QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI (3)

  1. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC CẬN HIỆN ĐẠI

Thời cận hiện đại tính từ thời Phục Hưng. Thời đại của những thay đổi lớn lao trong quan niệm triết học, quan niệm con người. quan niệm văn học. Đây là thời kì có nhiều biến động dữ dội. Từ đề cao con người với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa nhân đạo đề cao lí tính đến con người vô thức, phi lí tính, đến hoài nghi con người.

3.1.Con người trong văn học thời đại Phục Hưng

          Phục hưng (Renaissance có nghĩa là làm sống dậy các giá trị người của thời cổ đại Hi Lạp, La Mã ) ở phương Tây từ thế kỉ XIV – XVI là thời đại của con người tự do, của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa mà nội dung là giải phóng con người cá nhân khỏi chủ nghĩa cấm dục thời trung cổ. Đây là lúc ý thức cấm dục bị phai nhạt, ý thức thế tục thắng thế. Người ta chỉ tin vào những gì thiết thực đối với cuộc sống. Những gì viễn vông bị chế giễu. Đây cũng là thời kì làm sống dậy những bức tranh loã thể  giống như thời cổ đại, nhưng với một tinh thần mới, phô bày vẻ đẹp trần thế hấp dẫn đầy sức mạnh của con người. Là lúc xuất hiện những con người khổng lồ, sống để thoả mãn dục vọng như Gargantur và Pantagruel. Những người trong tu việm Teleme đã nêu ra khẩu hiệu :”Hãy làm cái gì mình thích”. Nhưng tự do cho cái tốt thì cũng tự do cho cái xấu. Shakespeare đã miêu tả rất nhiều cái xấu, cái ác trong các vở kịch của ông, bên cạnh những cái tốt đẹp, vui vẻ. Truyện Mười ngày của Bocassio chủ yếu kể những chuyện trái đạo mà không bị trừng phạt để con người được sống vui vẻ. Nhà mĩ học Nga Ju. Borev trong sách Mĩ học (2002) đã khái quát, “nếu trong văn học trung đại nổi lên sự tuỳ tiện của chúa trời, thì văn chương Phục hưng nổ ra sự tuỳ tiện của con người. Đó là quan niệm nghệ thuật về con người thời đó.”[1]  Ju.Lốtman nhận định, con người trong văn học Phục Hưng, Khai Sáng là con người tự nhiên trần thế, sống vui vẻ với đời sống bản năng của mình. Điều này có thể quan sát qua tác phẩm của Rabelaise Gargantur và Pantagruel của ông. M. Bakhtin chứng minh, thời Phục hưng đánh dấu sự đổi thay trong quan niệm về thân thể con người. Ngoài các tranh loã thể trong hội hoạ, trong tác phẩm của Rabelaise thân thể con người được miêu tả dưới nhiều góc độ. Góc độ giải phẩu sinh lí người, góc độ nghịch dị, cười cợt kiểu dân gian, góc độ tình dục. Về giải phẩu sinh lí, nhà văn miêu tả rất nhiều cuộc chiến đấu, giết người, mỗi lần giết người là phơi bày hộp sọ, nội tạng, tim phổi, ruột, dạ dày.  Lại còn miêu tả cuộc du hành vào thân thể người. Khi Pantagruel rửa dạ dày, anh ta nuốt những viên bằng đồng lớn vào dạ dày, sau đó các viên đồng mở cửa ra và một tốp công nhân mang dụng cụ làm vệ sinh tẩy rửa cho anh ta. Thân thể nghịch dị gắn với các biện pháp khuếch đại, miêu tả thân thể gắn với ăn uống, phóng uế, tiểu tiện, sinh đẻ, giao hợp. Phần dưới của thân thể luôn được nhắc đến trong tình tiết hoặc trong các ví von, ẩn dụ. Ví dụ khi mẹ của Gargantur sắp đẻ người ta thấy một đoàn xe từ cửa mình đi ra chở đầy thực phẩm. Hoặc người ta kháo nhau bóng của tháp chuông nhà thờ đổ xuống cũng có thể làm đàn bà con gái có chửa. Pantagruel đái ra thành cả cái hồ, và nhấn chìm hàng nghìn quân địch vào hồ nước đái của mình. Panurge xây một bức tường trên đó toàn các phù điêu thân thể đủ các loại người từ trẻ đến già, nam lẫn nữ với đủ các loại tư thế. Quan niệm nghệ thuật về thân thể đó góp phần tạo nên “chủ nghĩa hiện thực nghịch dị “ của nhà văn này theo quan niệm của Bakhtin.[2]

3.2.Con người trong thời cận đại: chủ nghĩa cổ điển, khai sáng, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực. 

Chủ nghĩa cổ điển theo Pospelov là trào lưu văn học đầu tiên trong lịch sử văn học phương Tây và nhân loại, tồn tại trong khoảng cuối thế kỉ XVI – XVIII. Trào lưu này vì mô phỏng cổ đại, trở về với cácc quy phạm nghệ thuật cổ dại, cho nên gọi là chủ nghĩa cổ điển. Do quan niệm của R. Decartes đem đối lập tnh thần và vật chất, đối lập dục vọng, tình cản với nghĩa vụ. Boileau lại hô hào nhà văn phải tuân theo lí tính, và còn do chủ nghĩa chuyên chế thắng thế, các nhà văn chủ nghĩa cổ điển cho rằng tình yêu là biểu hiện cao nhất của tình cảm cá nhân, còn nghĩa vụ là tinh cảm công dân cao cả nhất. Kết quả là trong bi kịch của họ thường là các xung đột, mâu thuẫn giữa tình yêu và nghĩa vụ, mà bao giờ tình yêu phải hi sinh cho nghĩa vụ. Họ tuân thủ “luật tam duy nhất” về không gian, thời gian, địa điểm, bài xích các chi tiết đời thường, tránh dùng các từ ngữ được coi là dung tục (không gọi con chó là chó, không đề cập các vật tầm thường như chiếc khăn tay. Họ giếu vở kịch Othello của Shakespeare là bi kịch “chiếc khăn tay.” Do quan niệm đó mà sáng tác của họ nghèo nàn và đậm tính chất giáo huấn và tình chất quan phương, đang gọi là nghệ thuật của nhà nước.

