TRUYỆN THƠ NÔM VỚI TRUYỆN KIỀU (Phần 2)

Trần Đình Sử

Để trả lời câu hỏi trên ta có thể dựa vào quan niệm về tiểu thuyết của M. Bakhtin, một quan niệm được nhiều người tán đồng. Nếu xem tiểu thuyết là thể loại “xúc tiếp tối đa với cái hiện tại”, nó miêu tả cuộc sống hiện tại, đương thời với người kể, giữa người kể và cuộc sống được kể không còn khoảng cách thời gian, thì hầu hết truyện Nôm đều sử dụng tích cũ và kể như là một truyện quá khứ. “Lại nữa, cái quyết định ở tiểu thuyết là kinh nghiệm, nhận thức và thực tiễn”(2), trong khi đó phần lớn truyện Nôm kể những sự kiện theo niềm tin thẩm mĩ, chứ không phải là kinh nghiệm. Do vậy nó không phải là tiểu thuyết. Nếu xem tiểu thuyết là thể loại miêu tả cuộc sống trong trạng thái mở, chưa hoàn tất, thì kết cục đoàn viên, có hậu của hầu hết truyện Nôm lại là một đặc điểm phi tiểu thuyết, bởi đó là một sự hoàn tất chỉ có trong niềm tin cổ xưa. Một mô hình xã hội “siêu ổn định”! Nếu nhân vật của tiểu thuyết là “con người không đồng nhất với chính nó”(3) thì phần lớn con người trong truyện Nôm đều đồng nhất với loại của mình – loại chính diện, loại phản diện. Do đó truyện Nôm, nhất là truyện Nôm bình dân không phải là thể loại tiểu thuyết như một số người quan niệm. Một đặc điểm quan trọng nữa của tiểu thuyết là nó có nhiều chi tiết phức tạp về cuộc sống, những chi tiết không nhất thiết bám sát vào cốt truyện nhân quả, phục vụ cho cốt truyện. Xét về mặt này, các truyện Nôm bác học, do tước bỏ nhiều chi tiết đi, tước bỏ một cách “tàn nhẫn” (như ý của học giả Phan Ngọc) lại là cách tốt nhất làm cho tác phẩm giảm bớt chất tiểu thuyết! Nên chú ý rằng miêu tả chi tiết đời thường là một thành tựu lớn của văn học tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết có khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực. Do đó không nên một chiều ngợi ca sự cắt bỏ như có người đã làm! Thật vậy, đối với truyện thơ Nôm bác học (của văn nhân) mà cốt truyện mượn từ tiểu thuyết, ca bản của Trung Quốc, thì đáng tiếc là thể loại truyện Nôm lại cắt bớt chi tiết, sự việc. Bởi vì truyện thơ Nôm, với tư cách truyện thơ, nó không thể dung chứa quá nhiều sự việc và chi tiết. Đó là vì với hình thức văn vần lục bát, truyện Nôm không thể kể, tả, thuyết minh tường tận chi tiết, quan hệ, nhân quả của sự việc như văn xuôi được. Ví dụ như thư đồng báo tin dữ cho Kim Trọng: “Ông Hai mất ở Liêu Dương rồi, ông cả đang đi lo quan tài, đang gọi công tử mau mau về nhà bàn việc”. Thanh Tâm Tài Nhân đã kể rất khẩu ngữ, mộc mạc lời báo tin của tiểu đồng. Cũng ý đó Nguyễn Du phải diễn đạt khác bằng cách chuyển thuật gián tiếp:

Gia đồng vào gửi thư nhà mới sang,

Đem tin thúc phụ từ đường,

Bơ vơ lữ thấn, tha hương đề huề.

Liêu dương cách trở sơn khê,

Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.

Đây không còn là lời báo tin thông thường nữa. Một loạt chữ Hán thể hiện thái độ kính trọng, trang nhã. Không phải “ông Hai” chết mà là “thúc phụ từ đường”, không phải là chết ở Liêu Dương mà là “lữ thấn, tha hương đề huề”, không phải là ông cả mà là “Xuân đường”. Lại còn những lời biểu cảm: bơ vơ, cách trở sơn khê, thành ra mấy câu thơ chỉ báo được mấy tin chú chết ở Liêu Dương, bố gọi Kim về hộ tang. Chi tiết bố đang vội lo quan tài đã bị tước bỏ, coi là không cần thiết. Thực ra ở góc độ tự sự không thể nói là chi tiết ấy không cần thiết. Nó cần để gây không khí bận rộn, cần người đỡ đần. Kể như Nguyễn Du thì tô đậm cái chết xa nhà thương tâm, song không khí bận rộn thì không còn nữa. Đó là sự khác biệt về thể loại thơ Nôm so với tiểu thuyết chương hồi.

