông lân chỉ phía Kim Trọng (nam) còn Hàn gia ở mé tây thiên (Kiều) thì tây thiên là con đường phía tây của Đạm Tiên (nữ).

Do thần thoại tồn tại dưới nhiều dạng: truyện kể dạng lễ hội, dạng các nghệ thuật, dạng các biểu tượng văn hóa nguyên sơ, cho nên chúng ta sẽ nói tói hai dạng chính với một số đặc điểm riêng của chúng.

Trong truyện thần !hoại, không gian có sự đối lập giữa tính chất nguyên sơ, hoang dã, hỗn độn, nơi xuất phát của các sự kiện (như đất trời chưa phân, trời sụp phía Đông Nam, núi, hồ, hang, nơi ở của thần linh và của thú vật nguy hiểm) và tính chất văn hoá, trật tự do các thần văn hoá xác lập. Một tính chất khác là sự đối lập linh phàm, gắn liền với ý thức tôn giáo. C.Levi – Strauss cho rằng tôn giáo, thần thoại có cấu trúc cơ bản về thế giới bao gồm hai yếu tố đối lập: yếu tố linh khiết, thiêng liêng (đẹp, hạnh phúc) và yếu tố bẩn thỉu (xấu xa, khổ nạn). Trung tâm của không gian thiêng liêng là đàn tế, ngôi đền, lâu đài, cây vũ trụ, núi cao…Con đường dẫn từ ngoại vi đến trung tâm cũng có ý nghĩa thiêng liêng. Không gian phàm, thường là tồi tệ, như đầm lầy, rừng, quan ải, thung lủng, ngả ba. Trong ý thức tôn giáo đối lập này là tuỵệt đối, còn trong ý thức thần thoại thì chỉ là tương đối.
     Đây cũng là hai yếu tố cơ bản của tâm lý nhân loại, không chỉ tồn tại trong ngôn ngữ, văn hoa mà cả trong thần thoại.  Trong thần thoại hai không gian này đối lập nhưng không biệt lập, mà tồn tại trong nhau, tạo nên tính chất thần bí, hư ảo (Chúa gọi thì Abram nghe và trả lời co tôi đây; nhân vật Tấm khóc thì bụt hiện, các núi tiên Bồng đảo, Doanh châu xuất hiện rồi biến mất …) trong phàm có linh, đối lập linh với phàm, với không gian hằng ngày. Các cấu trúc không gian này còn tiếp tục tồn tại trong các sáng tác đời sau, mặc dù không gian đã phi thần thoại hoá, trong chừng mực nhất định: tiểu thuyết hiệp sĩ, Thần khúc, Faust, Những linh hồn chết, Tội ác và trừng phạt…Lâu đài của Kafka nhại lại con đường đi tìm đền thiêng của thần thoại.

3.2. Không gian sử thi

Sử thi có nhiều loại, sử thi cổ sơ (thần thoại), sử thi anh hùng (cổ điển) và sử thi văn học (mô phỏng cổ điển); mỗi loại có đặc điểm riêng, song từ góc độ loại hình tự sự lịch sử dân tộc có thể nêu một số đặc điểm không gian như sau đây. Không gian nghệ thuật trong sử thi mang đậm dấu tích của không gian thần thoại. Trong sử thi Iliade Odyssée đều có không gian thần thoại ở trên thiên đình và hoà vào không gian trần thế, làm cho không gian có quy mô rộng lớn. Sử thi anh hùng là sử thi chiến trận, không gian là bãi chiến trường hoặc là nơi nhân vật phải khắc phục. Trong Iliade không gian chiến trận được miêu tả cụ thể thể hiện cuộc chiến di chuyển giữa các vị trí từ gò, hào, bức tường, tuyến thuyền một, lều trại, tuyến thuyền hai, trong đó quân Acai và quân Troy giành giật từng phần trong ba ngày đầu khi Achille chưa tham chiến. Trong Odyssée không gian di chuyển của Ulysse trong 10 năm hết sức rộng lớn, từ bờ biển Hy Lạp sáng biển Egiê với bờ biển nước Ý, bắc Phi. Không gian vừa là tự nhiên vừa là thần hoá, luôn gây trở ngại cho nhân vật theo ý chí của thần linh. Mối liên hệ giữa không gian thần linh với không gian quê hương với không gian chiến đầu hoặc lưu lạc (phiêu lưu) là đặc trưng của không gian sử thi của Homere.

Trong sử thi Ấn Độ như Mahabharata mô hình thế giới ba thành phần mang nội dung tư tưởng, đạo đức: kinh đô nơi giành giật quyền lực, trong rừng sâu, nơi ngự trị sự trong sáng lương thiện, và đỉnh Hymalaya, nơi chiếc cầu để bước lên thiên đàng rạng rỡ. Mối liên hệ của ba không gian đó là đặc trưng không gian của sử thi Ấn Độ. Trong sử thi có đối lập thiêng/phàm, đối lập quê mình/quê người, đối lập “của ta” và “của kẻ khác”. Không gian trong sử thi Ấn Độ không tách khỏi con người mà tham gia vào hành động của nhân vật. Trong sử thi Bài ca binh đoàn Igor của Nga thế kỉ XII có hình ảnh không gian nước Nga mênh mông bao quát các miền, từ thành phố, làng quê, thảo nguyên, biển cả và đâu đâu cây cỏ trời mây đều tham gia với nhân vật trong mọi niềm vui nỗi buồn.

Đẻ đất đẻ nước, sử thi thần thoại Mường thuộc loại sử thi cổ sơ, gồm ba phần: mo tuông, mo vái, mo tlêu, khúc ca đưa hồn người chết trở về với mường Trời. Sử thi trình bày toàn bộ mô hình vũ trụ cổ sở của người Mường – Việt cổ, gồm ba tầng bốn thế giới: cao nhất là mường trời, giữa là mường người, dưới là mường ma, ngoài ra còn có mường nước.  Các mường tương tự nhau, mường ma cũng có sông có chợ, có đồi, có các đồ dùng, có các hội hè như mường người. Mỗi mường có kẻ trị vì, dân cư có thể qua lại, người mường trời và mường người có thể yêu nhau, có con với nhau. Mo tlêu kể chuyện đẻ đất, dẻ nước, đẻ cây si, đẻ người, đẻ mường, đẻ rượu cần…Toàn bộ sử thi thể hiện không gian tâm linh của người Mường.