Nếu con người trong chủ nghĩa Khai sáng thiên về lí trí, ví như Cháu ông Rameau của Denis Diderot hay Cuộc phiêu lưu của Guliver của Swift cho thấy cách nhìn lí trí, tương đối đối với con ngươì, thì trong sáng tác của chủ nghĩa tình cảm nổi lên con người tình cảm, nhạy bén, xúc động trước đức hạnh, khiếp sợ cái ác, họ nhìn mọi sử ở đời qua lăng kính tình cảm, lí tưởng hoá các phẩm chất đẹp của con người, và không nhìn thấy gì ngoài chủ quan của con ngươì. Trong văn học chủ nghĩa tình cảm thường có ý vị mục ca hay vẻ đẹp điền viên, nó là khúc tưởng niệm cuộc sống ngọt ngào nguyên thuỷ ở đồng quê thi vị như kiểu nàng quay tơ, chàng ngâm thơ, hoặc tình yêu của các cô với các chàng chăn cừu thơ mộng.

Chủ nghĩa lãng mạn là sản phẩm của ước mơ lớn và thất vọng lớn của con người về những khả năng cải tạo xã hội theo các nguyên tắc mới tự do, bình đẳng, bác ái. Nó phát hiện cái ác la vĩnh hằng và cuộc đấu tranh chống cái ác cũng vĩnh hằng, tạo nên nỗi buồn sâu xa của con người lãng mạn. Trong chủ nghĩa lãng mạn có con người đóng vai ác quỷ, tên cướp để phá vỡ trật tự cũ, những kẻ dám làm những điều “trái đạo” chống lại cái cũ như vở kịch Những tên cướp của Schiller. Karl Moor phất cờ nổi dậy trong rừng chống lại ách chuyên chế của Franz Moor, người anh em của chàng, cho thấy mối quan hệ ruột thịt của hai kẻ thù, giống như có ánh sáng thì có bóng tôi và ngược lại cũng vậy, cả hai cùng tồn tại mãi.

Chủ nghĩa lãng mạn nhìn thấy sức mạnh của cá nhân, nhưng cũng thấy sự cô đơn của con người trong cuộc chiến chống lại cái ác, nhưng vẫn nuôi những giấc mộng đẹp về sự cải tạo thực tế.

Chủ nghĩa hiện thực là trào lưu văn học xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX và tồn tại, biến hoá  cho đến suốt thế kỉ XX với những biến thể khác nhau. Chủ nghĩa hiện thực là sản phẩm của cái nhìn thực tế, Cuộc đời đầy ảo vọng, khổ nạn và nhà văn ra sức đi tìm, phân tích các nguyên nhân của nó để không còn ảo tưởng nữa. Nó nhìn ra cuộc sống là một tấn trò đời, đầy dối trá, lừa gạt, áp bức, bất công, đầy khổ đau, mất mát, nhưng người ta vẫn cố sống và hi vọng vào cải thiện. Chủ nghĩa hiện thực miêu tả cuộc sống con người giống như thật, xét nó trong các quan hệ xã hội của hoàn cảnh (các tầng lớp người), các quan hệ kinh tế, văn hoá, quyền lực, tâm lí, đạo đức, tín ngưỡng). Nhà phê bình văn học Nga V. Bielinski nói: Chủ nghĩa hiện thực miêu tả hiện thực dưới hình thức của bản thân đời sống.  Câu này xác nhận tính như thật của  khuynh hướng này, nhưng cũng có tính mơ hồ, bởi hình thức đời sống cho phép có cả huyễn tưởng, kì ảo, hoang đường… vì đời sống vốn có cả các biểu hiện ấy. Chủ nghĩa hiện thực coi trọng tính quyết định của hoàn cảnh sống, coi trọng các ngẫu nhiên, chú trọng các chi tiết, phơi bày mọi ung nhọt và mọi tính chất tầm thường, đê tiện của đời sống với cái nhìn mỉa mai, cười cợt, châm biếm. Nó nhìn thấy sự tầm thường của con người và con người không thể mơ tưởng có một cuộc sống tốt hơn. Nó nhận thấy sự bất lực  và mặt tối của con người, không thi vị hoá hay lí tưởng hoá như chủ nghĩa lãng mạn.  Chủ nghĩa hiện thực thấy sự vận động đổi thay của con người trong thời gian.

Với chủ nghĩa hiện thực quan niệm con người đã có sự đổi thay căn bản. Con người có đủ mọi biểu hiện do bản tính và môi trường tạo nên.

Balzac nói: “ Tính cách tôi đặc biệt nhất. Tôi quan sát bản thân, như quan sát người khác, với thân hình cao 1 mét 7, tôi bao gồm tất cả khác biệt và mâu thuẫn mà mọi người khác đều có thể có. Có người cho tôi kiêu ngạo,lãng mạn, ngoan cố, hời hợt, suy nghĩ tản mạn, ngông cuồng, sơ suất, lười biếng, chậm chạp, thiếu ý tứ, không có hằng tâm, lắm lời, không chu đáo, thiếu lễ độ, thiếu giáo dục, gàn chướng, hay tự ái, làm mình làm mẩy.  Một số người khác thì cho rằng tôi tiết kiệm, khiêm tốn, dũng cảm, ngoan cường, có nghị lực, không làm dáng, chăm chỉ, có niềm tin, ít lời, chu đáo, có lễ độ, vui vẻ, tất cả đều có lí cả. Người nói tôi nhát gan, không nhất thiết họ dũng cảm hơn tôi, bảo tôi bác học hoặc ngu dốt, có tài hay ngu xuẩn cũng vậy. Không có cách nói nào khiến cho tôi lấy làm ngạc nhiên cả.”

L. Tolstoi nói: “Một trong những sai lầm thường thấy là người ta cho rằng con người thiện, người ác, người ngu, người thông minh. Con người chảy trôi và trong đó có nhiều khả năng; người ngu trở thành người thông minh, người ác trở thành người lương thiện.” Câu nói này đúng với Chí Phèo của Nam Cao.

Trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ hình tượng Pavel Vlasov trong Người mẹ của M. Gorki , Pavel Korchagin của N. Ostrovski, hình tượng người cộng sản trong phim Người cộng sản của Evgenie Gavrilovich, đều là kiểu con người hi sinh tất cả cho cách mạng, trong đó có hình mẫu đấng cứu thế, chịu thương khó để giải phong xã hội có từ nghìn xưa.