Để hiểu sự khác biệt giữa truyện Nôm với ca bản Trung Quốc chúng ta còn cần so sánh truyện thơ Nôm Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự với ca bản Hoa Tiên Kí do Tĩnh Tịnh trai bình đính(4). Có thể chắc chắn là Nguyễn Huy Tự sáng tác Truyện Hoa Tiên dựa vào ca bản này, bởi nguyên tác Hán văn gồm 59 đoạn thì truyện của Nguyễn Huy Tự cũng có ngần ấy đoạn. Các nhà nghiên cứu Truyện Hoa Tiên đã xác nhận rằng Nguyễn Huy Tự đã “rút gọn hẳn câu chuyện lại”, đã “theo sát cốt truyện của ca bản, theo sát kết cấu của nó, trừ phần cuối cùng”(5). Hãy lấy đoạn “Bái mẫu đăng trình” (Chào mẹ lên đường đi trọ học) mà so thì thấy nguyên tác chữ Hán gồm 46 câu ca, bản truyện của Nguyễn Huy Tự chỉ gồm 20 dòng, ít hơn 26 câu. Nhà làm truyện Nôm đã bỏ bớt các chi tiết cụ thể của tâm tình nhân vật vốn khá mạnh mẽ và quyết liệt như dưới đây, bản dịch nghĩa là của chúng tôi (Các đoạn dịch tiếp theo cũng đều là của chúng tôi, dịch từ ca bản của Tĩnh Tịnh Trai):

Trên cành chim vui hót chào khách

Trăm hoa trong khóm toả mùi hương

Hoa đào từng cánh trôi theo nước

Để chạnh lòng người thêm xót thương.

Khi mùa xuân hết hoa rơi rụng

Dung nhan con người chẳng lâu dài

Chẳng được phong lưu đời bỏ phí.

Xem ra khó bì với uyên ương,

Bên hồ trống mái tựa nhau đứng,

Thương nhau yêu nhau cùng lứa đôi.

Ta nghĩ niên hoa mười tám uổng,

Ai giữ phòng không được suốt đời?

Ước được một người như Oanh Oanh,

Thì ta phải học cách Tây Sương.

Nghe nói Thường Châu nhiều gái đẹp,

Hồng non trắng mịn khéo điểm trang.

Những muốn dời vào thành lưu trú

Phong lưu có lúc toại lòng chăng?

Chàng Lương Phương Châu muốn có gái đẹp, đã bịa ra một lý do để thưa với mẹ. Nghĩ một đằng, nói một nẻo, nhưng chi tiết này truyện Nôm của Nguyễn Huy Tự cũng bỏ đi, tức là bỏ đi tính phức tạp của tâm lí con người, một tính chất của tiểu thuyết. Những chi tiết trong lời mẹ nói cũng tước bớt đi, chỉ giữ ý chính làm cho đoạn văn tương ứng của nhà thơ Việt Nam liền mạch về mặt nhân quả và kín đáo, trung hậu hơn, nhưng cũng vì thế mà trở nên nghèo hơn. Nhưng đáng chú ý nhất là lời của Lương Phương Châu ở đây lại không phải là lời thoại, mà lại là lời tự thuật, tự bộc lộ, nó gần như là lời độc thoại nội tâm của người kể chuyện. Câu văn hoặc không có chủ ngữ, hoặc chủ ngữ xưng “ta”, “mình”. Nhưng ở ca bản nó là lời ca của chủ thể trữ tình. Chuyển sang truyện Nôm, nó chuyển thành lời văn tự sự mới, phân biệt với ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật. Trong ca bản do là lời của chủ thể tự thuật, nên nhiều lời trực tiếp của nhân vật khác được chuyển thành lời thuật gián tiếp. Như đoạn Bái mẫu đăng trình, lời người mẹ được thuật lại một cách gián tiếp, tức là chỉ chuyển ý của người mẹ, mà không có lời nói của người mẹ.