Sử thi Đăm Xăn của người Eđê cũng như sử thi Tây nguyên nói chung, là sử thi dân gian cổ sơ. Nó có mô hình thế giới ba tầng: tầng ông trời, nhân gian làng buôn rừng núi và nơi nữ thần mặt trời ở. Trời là quyền lực nhưng đối với Đăm Xăn khá thân thiết, nhưng nữ thần mặt trời thì chinh phục thất bại. Tính chất sử thi của không gian Đăm Xăn thể hiện rất nổi bật tạo thành tính nhất trí giữa con người và thế giới. Cây cối, giống vật hô ứng chặt chẽ với con người, khi tiếng chiêng, tiếng la đánh lên. Người với người đông đúc chen nhau thành một khối không tách rời. Quan niệm không gian lèn chặt này tạo nên thủ pháp tỉnh lược trần thuật không gian, làm tăng kịch tính, đẩy nhanh nhịp độ kể như trong kịch. Không gian Đam Xăn chỉ có không gian hành động, không có không gian phong cảnh. Trong truyện nói chung hầu như không có việc kể chuyện đi đường, hoạt động di chuyển từ không gian này sang không gian khác đều bị tỉnh lược. Đang ở nhà Hơ Nhị, thoắt cái đã sang nhà Đăm Xăn rồi. Đang ở nhà Đăm Xăn thoắt cái đã ở chỗ ông trời rồi.

Trong nhiều sử thi có màu sắc tôn giáo, không gian nghệ thuật có ba tầng: Thượng giới, trần gian và địa ngục, có chiều tâm linh hướng vào thế giới siêu hình  ở phía bên kia thực tại. Đó là điểm khác không gian thần thoại.

3.3.Không gian cổ tích

      Không gian cổ tích gồm hai không gian: không gian người kể chuyện và không gian được kể. Không gian đuạoc kể luôn luôn là một không gian khắc hẳn với nời ta đng kể về nó. Trong không gian được kể của truyện cổ tích, nhất là cổ tích thần kì, kế thừa cấu trúc không gian thần thoại có mô hình cấu trúc hai không gian. Không gian “hỗn độn” mà nhân vật gặp phải sẽ được giải quyết bằng sức nhiệm mầu từ không gian khác. Không gian ấy có thể ở xa như đảo châu báu trong cây khế hay vua thuỷ tề người cho Thạch Sanh cây đàn và nồi cơm kì diệu; có thể là hàm ẩn như trong Tấm Cám, hay Sọ Dừa. Đây là cuộc đấu tranh đổi thay thế giới, lấy lí tưởng của thế giới thiện thay vào thế giới ác. Trong cổ tích phương Tây nhân vật đi khỏi không gian của mình, đến không gian đầy hiểm nguy và lập công ở đó. Tuy nhiên cổ tích khác thần thoại ở chỗ, người kể chuyện cổ tích  kể một quá khứ ước lệ, kể các chuyện thần kì với ý thức hư cấu cho hấp dẫn mà không có niềm tin thực sự như trong thần thoại. Trong cổ tích Nga có khi người kể chuyện cho biết đã đi dự đám cưới của nhân vật, được mời uống rất nhiều rượu ngon, nhưng rượu không chảy được vào mồm, chỉ chảy qua râu rồi đổ ra ngoài. Đó là điều không có thật.

   Không gian cổ tích thường là thảo nguyên, rừng sâu, đồng cỏ, đồi, nơi chứa đựng nhiều điều bí ẩn. (V. Shklovski). Không gian cổ tích xuất hiện theo hành động của nhân vật, hành động đến đâu không gian xuất hiện đến đấy, do đó nó không được vẽ ra, không tồn tại độc lập như trong tiểu thuyết hiện đại. Nó gắn với hành động trong không-thời gian của truyện.

    Theo D.S.Likhachev, không gian truyện cổ tích Nga có một đặc tính là tính không hoặc ít chống đối (cản trở) của môi trường vật chất đối với nhân vật, tức là “tính siêu dẫn” của không gian. Mọi hành động của nhân vật đêu không gặp trở ngại. Nhân vật di chuyển nhanh, núi sông không ngăn trở, Người đi cũng không bị mệt mỏi. Nhân vật giao tiếp cũng không bị trở ngại. Người có thể trò chuyện với loài vật, dân thường có thể đến gặp vua, ngọc hoàng. Cổ tích không có trở ngại về tâm lý. Tấm bị hại không biết kêu lên, Cám bị trả thù cũng không bỏ chạy. Nhân vật cổ tích không có dao động trong tâm lý, nghĩ gì là làm ngay. Không gian không hề gây khó khăn trở ngại cho hoạt động có mục đích của con người. Chính tính kỳ diệu này đã làm sản sinh ra các đồ vật kỳ diệu như chiếc thảm bay, đôi hài bảy dặm, nồi cơm Thạch Sanh ăn mãi không hết… Chính đặc điểm này làm cho truyện cổ tích có thể thỏa mãn mọi ước mơ của con người. Nếu có lúc không gian gây trở ngại thì đó là do ý đồ của lực lượng khác, như mụ phù thuỷ hay do thần linh gây nên. Nhờ tính chất đó tính thần kì từ nhân vật chuyển sang cho các vật thần kì và truyện thần kì  kết thúc được theo ý nguyện của người kể.

Không gian trong truyện cổ tích dược mở rộng tới vô hạn, nhưng luôn luôn gắn với hành động của con người, hành động tới đâu, không gian nới rộng tới đó, nhưng không gian này không có quan hệ với không gian thực tại. Đó là không gian khép kín.