3.3.Chủ nghĩa hiện đại và sự thất vọng với con người

Văn học nghệ thuật tiền phong chủ nghĩa phát triển song song với chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX. Văn học tiền phong là tên gọi chung chỉ các trào lưu tiền hiện đại (giữa thế kỉ XIX), hiện đại (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX) và tân  hiện đại (đầu thế kỉ XX đến những năm 60, hậu hiện đại (từ năm năm mươi thế kỉ XX về sau). Tiền hiện đại bao gồm chủ nghĩa tự nhiên, một hình thức cực đoan của chủ nghĩa hiện thực. Con người trong văn học này như sáng tác của E. Zola, anh em nhà Goncourt, G. Flaubert  cho thấy, họ miêu tả tất cả mọi chi tiết về đời sống của con người. Con người được hiểu như một sinh vật xã hội, bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên như  bệnh tật, huyết thống, sinh lí. Đó là sản phẩm của thời đại khoa học thực chứng phát triển, tinh thần khoa học lên cao. Khoa học thực chứng coi trong phân tích, nghiên cứu con người theo từng mặt mà không nhìn thấy con người toàn vẹn chỉnh thể. Zola đã đem khoa học áp dụng vào tiểu thuyết là một cách rất tự nhiên, hợp lí, song ông cực đoan dẫn đến phi lí như các nhà phí lí đương thời.Trong bài báo Tiểu thuyết thực nghiệm (1881) ông viết: “Y học cũng như là tiểu thuyết, nó là một nghệ thuật, sự thật đó đã quyết định lựa chọn của tôi”.Ông theo thuyết hoàn cảnh quyết định luận của Darwin để tiến hành nghiên cứu con người. Sự áp dụng khoa học như thế trở thành rất chủ quan, tuỳ tiện. Tiểu thuyết của Zola đánh dấu huyền thoại con người đã sụp đổ. Ông sinh sau Balzac, Hugo  và đinh ninh sẽ vượt qua các ông ấy, di truyền và y học là vũ khí của ông. Trong bộ Giòng họ Rougon – Macquart ông muốn miêu tả lịch sử của một gia tộc. Nhưng tiền đề của ông, con người trước hết là sinh vật, bắt đầu từ huyết thống, sinh lí, nó sinh ra những con người có tính cách, tính dục khác nhau. Bà Adelaide Fouque có bệnh thần kinh, lấy Rougon đẻ ra những đứa con khoẻ mạnh. Sau khi chồng chết bà tạp giao với một kẻ mang bệnh thần kinh khác để ra toàn những đứa con mang bệnh thần kinh. Những đứa con đầu có người làm ngân hàng, thầy thuốc, người làm nhà chính trị thuộc xã hội thượng lưu, còn những người con sau thì chỉ làm công nhân, nông dân, tạp vụ, kĩ nữ. Hoàn cảnh và kết cục mỗi người khác nhau nhưng lí do chính của đời họ là huyết thống di truyền. Nhân vật Nana trong tiểu thuyết cùng tên có thể coi là biểu tượng của bản năng tình dục. Bản năng ấy trong đời sống xã hội đã thể hiện thành rất nhiều hình thái khác nhau với gía trị đạo đức khác nhau. Một nghiên cứu như thế đương thời là kinh khủng. G. Flaubert từ nhỏ đã đau bệnh não, bố ông là thầy thuốc nhưng đã bất lực, ông đã chuẩn bị mộ cho con. Flaubert đã thể nghiệm sự đau đớn của thể xác, đã nhìn thấy sự sống hữu hạn, vô nghĩa. Emma trong Bà Bovary là bỉểu tượng của cuộc đời ham mê hư huyễn, vô nghĩa. Khi cô đang dan díu với người tình, một lão già mù hát câu: “Thương khi ngày đẹp trời nồng, Làm cho thiếu nữ mơ mòng tình yêu”. Rồi khi đang hôn mê sắp chết Emma lại bổng nghe lão mù hát: “Để cho thu nhặt được siêng,  Những bông lúa thăm lưỡi liềm hái rơi,  Cô nàng Nanét của tôi, Khom mình tới luống sinh sôi bông vàng”. Emma kêu lên: Thằng mù, rồi cười phá lên, cô ta như trông thấy bộ mặt gớm ghiếc xấu xí của gã, hắn nhô lên trong bóng tối ngàn đời như một mối khủng khiếp. Rồi đó một cơn co giật như giúi cố xuống đệm. Mọi người xô đến. Cô không còn nữa. Chẳng có lão mù nào, đó là ảo ảnh trong tâm trí cô. Flaubert đã nói: “Emma ấy là tôi”.  Nó là biểu tượng cuộc đời mà ông thể nghiệm.

Chủ nghĩa ấn tượng nắm bắt những vẻ đẹp thoáng qua, chủ nghĩa tượng trưng  biểu hiện thế giới, con người qua các biểu tượng nghệ thuật, buộc người đọc phải tăng cường phát huy tính tích cực để tiếp nhận. Họ nhìn đời trong ánh hoàng hôn của văn minh và nhân loại. Chủ nghĩa vị lai chiến đấu với sự hỗn loạn của đô thị. Chủ nghĩa lập thể là sự giản lược con người dưới hình thức hình học. Đến tân hiện đại thì con người không chịu đựng nổi áp lực của hiện thực và con người trở nên khác hẳn. Đây là lúc diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới tàn sát hàng chục triệu người, thậm chi phạm tội ác diệt chủng đôi với người Do Thái. Nhà triết học Đức Adorno thốt lên: “Sau Oshvesim thì  văn học không có lí do để tồn tại”. Chủ nghĩa đa đa thể hiện một thế giới vô nghĩa và mất trí. Chủ nghĩa siêu thực thể hiện con người hoảng loạn trước thế giới bí ẩn và không sao hiểu được.  Nó đánh mấ quan hệ với thực tại, cường điệu tính đa nghĩa của hình ảnh, con người được mô tả trong những kết hợp  lạ thường: “Vợ tôi có mớ tóc của lửa gỗ,  Có tư duy ánh chớp của nhiệt,  Có vóc hình của đồng hồ cát,  Vợ tôi có vóc hình con rái cá trong hàm răng con hổ,  Vợ tôi có miệng như đoá hoa bằng lụa và chòm sao cực lớn, Có hàm răng dấu tích của chuột bạch trên đắt trắng. Có lưỡi bằng hổ phách và thuỷ tinh đánh bóng…” (Tự do kết hôn của André  Breton, Quỳnh Thư Nhiên, Đông Hoài dịch).