Lấy đoạn “Kì biên tương ngộ” (gặp nhau bên bàn cờ) mà so thì thấy ca bản gồm 82 câu, còn truyện của Nguyễn Huy Tự chỉ có 48 dòng, ít hơn 34 dòng. Tác giả truyện Nôm đã bỏ bớt các chi tiết tả đồ vật trong phòng như lư đồng đốt hương, tranh bạc, ngọc địch, chim trĩ trên hồ, các chi tiết tả cảnh, tả tình cảm, ý muốn mạnh mẽ của nhân vật Lương Phương Châu được thể hiện qua lời tự thuật, độc thoại:

Trên hồ cầu sơn đỏ thông vườn trong

Lại thấy một dải sóng nước dợn ánh trăng

Hai bờ thuỳ dương đối nhau múa

Thuyền hái sen buộc bên bờ liễu

Cá bơi dệt sóng thành tấm gấm trên mặt nước lăn tăn.

Bóng mây phản chiếu mờ mờ sáng.

Cất bước qua cầu tới gần thuỷ các,

Tựa lan can đùa với hoa đại thơm,

Vin cành muốn hái cành đẫm sương,

Muốn lay cành khua động cho chim bay cuồng.

Đỗ quyên hót như khóc trăng lặn,

Hoàng điểu kêu thêm não lòng người.

Lung linh sáng một vành trăng,

Cành hoa chúm chím toả hơi áo lụa.

Qua chiếc cầu nhỏ tới khúc đường quanh

Quả mai xanh xanh rụng hai bên lối.

Chim công từng đôi dạo dưới trăng,

Chim vẹt trong lồng vàng kêu tha thiết,

Trước mặt cả một bầu khí xuân,

Muôn lá hoa đào trồng thành hai hàng.

Những ước đào nguyên đều có lối,

Tiểu sinh tự muốn làm ngư lang.

Bước về phía tây vườn hồng hạnh

Chỉ thấy mơn mởn hoa ngát hương.

Xanh um vườn cỏ dường lạc lối,

Tường vi thấp thoáng ló đầu tường.

Hoa đẹp chẳng lòng nào dừng ngắm.

Nhẹ nhàng chuyển bước đến phòng văn…

So với văn trong ca bản như đoạn này, rõ ràng tự sự của Truyện Hoa Tiên ít chi tiết hơn, ý nghĩ, hành động, cảnh vật mơ hồ hơn. Rõ ràng ở đây cũng như trong Truyện Kiều các tác giả truyện Nôm đã cắt bỏ “tàn nhẫn” các chi tiết như Phan Ngọc nhận xét. Nếu trong Truyện Kiều Nguyễn Du cắt bỏ các chi tiết mưu mẹo, thì ở Truyện Hoa Tiên Nguyễn Huy Tự đã cắt bỏ bớt các chi tiết tả cảnh, tả tình cảm, tả trạng thái vô thức thầm kín của nhân vật vốn mang đậm bản sắc Trung Quốc, nhằm tạo ra một nhân vật Việt Nam hơn. Ngoài ra việc bỏ bớt chi tiết còn có một nội dung khác nữa. Một số nhà nghiên cứu Việt Nam, khi so sánh truyện Nôm với nguyên tác chữ Hán mà nó sử dụng, thường nói một cách đầy tự hào rằng tác giả truyện Nôm đã tước bỏ “nhiều chi tiết rườm rà, không cần thiết”, “nhiều chi tiết, sự việc thừa thãi” của nguyên tác chữ Hán. Thiết nghĩ nói như vậy là không đúng, bởi chúng cần thiết và không hề thừa thải đối với nguyên tác. Sở dĩ bớt đi là vì khuôn khổ, mức độ cụ thể của truyện thơ Nôm thấp hơn, hay nói cách khác, tư duy của truyện Nôm chưa nắm bắt kịp, chưa đạt đến tư duy tiểu thuyết. Việc cắt bớt chi tiết cũng không phải do cá tính của một ai đó, mà là do khuôn khổ cần thiết của thể loại. Một là ngôn từ thơ, văn vần không tiện lợi cho việc trần thuật sự việc một cách chi tiết, nhất là văn Nôm thời đó. Hai là dung lượng truyện thơ Nôm nói chung là không dài. Do đó theo chúng tôi, truyện Nôm có một mức độ tự sự của nó về chi tiết, nó chưa đạt tới trình độ tự sự cụ thể của tiểu thuyết, mà mức độ cụ thể bị hạn chế thì tính cá thể hoá cũng bị giới hạn theo.