Không gian truyện cổ tích có tính chất trái ngược với không gian tiểu thuyết. Nếu tiểu thuyết không gian luôn gây khó khăn cho nhân vật trong mỗi bước đi, đòi hỏi nhân vật vượt khó, thì cổ tích ngược lại. Đặc điểm này làm cho người tốt luôn luôn được may mắn, thậm chí chú ngốc cũng được gặp may.

3.4. Không gian trong văn học viết trung đại

Trung đại là một phạm trù văn học lớn, sự da dạng của không gian nghệ thuật trong các thể loại và các tác giả, tác phẩm có thể nhận thấy được. Song do chịu ảnh hưởng của một hệ ý thức thế giới quan mà không gian nghệ thuật có nét thống nhất. Ở văn học Trung Quốc, Việt Nam, các học thuyết Nho, Phật, Đạo có chung một mô hình vũ trụ, thiên nhiên là chủ thể, con người là một bộ phận, cho nên nét chung của không gian nghệ thuật ở đây là không gian vũ trụ. Đây là một nét đặc sắc của văn học nghệ thuật Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của nó. Ở nghệ thuật phương Tây không gian được hình dung qua các qui luật hình học, thần thoại, gần như trùng với nhận thức khoa học. Ở Trung Quốc theo nhà mĩ học Tôn Bạch Hoa, ý thức không gian hình thành trong tâm hồn. Nhà thơ Đỗ Phủ có câu “Càn khôn vạn lý nhãn, thời tự bách niên tâm” nghĩa là “mắt nhìn càn khôn xa vạn dặm, lòng theo dõi thời gian tuần tự cả trăm năm”. Nhà thơ Đào Uyên Minh trước đó cũng viết: “Phủ ngưỡng chung vũ trụ, Bất lạc phục hà như !” nghĩa là “cúi ngữa nhìn xuyên hết vũ trụ, không vui thì còn thế nào nữa !” Như thế nghệ sĩ Trung Hoa lắng tâm hồn mà chiếm lĩnh vũ trụ, càn khôn, từ đó mà vẽ ra  các cảnh cụ thể theo nguyên tắc “ dĩ đại kiến tiểu” – lấy tầm mắt lớn mà ngắm nhìn các cảnh nhỏ. Tầm mắt lớn là cái mà tôi gọi là cái nhìn siêu cả thể. Với tầm mắt này các hoạ sĩ, thi nhân có thể vẽ nên những bức tranh sơn thuỷ bao la, xa rộng, hùng vĩ, mà không một nguyên tắc thấu thị nào của phương Tây có thể thực hiện đựơc. Họ vừa bao quát sơn xuyên, lại vừa nhìn vào chi tiết tinh vi như các đường gân trên  cánh con chuồn chuồn!

Không gian vũ trụ được tạo thành bởi nhật, nguyệt, sao, mây, gió, sông, núi, chim muông, cây cỏ, hoa lá… Có thể nói đó là cái nhìn với tiêu cự bằng không toàn tri: cùng một lúc có thể nhìn bao quát xa rộng, vừa nhìn thấy chi tiêt tinh vi.. Các yếu tố ấy tạo thành không gian tồn tại và biểu hiện của con người. Trong tương quan với không gian con người (con đường, ngôi nhà …) vũ trụ luôn luôn là yếu tố chủ đạo. Ví dụ bài thơ Bến đò xuân đầu trại của Nguyễn Trãi:

Cỏ xanh như khói bến xuân tươi

Lại có mưa xuân nước vỗ trời

Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách

Con đò gối bãi suốt ngày ngơi

(Bản dịch)

Không gian con người khi không hoạt động, tĩnh lặng, ấy là lúc cảm thấy được thiên nhiên sống cuộc sống tự nhiên sôi động của nó (quan hệ động/tĩnh).

Không gian vũ trụ đặc trưng bởi bốn bề – bốn phương. Ví dụ như nàng chinh phụ trông bốn bề, Từ Hải động lòng bốn phương. Không gian này cũng đặc trưng bởi chiều cao và tầm xa – người ta thích đăng cao, vọng viễn. Không gian này có tính tương thông, tương cảm giữa con người và vũ trụ. Con người cảm hứng với bốn mùa, với không gian xa rộng, với gió trăng, nhật nguyệt, hoa lá. Bài Đăng cao của Đỗ Phủ đã tiêu biểu cho cảm nhận không gian vũ trụ trong thơ: trời cao, gió mạnh, vượn kêu, nước sông, bãi cát, vô biên lá rụng, bất tận Trường Giang. Một con người trơ trọi giữa không gian cao rộng.

Không gian vũ trụ tạo thành cái nhìn siêu cá thể trong thơ văn. Con người chủ thể tự cảm thấy mình như một khách thể trong vũ trụ, nhìn mình từ bên ngoài, trên cao hoặc ngoài xa, từ đó mà cảm nhận thân thế, sướng vui, đau khổ. Đọc lại bài Phong Kiều dạ bạc, bài Chiều hôm nhớ nhà thì rõ, người khách trên thuyền hay lữ khách trên đường cũng chính là tác giả. Tác giả phân thân để nhìn mình từ khoảng cách xa.

Không gian vũ trụ trở thành mô hình nghệ thuật là bởi vì vũ trụ được cảm nhận như là giới hạn cuối cùng của tồn tại con người. Con người chỉ cảm thấy là mình trong không gian đó. Do đó ngôi nhà, cửa song, cửa sài chỉ là giới hạn ước lệ của bên trong và bên ngoài, nhưng chúng không bao giờ phân cắt con người và vũ trụ. Con người chỉ đóng cửa trước thế giới trần tục.