Chủ nghĩa biểu hiện thể hiện con người tha hoá trong một thế giới thù địch. Nhà văn tiêu biểu nhất cho khuynh hướng văn học này là Franz Kafka, người sáng tạo những huyền thoại hiện đại về hiện thực phi lí. Đối với ông thế giới là sự hỗn độn, kì dị và không thể hiểu, trong đó con người luôn sợ hãi, hoảng loạn trước các sức mạnh và thể chế do nó tạo nên. Ông là người đầu tiên nhận thức được con người là kẻ trơ trọi, không ai bảo vệ trong thế giới của nó. Người ta giết hại nhau, tước đoạt hạnh phúc của nhau. Con người có thể rơi vào một thảm hoạ mà nó không hiểu đầu đuôi thế nào (Vụ án), hoặc cảm thấy sự bất lực của mình, và cuộc đời cũng trở nên vô vọng vì phụ thuộc vào một kẻ quyền lực tối cao mà bí ẩn.(Lâu đài) . Trong truyện Hoá thân nhân vật Gregoa Samsa ngủ dậy và nhận thấy mình bị biến thành một con bọ lớn nằm trên giường. Sự “hoá thân” diễn ra trong điều kiện bình thường, không có gì đặc biệt, thế mà nhân vật không hề tỏ ra ngạc nhiên về việc hoá thân của mình, mà điều duy nhất anh ta nghĩ đến là làm sao để ngồi dậy, trả lời các câu hỏi cho rõ ràng.Hình như phi lí là thường tình. Điều ấy cho thấy trong thế giới của Kafka con người có thể biến thành con bọ, bị mất tất cả mọi liên hệ với người khác, rơi vào một tình huống mà không ai biết mình là ai, bị xử án, bị bắt bớ rồi trói gô lại như con thú quẳng lên xe.Truyện cổ tích Đoá hoa màu huyết giúp hiểu huyền thoại của nhà văn. Một chàng trai đẹp bị biến thành con thú gớm ghiếc. Một cô gái đẹp biết qua bề ngoài xấu xí của chàng mà thấy con người lương thiện, đem lòng yêu chàng. Tình yêu ấy đã giúp chàng biến từ con thú trở lại thành chàng trai đẹp. Cũng giống như truyện Sọ Dừa, cô út yêu chàng và điều đó giúp chàng lộ ra thân hình chàng trai đẹp. Samsa chết là vì anh hoàn toàn cô đơn, không ai thương đến.

Văn học chủ nghĩa hiện sinh lại đặc trưng bởi con người cô đơn trong thế giới phi lí. Con người tồn tại có trước bản chất. Con người bị ném vào đời một cách phi lí, cô đơn và buộc phải tự làm nên chính mình trong thế giới phi lí. Trong vở kịch Ngộ nhận của A. Camus, nhân vật Jan rời nhà ra đi lập nghiệp, trở nên giàu có muốn trở về giúp mẹ và em gái nghèo khổ. Nhưng khi trở về nhà mình, mẹ và em gái chỉ mong  tìm cách giết người cướp của để sống một cuộc đời khác.  Jan trở về trong sự không nhận ra của mẹ và em,  và bị họ giết một cách vô nghĩa. Jan đã nhận lầm về tình cảm con người, anh không thấy tính phi lí của nó.

Văn học “dòng ý thức” xuất hiện đầu thế kỉ XX đã tiếp nhận và phát triển quan niệm phân tích tâm lí của tỉểu thuyết thế kỉ XIX: Theo họ thế giới tinh thần của con người không liên can đến thực tại. Trong tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất nhà văn Pháp Marcel Proust miêu tả con người chỉ bằng kí ức về quá khứ. Cũng một sự kiện được nhắc lại, nhưng cảm nhận từ thời thơ ấu, thời niên thiều, khi trưởng thành thì khác nhau. Trong tiểu thuyết Ulysses nha văn Ireland James Joyce kể về hoạt động của hai nhân vật chính trong 24 tiếng đồng hồ, nhưng tiểu thuyết tái hiện dòng ý thức của nhân vật trong thời gian ấy. Ý thức không chỉ là phản ứng, phản xạ với sự kiện thực tế mà còn kí ức, tưởng tượng, hoang tưởng, huyễn tưởng không dính dáng gì đến thực tại.

Nghệ thuật hậu hiện đại xuất hiện khi phổ biến mất niềm tin vào lí tính, các đại tự sự, thế giới , con người vụn nát trở thành những mảnh vụn. Qua sự trình bày sơ lược trên đây có thể nhìn thấy quan niệm con người trong văn học nghệthuật trên thế giới đã biến đổi rất lớn.

  1. CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XX

4.1.Con người trong văn học đầu thế kỉ XX.

          Trở về với văn học Việt Nam trước 1945 ta thấy có bốn hiện tượng văn học lớn với những quan niệm nghệ thuật về con người đáng chú ý.

Một là, trong văn học cách mạng đầu thế kỉ con người yêu nước hầu như chỉ biết đến lí tưởng cứu nước, nghĩa vụ, trách nhiệm. Cáh cảm nhận về con người hầu như vẫn là con người thờ trung đại. Khi căm giận tì bầm gan tím ruột, khi đau đớn thì đoạn trường, đứt ruột, khi căm ghét thì quacứ mắt, khi suy nghĩ thì ngoảnh mặt lại hay ngoái đầu, khi tỏ chí thì ngẩng mặt lên trời cao, khi buồn giận thì cúi đầu. Họ chưa biết nhìn con người một cách tự nhiên. Hãy đọc bài Văn tế Phan Châu Trinh của Phan Bội Châu xem ông hình dung nhà chisix thế nào? “Nhớ sơn, Linh chung Đà hải, Nghiệp thừa gia cung kiếm cũng pha đường,  Nền tác thánh thi thư từng thuộc lối. Gan to tày bể, sức xông pha nào kể ức muôn người, Mắt sang hơn đèn,  tài linh lợi từ khi năm bảt tuổi.” Trong bài Chiêu hồn nước Phúng Tất Đắc viết : “Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ, Trông non sông lã chã dòng châu,      Một mình cảnh vắng đêm thâu, Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang sơn”.Con người rất vĩ đại, tình cảm rất thiết tha, nhiệt huyết, những cách hình dung con người chỉ qua những ước lệ của văn chương cổ điển, những công thức sáo mòn.

Hai là văn mới sau năm 1930. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trong phần tiêu biểu của nó là tác phẩm của Khải Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo đã thể hiện một quan niệm con người mới làm nền tảng cho việc xây dựng cốt truyện và miêu tả nhân vật trong tác phẩm. Đó là con người cá nhân và xung đột với gia đình truyền thống, với khát vọng tìm lối thoát li mọi quan hệ xã hội để thoả mãn tự do bản năng. Đặc biệt là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã mở đầu cách miêu tả thế giới nội tâm con người, chú ý trình bày thế giới cảm giác của con người đối với môi trường xung quanh, đối với người khác và đối với chính mình, đưa toàn bộ cấu trúc tự sự vào cấp độ đó. Có thể nói toàn bộ đời sống nhân vật tiểu thuyết ở đây được dệt bằng cảm giác, còn hành động là những sự kiện dấy lên những cảm giác ấy. Tác phẩm mở đầu bằng cảm giác, kết thúc cũng băng cảm giác làm cho người đọc cùng thể nghiệm cảm giác với nhân vật. Đó là đặc trưng cơ bản của lối cảm thụ lãng mạn, nhất là khi tác giả dành ưu tiên cho các cảm giác êm ái, ngọt ngào, tươi đẹp đầy thơ mộng[3].

Trong văn học thời này cũng có quan niệm con người phỏng cổ. Về con người trong sang tác của Nguyễn Tuân nhà nghiên cứu Lã Nguyên có nhận xét thú vị: “lối viết dù thay đổi thế nào, kho hình dung từ dẫu phong phú đa dạng đến đâu, thì hình tượng tác phẩm của Nguyễn Tuân vẫn không vượt ra ngoài trường nghĩa của bốn phạm trù quen thuộc với các phạm trù mĩ học truyền thống phương Đông: kì – quái – chí – tuyệt”.  Rồi ông chỉ ra quan niệm về con người “kì nhân”: “Từ Chùa đàn (1946) đổ về trước, hình tượng trung tâm trong sáng tác của Nguyễn Tuân là nhân vật. Trong mỗi tác phẩm của ông, nhân vật chính thường là một kì nhân, cuộc đời nhân vật nào cũng giống như được bao bọc trong một pho “huyền sử”. Huấn Cao là kì nhân. Bát Lê là kì nhân. Bá Nhỡ, Cậu Lãnh, cô Tơ đều là những kì nhân. Thành ra truyện kể về nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Tuân cũng chính là truyện kể về kì nhân.

Nhưng kì nhân là ai? Họ là nghệ nhânnghệ sĩ. Trong thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân có rất nhiều nghệ sĩnghệ nhân. Huấn Cao trong Chữ người tử tù là nghệ nhân trong nghệ thuật viết chữ. Ông Thông Phu, cô Tâm trong Chiếc lư đồng mắt cua, Bá Nhỡ, Lãnh Út, cô Tơ trong “Tâm sự của nước độc” và nhiều nhân vật trong các tác phẩm khác là nghệ sĩ đàn ca. Trong cách hiểu theo một nghĩa rộng của Nguyễn Tuân, Bát Lê trong Bữa rượu máu, Bá Huần, Cai Xanh, Phó Kình, Lý Văn trong Một đám bất đắc chí, hay Bố Ô trong Bố Ô , ông Sáu trong Những chiếc ấm đất đều là nghệ nhân, nghệ sĩ. Nhưng “Nguyễn”, hay “Bạch”và nhân vật người kể chuyện vẫn xưng “tôi” như một văn sĩ mới thực sự là nghệ sĩ lớn nhất trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Những cô Tơ, Bá Nhỡ, Thông Phu, Huấn cao và bao nhiêu nhân vật khác chẳng qua chỉ là sự phân thân của “Bạch”, của “Nguyễn”, của “Tôi” mà thôi. Giới nghiên cứu đã bàn nhiều về chuyện này, tôi không có gì để nói thêm.

Nghệ sĩ là ai? Có ba phạm trù hình dung từ được sử dụng như các vị ngữ để triển khai truyện kể về các nghệ sĩ như những kì nhânkì tàituyệt kĩ và kì vật.

Kì tài là đặc điểm nhận biết đầu tiên của các kì nhân trong sáng tác của Nguyễn Tuân.”[4]Rồi từ đó nhà nghiên cứu nói đến kì tài, kì kĩ, kì vật…, tất cả đều gắn với kì nhân. Như vậy trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân bên cạnh yếu tố mới giàu cá tính lại có yếu tố truyền thống trung đại được làm sống dậy: yếu tố kì.

Ba là hiện tượng thơ Mới. Thơ Mới là thơ phát hiện cái tôi cá nhân thành thực, thầm kín của mỗi người. Hầu như toàn bộ cảm hứng thơ mới là đi tìm cái tôi – cái tôi tự cảm giác, cảm thấy trong thế giới đô thị hiện đại. “Tôi chỉ là một khách tình si”, “Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng”, “Tôi chỉ là một kiếp đi hoang”, “Tôi là một cô hồn”, “Tôi là con chim đến từ núi lạ”, “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”, “Tôi là kẻ đưa răng bấu mặt trời”, “Tôi là kẻ lạc loài”, “Tôi là chiếc thuyền say”, “Anh là mây bốn phương trời”… Nếu như thơ cổ điển miêu tả cái thế giới mà tác giả hướng tới hay đối diện và cảm xúc, thì Thơ Mới là thơ chiêm nghiệm trạng thái của chính cái tôi trong thế giới. Điều này làm cho thơ mới thay đổi điểm nhìn- nhìn từ bên trong cái tôi, qua lăng kính của cảm giác. Thơ cổ điển chưa bao giờ có được những câu như trên, nó là hiện thân cho điểm nhìn mới, nhãn quan ngôn ngữ mới, chủ thể mới, và từ đó là những hình ảnh mới[5].

Bốn là văn học hiện thực. Văn xuôi hiện thực nhìn xã hội trong quan hệ với số phận và ứng xử cá nhân. Hoàn cảnh là đối tượng quan tâm chính của nó, nhưng con người vẫn là điểm tựa để nhìn vào hoàn cảnh. Văn học hiện thực xem con người là sản phẩm của hoàn cảnh, là tiêu bản của hoàn cảnh. Mổ xẻ con người là khám phá tác động hoàn cảnh lên con người. Đó là quan niệm mới về con người, khác với quan niệm con người là kẻ mang đạo lý chống lại kẻ vô đạo, là anh hùng thay trời hành đạo trong văn học trung đại.

          Trong các nhà văn hiện thực tiêu biểu thời kì nay, mỗi nha văn hầu như lại có một quan niệm nghệ thuật về con người riêng, không lặp lại. Đối với Nguyễn Công Hoan mỗi con người là một diễn viên đóng vai trò trong tấn trò đời. “Đời là sân khấu hài kịch”. Đây là kẻ làm trò chung thủy (“Oẳn tà rằn”, kia là kẻ làm trò thể dục (Tinh thần thể dục), nọ là kẻ làm trò báo hiếu (Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ). Cụ Chánh Bá làm trò mất giày để kiếm đôi giày mới, đứa cháu đóng tròmất cái ví để đuổi khéo ông cậu đi, đứa bé tự làm gãy tay để đóng trò ăn xin, anh kép Tư Bền đóng trò vui khi cha hấp hối chết… Làm trò là trạng thái không thật của con người. Khi mọi người đếu đóng trò thì ta có một xã hội giả dối, đánh mất bản chất thật của con người. Con người bị tha hóa, không còn chung thủy, không còn hiếu, không còn tình, không còn vui, thích thật nữa! Bề ngoài cái gì nó cũng có, mà bên trong thì không có gì cả. Nguyễn Công Hoan lại miêu tả con người bị vật hóa: ngựa người, người ngựa, người tranh cơm với chó, người biến thành cây thịt, bộ xương… Bằng quan niệm con người làm trò và con người bị vật hóa, Nguyễn Công  Hoan đã cười vào cái xã hội giả dối, phi nhân trong thực tại. Nguyễn Công Hoan đã đề cập đến một khía cạnh sâu sắc nhất trong xã hội đồng tiền. “Vật hóa” là khái niệm về con người bị tha hoá trong xã hội tư sản, là  hiện thực tất nhiên, trực tếp của mỗi cá nhân: con người biến hành hàng hóa, thành đồ vật.