Văn học trung đại thường có đối lập không gian cố hương và tha hương. Cái trước ấm áp – gần gũi, mang ý vị đồng quê ngọt ngào, cái sau xa lạ, lạnh lùng, đem lại bao điều hiểm họa. Toàn bộ Truyện Kiều của Nguyễn Du xây dựng trên sự đối lập giữa không gian gia đình và không gian tha hương, quê mình/quê người để nhân vật luôn nhớ nhà, luôn cảm thấy sự cô đơn lạnh lẽo. Hơn thế, nhân vật luôn thấy không gian góc biển chân trời, là không gian lưu đày, bị bỏ rơi để khổ đau về thân phận. Trong truyện còn có đối lập không gian giam cầm và không gian giải thoát. Đó là nhà chứa, nhà Hoạn Thư, mà muốn sống nhân vật phải thoát ra. Trong văn học trung đại còn phân biệt không gian sống và không gian chết. Trong Liêu trai chí dị những hồ li tinh xinh đẹp đa tình đều xuất hiện ở những ngôi nhà đổ nát, hoang phế, là không gian chết. Trái lại con người nơi không gian trần thế và con người nơi không gian âm phủ cùng sống theo một quy luật như nhau – dương sao âm vậy. Đó là những không gian khác nhau được quan niệm là của cùng một vũ trụ.

Không gian trong văn học chính là không gian tâm hồn người – Những sân, tường, mái ngói, lều tranh, cửa sài, cửa song, con đường nhỏ… đều là biểu tượng của không gian thân thuộc. Phân biệt không gian thanh cao, ẩn dật và không gian phàm tục. Ngọn suối, núi vắng, luống cúc, giò lan, cây tùng… biểu tượng của không gian ẩn dật, vắng vẻ, thanh sạch – chợ búa, quyền môn biểu tượng danh lợi. Chân trời, góc bể, cuối đất cùng trời, quan tái, ải xa…biểu tượng của sự xa cách, chốn tha hương cô đơn, lạnh lẽo. Đó là không gian đậm màu quan niệm và lý tưởng, khác xa với không gian thực tại đời thường.

Không gian trong thơ sơn thuỷ thường có xu hướng thời gian hóa, các biểu tượng không gian đều trở thành dấu hiệu thời gian. Trong bài Đăng Quán tước lâu của Vương Chi Hoán: “Mặt trời chìm sau núi, Sông  Hoàng xuôi biển sâu. Muốn nhìn xa muôn dặm, Lên nữa một tầng lầu.” Cả không gian đang chuyển động theo thời gian! Cả Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, Đăng cao của Đỗ Phủ, hình ảnh không gian trở thành biểu tượng thời gian. Rõ nhất là không gian thời gian hoá trong bài thơ Thăng long thành hoài cổ của bà Huyện chi tiết nào cũng mang dấu ấn của thời gian. Ông Tôn Bạch Hoa, nhà mĩ học Trung Quốc  gọi đó là không gian biến thành thời gian, thành âm nhạc,  nhịp điệu hóa.

Theo thời gian, không gian vũ trụ trong văn học trung đại hạ dần xuống không gian đởi thường. Trong thơ Nguyễn Khuyến là không gian làng quê, ao chuôm, vườn tược, còn trong thơ Tú Xương là không gian đô thị nhộn nhạo của buổi giao thời.

Ở phương Tây cổ và trung đại có tiểu thuyết phiêu lưu, trong đó biểu hiện một không gian xa lạ (màu sắc xứ lạ, đa dạng) vô cùng tận, nhân vật trôi dạt từ xứ này sang xứ (đất nước) khác. Tiếp đó là tiểu thuyết hiệp sĩ với tư cách là tiểu thuyết thử thách tình yêu, ý chí, tài năng, không gian là lâu đài và môi trường xa lạ thử thách của nhân vật: vào rừng, vượt biển, tới nước xa lạ, đánh nhau với quái vật…Trong thi ca có không gian đồng quê đượm vị mục ca ngọt ngào: đồng cỏ, người chăn, đàn cừu, tiếng sáo véo von…

3.5. Không gian trong văn học cận đại, hiện đại    

       Cận hiện đại là một thời gian dài tính từ phục hưng cho đến hiện nay.

 Do sự đổi thay trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của con người, đặc biệt là thế giới quan mà không gian nghệ thuật trong văn học đã thay đổi. Ở châu Âu sự đổi thay đó thể hiện khá rõ rệt. Trong tiểu thuyết Đôn Kihôtê có tương phản giữa hai không gian hư ảo của hiệp sĩ mặt buồn với không gian thực tế của Sanso Pansa; không-thời gian con đường là con đường phiêu lưu của nhân vật chính cho đến khi nhận ra sự thực. Trong tiểu thuyết bợm nghịch Đường đời của Gil Blas ở Santillane của Lesage điểm nổi bật là sự khám phá không gian bên trong (nội thất) của các ông chủ bằng cách phát minh điểm nhìn của tên đầy tớ, thằng ở. Các nhân vật ăn trộm có thể đào ngạch hoặc  dở mái nhà để nhìn vào nội thất của các ông chủ bà chủ, vf đó là phát minh một điểm nhìn mới vào cuộc sống vốn bị giấu kín. Với tiểu thuyết giáo dục người ta phát triển không gian bên ngoài như là trường đời mà nhân vật sẽ học tập và trưởng thành, chẳng hạn như không gian trong Oliver Twite của Dickens, một không gian đối lập với nhân vật. Trong tiểu thuyết lãng mạn như Những người khốn khổ của V. Hugo sự đối lập hai không gian: không gian những ngưòi khốn khổ và không gian thành phố với những hàng cột đèn sáng, tiêu biểu cho quyền lực.