          Ngô Tất Tố trong Tắt đèn lại có quan niệm khác hẳn. Nhân vật chính diện của ông không bị tha hóa. Các phẩm chất của nhân vật chính diện như Chị Dậu, anh Dậu, cái Tý là những phẩm chất tốt đẹp, không bị thay đổi trước sức ép tàn bạo của hoàn cảnh, hay đúng hơn, chúng bị đe dọa thay đổi. Chị Dậu đói ăn triền miên, chạy vạy vay nợ, bán con bán chó mà sắc đẹp không suy suyển, ai thấy cũng mê. Quan phủ giăng bẫy, quan cụ gần kề mà chị không thất tiết. Cái Tý đói cơm đến thế mà nó nhất quyết không ăn cơm chó của nhà bà Nghị. Điều đó chứng tỏ trong bức tranh hiện thực khắc nghiệt nhà văn vẫn giành một khung trời lãng mạn cho các nhân vật thân yêu của mình.

          Nam Cao là nhà văn tập đại thành của văn xuôi hiện đại trước cách mạng 1945. Ông tiếp thu quan niệm con người cảm giác, ông chấp nhận con người bị tha hóa, dị dạng, nhưng ông cũng thấy con người ở nơi sâu thẳm vẫn còn giữ được tính người…, vì vậy tác phẩm của ông vừa đau đớn, vừa mạnh  mẽ, nhức nhối. Đau đớn nhất là con người khao khát được đổi đời mà bất lực không thể làm được. Đó là tư tưởng chung từ Chí Phèo đến Sống mòn. Ông nhìn thấy con người bất lực trước thực tại và trước chính mình. Nam Cao là nhà văn đặt được những vấn đề con người bức xúc nhất, sâu sắc nhất, nan giải nhất. Nếu hiểu tiểu thuyết là hình thức nghệ thuật cung cấp những giải pháp thẩm  mĩ cho những vấn đề con người chưa được giải quyết trong hiện thực xã hội, lịch sử, thì quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao là mang chất tiểu thuyết sâu sắc nhất (Sống mòn và các truyện ngắn).

4.2.Con người trong văn học cách mạng (hiện thực xã hội chủ nghĩa) 1945 -1986

Văn học cách mạng xây dựng theo tư tưởng của Đề cương văn hoá của ông Trường Chinh trong suốt  40 năm đã có những thay đổi sâu sắc. Tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, chủ nghĩa lạc quan tin tưởng vào lãnh đạo và thắnglợi cuối cùng, nhân vât tích cực, chủ nghĩa anh hung đều rất đậm đà, có tác dụng tuyên truyền, động viên quần chúng rất lớn. Nhưng các phẩm chất ấy thiên về phương diện chính trị của thời đại văn học chính trị hoá. Chúng tôi đã từng gọi đó là thời kì văn học con người mang gương mặt chính trị, thể hiện lập trường chính trị. Với quan niệm bản chất con người mang tính giai cấp, các nhà văn đều nhấn mạnh đến xuất thân giai cấp của nhân vật. Bản chất cách mạng hay phản động của nhân vật đều phụ thuộc vào tính giai cấp của chúng. Ví dụ xem tác phẩm Xung đột của Nguyễn Khải. Rất nhiều tác phẩm khi miêu tả người công nhân thì theo các công thức khuôn sáo như:  da đen, cằm bạnh ra, tay có bắp thịt cuồn cuộn, có sẹo, gặp việc khó khăn thì xung phong đi đầu, tư tưởng thì dứt khoát. Miêu tả trí thức tiểu tư sản thì da trắng xanh, lười lao động, mắt cận thị nặng do đọc sách nhiều, ngại gian khó, tư tưởng hay dao động. Đó là lối miêu tả minh họa theo quan niệm giai cấp,không thể chút nào thực tế của cách mạng, trong đó tầng lớp trí thức đã đóng góp rất nhiều cho cách mạng. Trong cuộc cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đề cao chủ nghĩa tập thể, con người cá nhân đều bị xem là xấu xa, sự thể hiện cá tính của con người bị coi nhẹ. Tình yêu, tình dục hầu như rất ít được nói đến. Cỉ có bọn kẻ thù thối nát mới có tình dục. Tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu có nói đến tình yêu, nhưng là một thứ tình yêu rất đặc biệt. Cô gái phải lòng chàng trai chỉ vì thấy chàng sốt sắng đi bộ đội, bỏ sỏi vào túi quần để khỏi phải bị nhẹ cân, và khi hai người gặp nhau mà không nhận ra nhau nhà văn không hề gợi một vẻ đẹp nữ tính của cô gái và cô gái chưa hề thấy người yêu của mình. Cá tính dược xem như những khuyết tật của cá thể ví như nói lắp, nói ngọng, nóng nảy. Trong truyện ngắn Hãy đi xa hơn nữa Nguyễn Khải kể Nam, một bộ đội ở nông trường Điện Biên khi thấy vợ mới sinh con đầu lòng, có những đồi hỏi cho cuộc sống riêng tư, Nam sợ rơi vào cái bẫy của cá nhân chủ nghĩa, đã chủ động xin vào núi lập bãi chăn mới để nuôi bò cho nông trường, mỗi tháng mới về nhà một lần. Anh lí sự, con đại bàng chỉ chết vì mồi, người ta đánh bẫy đại bàng bằng cách đào cái lỗ vuông, dưới để con gà con, trên đóng cọc bốn bên, có néo dây thật chắc, con đại bàng từ cao nhìn xuống, sà xuống cắp con gà rồi giữ chặt, không thả. Kì thực là chỉ cặp cái dây chằng, và thế là bị thợ săn bắt gọn. Con người cũng vậy, néu đắm đuối vào cuộc sống cá nhân thì có ngày đánh mất lí tưởng. Để giữ vững lí tưởng anh đã để vợ một mình nuôi con nhỏ còn mình thì chỉ biết xây dựng xã hội mới. Đó là một tư tưởng giả tạo. Sau này dén thời đổi mới, Nguyễn Khải nhận ra, đã nói: Ông muốn vứt bỏ hết sáng tác của ông chỉ để có được một tác phẩm như Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp.

  • Con người trong văn học đổi mới sau 1986

Điểm nổi bật của văn học thời đổi mới là xoá bỏ các khuôn sáo cũ của văn học giai đoạn trước, giảm bớt con người chính trị giai cấp, trở về với con người nhân bản, tự nhiên, có cá tính, có tình yêu, có bản năng, vô thức, tình dục, có mặt tối, mặt sáng. Nguyễn Minh Châu, nhà văn đã Đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh hoạ đã bỏ  hết những cấu chuyện mình đã kể để kể những câu chuyện mới. ông bỏ sự đối lập chính diện phản diện, bỏ nguyên tắc đỉển hình hoá, miêu tả những con người dị biệt, nghịch lí, phát hiên các hiện tượng khác thường. Một diễn viên xiếc trong đời thường là kẻ vụng về, một thủ thành tài ba lại để lọt lưới những quả bong rất ấu trĩ, một cán bộ có chức to đã đi rất nhiều nơi trên thế giới nhưng lại chưa đến được bến quê ở quê nhà, những cán bộ muốn giúp đỡ quyền lợi phụ nữ nhưng chẳng hiểu gì thực tế,  một hoạ sĩ vì lợi ích cá nhân mà quên đi lời hứa đối với một người lính, người ta hay áp đặt cho loài vật các định kiến của con người, một người đàn bà, người dân đứng ra bảo vệ cây xanh … Ông miêu tả các hiện tượng ngẫu nhiên, cá biệt mà lâu nay văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn thích khái quát quy luật lịch sử bằng điển hình hoá cao độ đã bỏ qua, nhưng những hiện tương ngẫu nhiên, ngoại lệ ấy cũng có quy luật và ý nghĩa của chúng mà con người không thể nhắm mắt làm ngơ.

 Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn nổi bật trong văn học Đổi mới. Truyện ngắn của ông gây bão trong dư luận và cho đến nay vẫn còn nhìn nhận khác nhau. Đó là sự thường của hiện tương văn học mới.Truyện ngắn của ông viết đủ loại người, từ tướng về hưu đến trộm cướp, giết người, vua chúa, danh nhân, nhân vật lịch sử, vô danh tiểu tốt, thi nhân, nông dân, trẻ con, người mới lớn, thợ xẻ gỗ, giáo viên, công chức, người ở hải ngoại, Chủ đề trong tâm của ông là con người. Trong Chút thoáng Xuân Hương  ông đã goi nàng là MỘT CON NGƯỜI  viết hoa. Ông Bổng môt kẻ vô học trong Tướng về hưu cũng sung sướng khi bà chị đã lẫn gọi ông là người, trong khi cả làng gọi ông là đồ chó đồ đểu. Thục trong Những người thợ xẻ nói: Vô sự với tạo hoá, trung thực đến tận đáy, dù có sống giữa bùn cũng chẳng sợ là không xứng là người. Quan niệm con người của ông mang tính chất dân gian truyền thống. Ông trọng người nghĩa tình, có chút hiệp (như tên cướp trong Sang sông), có phẩm tiết (như Ngô Thị Vinh Hoa), nhưng ông nhìn con người không công thức, lí tưởng hoá. Con người có đủ ngu ngốc, vụng dại, ảo tưởng, đểu cáng, ma quỷ, gian lận, thô lỗ, độc ác, nhiều dục vọng và vô học, thiếu văn hoá. Ông thương cho mọi kiếp người. Nhưng ông nhìn con người theo khía cạnh hiện sinh, sự cố đơn, lạc loài, người ta không hiểu nhau, cuộc đời đầy phi lí, đầy ngẫu nhiên. Miêu tả con người ông phơi bày tất cả mặt đểu cáng, độc ác, người đọc thấy “ghê ghê”, lạnh lùng. Ông nhận định con người rất phũ phàng. “Sự mông muội tinh thần có cả ở những vùng đất xa xôi,  lẫn ở thành thị. Tội ác sẽ trở nên hết sức man rợ bởi sự mông muội tinh thần đó”. “Trong thiên hạ không chỉ có người đâu, có thánh nhân và có yêu quái”, Ông nắm bắt con người chủ yếu qua đối thoại, cho nên đối thoại của nhân vật thường rất sắc sảo. Ông hầu như ít hoặc không miêu tả tâm lí, bởi bao nhiêu sắc sảo hiện ra ở lời nói rồi. Bù lại trong truyện của ông có rất nhiều thơ, coi như một hình thức độc thoại nội tâm độc đáo, vừa nói lên sự côn đơn của con người, vừa nói những nhận định về cuộc đời.Con người trong truyện của ông dự báo  một xu hướng mà sau này sẽ thấy càng rõ rệt trong đời sống xã hội.

Trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng nổi lên những con người có hoài bão cô độc, đối lập với đám đông ngu dốt, máy móc, và ông thích viết những chuyện kiểu “một mình một ngựa” (Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa…).

          Về quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam đương đại xin xem tài liệu tham khảo một số bài viết khác của tôi.[6]

  • THÂN THỂ NHƯ MỘT KHÍA CẠNH CỦA QUAN NIỆM CON NGƯỜI TRONG THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI

Như trên đã nói, thân thể là một phương diện rất quan trong trong quan niệm về con người. Nhưng từ thơi Platon, thời trung cổ với Kitô giáo, chủ nghĩa khai sáng của Descartes tinh thần luôn đối lập với thân thể, và người ta thien về coi trọng tình thần, coi thường thân thể. Thân thể chỉ là phương tiện để miêu tả tinh thần. Bát đầu tư Nietzsche, mối quan hệ trên được đặt lại. Con người khác nhau bắt đầu từ thân thể, thân thể là chủ thể, còn tinh thần là công cụ của thân thể. Các nhà triết học tiếp sau như M. Heidegger, M. Ponty, G. Deleuze, M. Foucalt, R. Barthes, G. Bataille đều tán thành và phát triển quan niệm của Nietzsche, tạo thành bước ngoặt về thân thể, nghĩa là coi nhẹ tính chủ thể ý thức của con người mà coi trọng tồn tại của thân thể, xem đó như là trung tâm tồn tại cuả con người trong xã hội. Thân thể là chủ thể tri nhận về thế giới, là cội nguồn của tri giác về thế giới, la trung tâm mọi quy hoạch, tổ chức xã hội. Chính trị là sự không chế thân thể. Thân thể vừa là công cụ vừa là chủ thể để con người cảm thấy được sự tồn tại của mình, Thân thể được hiểu như là sản phẩm của tự nhiên, của văn hoá, của y học, của xã hội, chính trị, của sự tiêu dùng. Vấn đề sắc dục của thân thể cũng được hiểu mới hơn, thúc đẩy sự giải phóng thân thể, phong trào nữ quyền luận. Quan niệm đó đã làm thay đổi toạ đọ miêu tả con người trong nghệ thuật, làm đổi thay mĩ học, nghệ thuật, thi pháp. Tất nhiên không phải từ khi có “chuyển hướng thân thể” thì văn học nghệ thuật mới miêu tả thân thể. Thân thể đã được miêu tả từ trong các tranh ở hang động. Vấn đề là thân thể được quan tâm sâu sắc và nhiều mặt. Thân thể trở thành đối tượng miêu tả của nghệ thuật và do đó trở thành một ngôn ngữ để miêu tả về con người. Mọi miêu tả con người trong văn học đều là sự miêu tả từ điểm nhìn của thân thể: nhìn từ năm giác quan, từ tri giác, tưởng tượng, đặc biệt phương diện tính dục. Thân thể trở thành một phương diện mới của thi pháp.