Nhà nghiên cứu văn học Nga G.P.Makogonenco nhận xét  rằng văn học Tây Âu từ thế kỷ 18 không gian bên trong, nội thất có chức năng mới. Nhân vật văn học hiện thực Tây Âu thế kỉ XVIII là người thuộc đẳng cấp thứ ba phải đấu tranh cho tồn tại của mình. D. Diderot trong “Người cha của gia đình” nêu ra vấn đề địa điểm của hành động : “Một con người sống độc lập thì không thể ở quảng trường, sân khấu ước lệ như pháp điển của chủ nghĩa cổ điển, mà phải sống ở trong môi trường quen .thuộc của nó…do vậy văn học phải thể hiện địa điểm như nó vốn có”. Nếu nhân vật là tư sản thì nó phải ở phòng khách.  Như vậy không gian nhân vật được ý thức. Biểu hiện một nhà tư sản thì phải để anh ta ở phòng ‘khách. Sự sụp đổ của xã hội phong kiến mở ra những không gian rộng lớn cho quần chúng. Những cuộc du lịch vòng quanh thế giới, những cuộc chiến chiếm đoạt thuộc địa, những cuộc đi tìm vàng… mở ra không gian bao la cho nhân vật. Đó là toàn bộ đời sổng xã hội – không gian của con người phải vật lộn với người khác. Robinson Crusoe mở ra cái không gian thiên nhiên bên ngoài để thích nghi và cải tạo. Trong tiểu thuyết Nga thế kỷ XIX không gian bên ngoài chiếm vị trí chủ đạo để thích nghi với nhận thức xã hội. (Kỵ sĩ đồng, Người con gái viên đại uý, Tarax Bulba, Chiến tranh và hòa bình…).  Mô hình không gian này tiếp tục ở Cuộc đời Klim Samgin của M.Gorki , Suối thép của Serafimovich, Chiến bại của A. Fadeev, Vaxili Chiorkin của Tvardovski, Sông Đông êm đềm của Solokhov… Đó là tiểu thuyết giải quyết vấn đề con người trong xã hội.[3]

Trong Tấn trò đời, Balzac xem xã hội như một cái biển lớn,rộng vô cùng, một vực sâu đầy bí ẩn. Môi trường sống (không giannhỏ) thấm nhuần đặc điểm cá tính, bí ẩn. Mỗi tác phẩm chỉ là biểu hiệnchấm phá của không gian lớn kia. Balzac tạo ra cặp đối lập Paris vàtỉnh lẻ để để cho những kẻ tham vọng xâm nhập, vật lộn cùng Paris. Đối với Flaubert, tỉnh lẻlại là tượng trưng cho nước Pháp ngưng trệ và tan rã như  Ruant,Ionvil ở trong Bà Bôvary, người ỏ vùng quê đến sống và chết ở đó. Trong các tiểu thuyết này chiếm vị trí chủ đạo là không gian sinh hoạt đời thường (như ở Balzac), nhưng còn có thêm không gian công cộng (cảnh triển lãm nông nghiệp), không gian tâm hồn (thế giới tưởng tượng của nhân vật) hư  ảo đối lập với thực tại. Không gian này chủ yếu mang nội dung xã hội, lịch sử.

Bước sang thế kỉ XX các hình thức không gian trong tiểu thuyết hiện đại đã đổi thay về chất và cực kì đa dạng. Đặc điểm chung của các hình thức không gian là giảm thiểu tác động của thời gian, xáo trộn thời gian, phát huy cắt dán, một thủ pháp mà Frederic Jameson trong sách nghiên cứu Chuyển hướng văn hoá đã viết: “Thủ pháp tiêu biểu nhất của hiện nay của chủ nghĩa hậu hiện đại là lắp ghép, cắt dán.”[4]

3.6. Hình thức không gian trong tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện đại

Khái niệm hình thức không gian lần đầu tiên được nhà nghiên cứu Mĩ Joseph Frank nêu ra năm 1945 ( trong sách Spatial Form in Modern Literature). Mọi người đều biết văn học là nghệ thuật thời gian, truyện kể, tình tiết chỉ có thể triển khai trong thời gian với tíh liên tục. Nhưng sang đầu thế kỉ XX đã có sự đột phá. Tính chuyện suy giảm, nhiều tiểu thuyết không có chuyện, không có kết, thậm chí cónhiều kết, có tiểu thuyết chỉ có các mở đầu , không bao giờ có kết. Tiể thuyết chỉ là sự đào sâu vào tâm tư nhân vật, vào dòng ý thức, thế là hình thức không gian xuất hiện. Tác phẩm chỉ là sự lắp ghép các mảng, khối hồi ức không theo thứ tự thời gian, mảng này bên cạnh mảng kia, tạo thành trật tự không gian của kết cấu.Ông đã phân tích tác phẩm của Paund, Joyce, Proust, Djuna Barnes để rút ra ý nghĩa của hình thức không gian.

Từ những nam 20, trong các sáng tác của mình Franz Kafka đã sáng tạo ra những hình thức không gian mới. Không gian trong Lâu đài có ý nghĩa cách tân đặc biệt, là người đặt nền móng cho thi pháp không gian hiện đại. Nhân vật K hoàn toàn không có thời gian: không có quá khứ, lịch sử, không hồi tưởng, nhân vật hoàn toàn nằm trong hiện tại. không gian chủ yếu của truyện là con đường, nhưng không dẫn tới đâu. Nhân vật chính không có không gian: không có nhà, không có quê hương. Từ khi xuất hiện bên cạnh lâu đài với lời mời tù mù làm chân đạc điền, K chỉ có ở trọ, tạm thòi từ chỗ này ròi sang chỗ khác. Giữa hai không gian làng và lâu đài,  thì lâu đài tuy là nơi đề ra mọi mệnh lệnh đầy quyền uy, nhưng chỉ là một không gian hư ảo, chỉ được nói đến trong đối thoại, được nhìn ngắm từ xa, chứ không xuất hiện thực tại. Người ta chỉ thấy được hậu quả của các mệnh lệnh của lâu đài mà không tiếp cận được nó. Nó hoàn toàn bí ẩn. Đó là hình thức không gian huyền thoại. Làng là không gian sinh hoạt, làm việc thực tế nhưng không tiếp nhận K. Trong các tác phẩm như Vụ án, Làng gàn nhất, Hoàng đế và mê lộ… đều thể hiện một kiểu không gian mới, có tính huyền thoại.Đó là không gian mê cung nhân vật một khi rơi vào là không có lối ra.

Tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của Wiliam Faulkner viết năm 1929 đã sáng tạo ra hình thức không gian của tiểu thuyết bằng cách đảo lộn trật tự thời gian, xoá bỏ cốt truyện, các mảng thời gian khác nhau được đạt bên nhau theo lối cát dán. Chương một kể chuyện ngày 7 -4-1928; chương hai kể chuyện của 18 năm trước, ngày 2 – 6 – 1910; chương ba kể chuyện lùi lại một ngày so với chương một: ngày 6 – 4 – 1928; chương bốn kể chuyện ngày 8 – 4 – 1928. Các chương khác thời được đặt bên nhau buộc người đọc cảm nhận các sự kiện như trong không gian, giống như bản giao hưởng trầm buồn trong tiếng khóc rền rỉ của thằng khùng Benjy đã 33 tuổi mà hiểu biết như trẻ lên ba, tiếng quát tháo của Jacson và tiếng nói dịu hiền của Dilsey. ở đây không gian gắn với điểm nhìn của nhân vật. Chương một là không gian của thằng khùng,bị mất trí, chỉ còn cảm nhân thế giới bằng cảm giác vụn vặt có tính biểu tượng. Chương hai cái nhìn tuyệt vọng của Quentin, chương ba cái nhìn quyền uy, tàn bạo của Jacson. chương cuối là không gian bình thường. Câu chuyện bị xé ra từng mẩu để dặt bên nhau mà không theo trật tự thời gian.

Ngoài những người tiên phong nói trên, thế kỉ XX đã chúng kiến sự xuất hiện của nhiều hình thức không gian nghệ thuật mới.

Hình thức lồng hộp, là hình thức bắt nguồn từ truyện Nghìn lẻ một đêm, hoặcgiống như món đồ chơi Nga “matroshka”, trong con búp bê gỗ to chứa đựng lần lượt các con nhỏ hơn cho đến khi không thể làm nhỏ hơn nửa. Hình thức lồng hộp cũng vậy, Trong truyện lớn lồng vào các truyện nhỏ và theo đó, từ không gian ban đầu người kể lồng vào các loại không gian khác nhau. Chẳng hạn trong tiểu thuyết Sát thủ mù (2000) của nhà văn Canada Magaret Atwood là một hình thức như thế. Tác phẩm có hai nhân vật chính: Laura, khi tiểu thuyết mở đầu đã bị tai nạn xe hơi chẹt chết. Nhân vật khác là chị của Laura, Alice, sống trong cái bóng của người chết, chìm đắm trong những hoài niệm sắp bị lãng quên của người ấy. Khi mở đàu Alice đã là bà cụ 82 tuổi, sống trong một thị trấn nhỏ. Tiểu thuyết có  nhiều tầng bậc: Bậc cao là do Alice kể, bậc thấp có tiểu thuyết do Laura viết khi còn sống, kể về mối tình của cô, một người giàu với một chàng trai nghèo. Trong tiểu thuyết của mình, Laura lại tạo ra một không gian tưởng tượng ra một hành tinh khác tràn ngập tình yêu, sự hi sinh và bội phản. Tất cả có ba câu chuyện, chúng được ghép bên nhau, cắt dán vào nhau.

Hình thức vòng tròn thể hiện rõ nhất trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của nhà văn G. G. Marquez. Trong tiểu thuyết không có cốt truyện liên tục theo thời gian nhân quả để người đọc chờ đợi. Câu mở đầu : “Rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình đại tá Aureliano Buêndya đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn chàng đi xem nước đá” đã vẽ ra một khung thời gian có hiện tại như điểm nhìn về quá khứ, một khoảng cách thời gian rất dài, và đặc biệt cái thời gian đứng trước họng súng của đội hành hình, nó là thời gian ngừng trôi, vĩnh hằng. Cái thời điểm ấy sẽ còn được nhắc đi nhắc lại trong tác phẩm. Trăm năm cô đơn là câu chuyện thịnh suy của giòng họ Buêndya, những người lập ra làng Macônđô trong suốt một trăm năm, qua bảy đời với nhiều chủ đề: loạn luân, biệt lập, chiến tranh, độc tài. Chuyện các đời không theo nhân quả, người kể chuyện đứng ở thời hiện tại, kể chuyện từng số phận theo một trật tự vòng tròn, sinh ra ở Macônđô và chết ở Macônđô, cho đến khi cơn lốc thổi bay mất cả cái làng này khỏi quả địa cầu.

Các hiện tượng nghệ thuật trên cho thấy muốn thay đổi hình thức không gian trong tiểu thuyết thì người ta buộc phải đồng thời đổi thay thời gian, rút ngắn, xáo trộn…thì mới tạo được hiệu quả, bởi không gian và thời gian không tách rời nhau.

Hình thức không gian làm cho văn bản nghệ thuật trở nên đa nghĩa.