Ở Nga M. Bakhtin là người đầu tiên khám phá thân thể trong sáng tác của Rabelaise với văn hoá Phục hưng và trung cổ. Cácnavan là ngày hội của thân thể, mà chủ yếu là nửa thân dưới, trong đó chú trọng miêu tả ăn uống, yếu tiệc, tính dục, bài tiết, sinh đẻ, chết chóc. B. O. Riftin đã nghiên cứu tính kí hiệu trong việc miêu tả thân thể của các vị tổ tiên Trung Hoa. Năm 2001 tiến sĩ E. K. Aniximov bảo vệ luận án về thân thể người trong văn hoá nghệ thuật thế kỉ XX, đề cập đến các vấn đề như các kiểu thân thể trong xã hội công nghiệp, thân thể trong xã hội toàn trị, sự phi nhân đạo hoá thân thể trong nghệ thuật…Năm 2002 tại Đại học Sorbone  (Paris 4) đã tổ chức Hội thảo quốc tế về thân thể trong văn học Nga và các nước khác, đã nếu ra 3 chủ đề: thân thể như hệ thống kí hiệu, thân thể trong văn học từ chủ nghĩa cổ điển đến chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại, thân thể trong văn hoá. Trong nghiên cứu văn học Trung Quốc số lượng các công trình nghiên cứu thân thể trong văn học ngày càng nhiều. Đáng chú ý là các công trình của Đào Đông Phong, Cát Hông Binh, Uông An Dân. Ở Việt Nam có các bài viết của Trần Đình Sử về thân thể trong thơ Bích Khê, trong thơ Tố Hữu, trong Truyện Kiều.

Chúng ta có thể nhìn lại cách miêu tả thân thể thời cổ đại, trung đại, trong sáng tác trong truyện của Nguyễn Dữ, trong tác phẩm Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,  là những nhà văn miêu tả thân thể khá táo bạo. Trong thời hiện đại các nhà thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu  đã thể hiện thân thể tính dục trong thơ.  Trong văn học cách mạng chúng ta thường miêu tả thân thể như là đối tượng để hi sinh, dâng hiến cho cách mạng. Lấy thân chèn pháo. Lấp lỗ châu mai. Miêu tả con người thiên về hành động bề ngoài, theo thuộc tính giai cấp, ít quan tâm cảm xúc của thân thể. ít quan tâm cảm giác cuả cá nhân. Đặc biệt tính duc được xem là hạ đẳng, tội lỗi, chỉ bọn hủ bại mới có. Nhà cách mạng tránh xa tính dục. Trong văn học Trung Quốc thời kì mới thân thể tính dục được coi là sự phục sinh của con người sau thời kì cách mạng văn hoá cấm dục. Các nhà văn đã miêu tả thân thể từ nhiều góc độ. Nhà văn Mạc Ngôn miêu tả thân thể như một biểu hiện của sức sống hoang dã, tự nhiên. Bạo lực tính dục được coi là sức mạnh hoang dã của con người. Mạc Ngôn cũng thích miêu tả bạo lực trong hành hạ thể xác con người, như miêu tả cuộc tùng xẻo ghê rợn. Các nhà văn nữ thể hiện cảm xúc tính dục từ trong thân thể nữ tính. Lại có nhà văn miêu tả thân thể theo lối tiêu dùng. Thân thể được miêu tả từ nhiều phương diện, từ vẻ đẹp thân thể con người đến những con người dị dạng, tàn phế, từ thân thể trẻ trung đến thân thể già nua, từ thân thể tự nhiên đến thân thể được cải tạo, tân trang , đánh dấu, xăm mình, thân thể khác giới. Thân thể là một đối tượng mới của thi pháp học, của nghiên cứu nhân loại học văn học, văn hoá học.

          Qua các phần trình bày trên ta thấy:

          – Lịch sử của văn học nhân loại là lịch sử luôn luôn đổi thay quan niệm nghệ thuật về con người.

          – Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản, then chốt nhất của một chỉnh thể nghệ thuật, chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của chỉnh thể ấy.

          – Sự đổi mới và đa dạng của văn học trước hết là đổi mới và đa dạng trong quan niệm nghệ thuật về con người.

          – Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta thâm nhập vào cơ chế tư duy của văn học, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức (thể loại, phong cách) văn học. Đó chính là nội dung ẩn chứa bên trong mọi yếu tố hình thức văn học, phân biệt với nội dung cụ thể mà mỗi tác phẩm biểu hiện.


[1] Ju. Borev. Mĩ học, M., nxb Trường cao đẳng  2002, tr. 256.

[2] M., Bakhtin. Những vấn đề văn học và mĩ học, M., nxb. Văn học nghệ thuật, 1975, tr. 316 – 329.

[3] Xem. Lê Thị Dục Tú. Con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, nxb KHXH, H., 1997, (Luận án tiến sĩ do chúng tôi hướng dẫn.)

[4] Lã Nguyên. Nhuyễn Tuân, nhà văn của hình dung từ.

[5] Xem them: Thơ cổ điển, thơ lãng mạn trong sách Những thế giới nghệ thuật thơ, nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.

[6] Xem các bài: 1. Con người trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong sách Một thời đại văn học mới, nxb Văn học, 1987, tái bản năm 1995 (nhiều tác giả).

2. Con người trong sáng tác Nguyễn Khuyến, trong sách: Những thế giới nghệ thuật thơ, Tldd.

3.Quan niệm con người trong thơ Tố Hữu, trong sách Thi pháp thơ Tố Hữu, nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987.

4.Cái nhìn nghệ thuật về con người. trong sách Thi pháp Truyện Kiều, nxb Giáo dục, H., 2002, đã tái bản 8 lần.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s