IV. PHÂN TÍCH MỘT SỐ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT CỤTHỂ

4.1. Không gian trong Oblômốp của nhà văn Nga I.Gôncharốp

Oblômốp là một tác phẩm.nổi tiếng của văn học Nga thế kỷ XIX, đã sáng tạo hình tượng Oblômốp, điển hình cho cuộc sống Nga trì trệ. Để thể hiện tính trì trệ, tác giả đã thay đổi không gian làm cho nhân vật bộc lộ tính chất kém thích nghi của nó. Trong phần một kể về cuộc sống của nhân vật đóng kín trong gian phòng với ba điểm: đivăng – ghế bành và giường nằm. Nhân vật hầu như ngần ngại đi ra ngoài. Tính cách này phản ánh tình trạng lười nhác được nuôi dưỡng từ tấm bé. Một lần tuyết xuống, bé Oblômốp thích quá, chạy ra ngoài trời. Cả nhà náo động bế vào, mặc ấm, sưởi ấm, la mắng gia nhân lơ đễnh để cậu chạy ra ngoài,, gây cho cậu bé ấn tượng là không gian bên ngoài là hiểm hoạ, có hại. Lớn lên Oblômốp quen ngồi ở bàn dọc sách báo, về sau quen lười: bình mực khô ruồi làm tổ, ở trong tờ báo mở để trên bàn nhưng là báo cũ vì không ai đọc v v… Phần hai kể chuyện tình yêu Oblômốp với Olga, không gian được mở rộng: nhà Olga ở Peterburg, nhà nghỉ của Olga, nhà nghỉ của Oblômốp ở ven thành phố, các vườn hoa. Càng ra ngoài, Oblômốp càng trẻ trung, nhanh nhẹn, hồng hào, ước mơ hạnh phúc. Sự mở rộng không gian làm sống lại ước mơ bay nhảy thời thơ ấu. Phần ba tiểu thuyết lại mở rộng không gian hơn. Người yêu mời Oblômốp đến nhà Olga ở bờ biển, nhà hát, vườn mùa hè, dòng sông Nhêva. Oblômốp ngần ngại, không muốn đi xa quá, anh ta cảm thấy khó ở. Oblômốp đành chia tay với ngùởi yêu.

Ở phần bốn của tiểu thuyết, không gian bịthu hẹp lại. Ngôi nhà quen thuộc. Sân nhà người tình – bà góa Psênhixina, chật chội, buồn chán. Khi nhân vật Oblômốp bị bệnh thấp khớp ngồi một chỗ trên giường thì không gian thu lại còn một điểm cho đến khi chết.

Nhà văn dùng phép thay đổi không gian:  thu hẹp, mở rộng, rồi thu hẹp, thể hiện một cuộc sống ngưng đọng đã xói mòn năng lực con người, cho đến khi cuộc sống cần bay nhảy, nhân vật không còn năng lực để đáp ứng và quay về chết già trên giường bệnh. Không gian nghệ thuật là hình thức thể hiện quan niệm về thế.giới và con người.

4.2. Không gian trong truyện Tarax Bulba của Gôgôl

Không gian trong truyện mang tính chất vô hạn. Tiêu điểm của không gian là Xét Dapôrôgie, doanh trại của quân Côdăc, nơi dòng sông Xét từng chảy qua trước khi đổi đòng – một dòng sông luôn thay đổi vị trí. ở Xét không có hàng rào, không có nhà ở cố định. ở đấy người ta không thấy có hàng rào, không cố các ngôi nhà nhỏ với các tấm rèm che nắng chống trên các cột gỗ thấp như ở các vùng ngoại ô. Một tường đất và một cái kho không lớn không ai bảo quản đã cho thấy một sự vô tâm lạ lùng. Bức tường được cảm nhận như một sức mạnh thù địch với người Dapôrôgie.’ Họ cũng không thích thành quách, không coi đó là sự che chắn, bảo vệ cho mình mà coi là kẻ thù. Một kẻ thù khác là đồ vật. Mỗi khi ra đi, họ đều đập vỡ các đồ vật, không xem đấy là tài sản, cũng như nhà cửa ở xong rồi vứt bỏ, các ranh giới làm ra để mà phá hủy, và vượt qua, như một cuộc giải phóng. Đồ vật, nhà cửa đối lập với bầu trời và thảo nguyên là hai thứ toàn vẹn, không thể cắt chia. Và không gian ấy hòa hợp với tất cả mọi thứ không bị cắt chia như âm nhạc, múa nhảy, cuộc say, tình đồng đội.Không gian vô hạn được gợi ra bằng cách vẽ ra một đường ranh giới, rồi vượt qua nó, rồi mở rộng ra mãi. Hành quân đối với người Dapôrôgie là vượt ra khỏi giới hạn của mình. không gian ấy luôn động. Khi đoàn côdắc phi ngựa nhanh, biến mất trong đồng cỏ, người ta thấy một ánh chớp loang loáng của cỏ nén lại. Họ như được nâng lên bầu trời. Hành vi con người gắn với cảm quan không gian của họ, không gian ấy trở lại quy định hành vi con người. ở Tarax Bulba hiển hiện không gian bao la của những con người vươn tới tự do.

4.3. Không gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu

          Tố Hữu đã sáng tạo ra một không gian nghệ thuật từ trong lòng thơ cổ điển, thơ mới, dần dần trở thành một thế giới thơ mới hẳn. Thơ Tố Hữu hướng tới sáng tạo những không gian mang tầm khái quát mới như trường giao chiến, trường tranh đấu, sự đối lập tầng cao và hầm người trong lâu đài xã hội. Dần dần ông phát hiện ra không gian con đường cách mạng xuyên suốt thơ ông, từ Từ ấy, qua Việt Bắc đến Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa. Thơ Tố Hữu phải tạo ra một không gian của cuộc chuyển mình xã hội đầy hào hứng và cao cả. Iu.Lốtman có nhận xét: “Muốn trở thành cao cả thì không gian không chỉ cần phải bao la (hoặc vô bờ bến), mà còn phải có phương hướng và con người ở trong đó cũng phải vận động về một mục đích. Không gian ấy phải trở thành con đường”. Đúng như vậy – con đường, đó là một trong những hình thức không gian cơ bản nhất tổ chức nên thơ Tố Hữu. Con đường và người đi đường là hai mặt của không gian. Con đường vận động có hướng do đó gắn với phương hướng phát triển của lịch sử, của thời gian. Con đường là không gian lộ thiên do đó gắn với không gian vũ trụ truyền thống trong thơ cổ điển.

Nhiều bài thơ miêu tả con đường như Ta đi tới, Việt Bắc, Trên đường thiên lý, Đường sang nước bạn, Bài ca mùa xuân 61 vv… Nhiều bài chỉ miêu tả người đi cũng gợi ra con đường. Có bài nhân vật ngồi trong phòng vẫn cảm thấy như đứng trên đường, như Sáng Tháng Năm. Rõ ràng không chỉ là hình ảnh con đường mà còn một cảm thức về con đường ngập tràn trong thơ Tố Hữu. Và thơ ông như là thơ làm trong không gian con đường ấy.

Con đường là không gian công cộng, đối lập với không gian của cuộc sống riêng tư. Chị con mọn Bắc Giang để con ở nhà, bà mẹ anh bộ đội ru cháu ở nhà.. Trên con đường có thể gặp đủ mọi tầng lớp người tham gia kháng chiến, từ lãnh tụ đến em thiếu nhi, anh công nhân làm ra ánh sáng đến những cô dân quân v.v… Con đường là không gian của ngày hội. Ở đây nghe đủ các thứ tiếng gọi,tiếng reo, tiếng hát hò

Con người trên đường đều là người đi tới. Ai cũng có dáng đi tới mạnh mẽ, hào hùng. Anh bộ đội:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo.

Người Việt Nam mới:

Ngực dám đón những phong ba dữ dội

Chân đạp bùn không sợ những loài sên.

Bác Hồ:

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người.

Đó là dáng dấp, tư thế của hình tượng con người trong thơ Tố Hữu. Con người được đặc tả với bàn chân:

  • Chân ông còn mãi dấu son trên đường
  • Những bàn chân từ than bụi lầy bùn
  • Đã bước dưới mặt trời cách mạng …
  • Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ
  • Em sẽ đi trên đường ấy thênh thang
  • Như những ngày xưa rực rỡ sao vàng.
  • Nhớ đôi dứp cũ nặng công ơn
  • Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn…

Các hình ảnh tượng trưng có tính chất vận động: con thuyền, cỗ xe, cánh chim, con tàu. Không gian trong thơ liền mạch liền đường. Con đường gắn với không gian vũ trụ, đầy thiên nhiên, nắng, gió. Hình ảnh nhà thơ cũng luôn luôn chạy, đi, bay trong cuộc hành quân vô tận:

Kế hoạch năm năm. Mời những đoàn quân

Mời những bàn chân, tiến lên phía trước

Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!

Trên con đường này, người ta nghĩ đến lịch sử, nhớ lại hôm qua, mơ tới ngày mai.

Không gian con đường là không gian mở, lộ thiên, gắn với bầu trời, với làng mạc, đất nước. Một mặt, con đường gắn với không gian vũ trụ trong văn học truyền thống, với mặt trời, trăng, sao, nắng, gió…khiến cho nhà thơ có nhiều câu thơ đẹp về các hiện tượng ấy. Mặt khác không gian con đường gắn với miêu tả không gian đất nước hiện đại, tên các địa phương xuất hiện liền mạch, liền đường.

Nhà thơ thường dùng những không gian cao rộng, đường nét thảng dứng gợi ra cái đẹp mạnh mẽ, cảm xúc cao cả. 

Cảm thức trên đường là cảm thúc có thật của con người Việt Nam  từ sau 1945, nó là cảm thức điển hình nhất, phổ biến nhất đối với người Việt Nam những năm tháng ấy. Cuộc cách mạng đã lôi kéo mọi người ra khỏi gia đình, ngôi nhà riêng tư, khỏi “luỹ tre xanh” để hành quân đi vào đội ngũ mới, thời đại mới, đến nhũng miền đất mới. Ai cũng từng trải những lúc trên đường, giữa đường. Chính vì vậy, không gian thơ Tố Hữu gần gũi với mọi tâm hồn Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh cách mạng.

4.4. Hình thức không gian trong tryện ngắn Không Ất Kỉ của Lỗ Tấn

Khổng Ất Kỉ là một truyện ngắn đặc sắc của Lỗ Tấn trong tập Gào thé, kể số phận của anh KHông Ất Kỉ, thoe nghiệp thi cử những thất bại, đời sa sút, trở thành kể viết thuê, rồi ăn cắp, ăn xin, nhưngluôn giữ vẻ tri thức hơn người, nhưng hực tế chỉ làm trò mua vui cho khách uống rượu tại quán Hàm Hanh. Một học giả Trung Quốc đã phân tích hình thức không gian của nó. 1. Tình tiết truyện không gian hoá.Nhân vật chỉ được miêutả mỗi khi xuất hiện tại quán rượu, là tổng số các lần xuất hiện, không có câu chuyện từ đầu đến cuối.2. Mỗi lần xuất hiện thể hiện môt nét tính cách của nhân vật, một đặc điểm, sự tích trong đời anh ta. 3. Tác phẩm chỉ là sự lắp ghép các mảng, khối không liên tục trong cuộc đời nhân vật xuất hiện tại quá rượu hay do ngườikhác nhớ đến. Từ mở đầu đến kết thúc Nhân vật đều vắng mặt, chỉ có tiếng cười vui vẻ vang lên mỗi khi nhắc đến anh ta hoặc là anh ta đến. Hìh thức này thích hợp để khắc hoạ một nhân vật –hiện tượng đã lỗi thời, một bi kịch đã lùi vào quá khứ. Hình thức không gian trong tác phẩm này không phải là rất điển hình, nhưng cũng cho thấy những mầm mống trong văn học đầu thế kỉ XX.


[1] Enest Cassirer. Triết học các hình thức biểu tượng. Tập 2: Tư duy thần thoại. Không gian, thời gian và số.

[2] Diệp Thư Hiến. Triết học thần thoại Trung Quốc. Nxb. Khoa học xã hội TQ, Bắc Kinh, 1993, tr. 24.

[3] Makogonenco G. P. Không gian nghệ thuật trong văn học hiện thực chủ nghĩa. . Trong sách Di sản văn hoá trong văn học Nga. M., 1976, 239 -244.

[4] F. Jameson. Chuyển hướng văn hoá. nxb. KHXH, Bắc Kinh, 2000.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s