Nhà nghiên cứu văn học Nga A.Chicherin phân biệt thể loại truyện vừa (повесть) trong văn học Nga với thể loại tiểu thuyết (рoман) đã nhận xét rằng, điều làm cho tiểu thuyết khác với truyện vừa, truyện trung đại, “tiểu thuyết đoản thiên” (novell) như Câu chuyện mười ngày của Boccaxiô là ở chỗ trong các truyện ấy, cốt truyện đóng vai trò chủ yếu cùng với nhân vật. Mọi yếu tố của tác phẩm được tổ chức sát với sự vận động của cốt truyện và tính cách, hầu như không có gì thừa, tất cả đều nằm trọn trong các mối liên hệ nhân quả. Lời nói của nhân vật cũng chỉ là một khâu thúc đẩy cốt truyện phát triển, hoặc thắt nút, mở nút. Tiểu thuyết thì không thế. Nó chứa bao nhiêu cái “thừa” so với truyện vừa và truyện ngắn trung đại, mà đó lại là một phần chính yếu trong cấu thành của tiểu thuyết: các suy tư của nhân vật về thế giới và cuộc đời, sự phân tích cụ thể, cặn kẽ các diễn biến trong tình cảm nhân vật, mọi quan hệ, chi tiết hay sự việc trong tiền sử của nhân vật, môi trường, nói chung là về sự tồn tại của con người(6). Xét từ phương diện này, truyện thơ Nôm đúng là loại “truyện vừa” trung đại mà việc cắt bỏ một cách “tàn nhẫn” các chi tiết trong các tiểu thuyết Trung Quốc được dùng làm lam bản chỉ thể hiện sự đi sau của thể loại truyện Nôm so với tư duy tiểu thuyết của Trung Quốc, một thể loại đã thịnh hành vào đời Minh và phát triển rất đa dạng, phong phú; một sự gọt chân cho vừa giầy do tình trạng tư duy đó của truyện Nôm suy cho cùng là bởi ý thức về cá nhân, cá tính con người phát triển chưa đến độ phá vỡ cái khung chật hẹp đó của thể loại. Chẳng hạn trong Truyện Hoa Tiên mặc dù Nguyễn Huy Tự đã tiếp thu một cốt truyện giàu tư tưởng cá nhân, nhưng ông vẫn còn rất dè dặt. Ngay đoạn mở đầu của truyện, đoạn “Hoa tiên đại ý” Nguyễn Huy Tự đã lược bỏ hoặc không nói rõ, nói toạc được cái ý tự do, phóng khoáng của nguyên tác:

Đời người dại gì mà chịu cảnh thê lương,

Khi được vui sướng thì hãy cứ vui sướng.

E ngại gì việc trộm ngọc cắp hương,

Chỉ cần cả hai đều giữ lòng chung thuỷ,

Thì tư tình, mật ước có hề chi!

Từ cổ kẻ có tình nhất định toại tâm nguyện,

Chỉ cần bền lòng nhẫn nại sẽ thành đôi.

Sơn thuỷ vô tình còn tụ hội,

Huống chi đa tình đâu dễ sẽ chia phôi

Rất có thể nhà văn Việt Nam này không thích khẩu khí ồn ào, mà thích kín đáo, trung hậu, nhưng trong sự dè dặt ấy đã phần nào tự mài mòn bớt sự sắc cạnh, táo bạo. Tuy nhiên sự tiếp thu nghệ thuật tự sự của ca bản đã đem lại cho nghệ thuật truyện Nôm những đặc sắc mới rất quan trọng chưa từng có mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.

Như nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã chỉ ra, truyện thơ Nôm với Truyện Hoa Tiên đã đánh dấu một bước tiến mới trong thể loại. Đó là kể một chuyện tình trai gái thuần tuý, một chuyên trăng gió, “khởi bằng gió trăng, kết bằng gió trăng” như bình luận của Tĩnh Tịnh Trai; đó là gia tăng yếu tố miêu tả phong cảnh và miêu tả tâm trạng nhân vật. Điều này đúng, nhưng cũng xin lưu ý, đó là do việc Nguyễn Huy Tự dùng lam bản là một ca bản – một thể loại tự sự bằng thơ, dùng để ca, đậm phong cách trữ tình, mà phương pháp tự sự ở đó đã rất mới mẻ và đặc sắc. Như ở trên đã có dẫn một vài đoạn mở đầu của ca bản Hoa Tiên Kí, yếu tố tả cảnh được sử dụng khá rộng rãi. Lại do tự sự bằng thơ, trong ca bản việc tự sự theo điểm nhìn của nhân vật chính trở nên phổ biến, tác giả không sử dụng ngôn ngữ tự sự của người thuyết thư với lời kể khẩu ngữ, lời “nói”, mà là vận dụng lời thơ. Đoạn văn “Gặp nhau bên bàn cờ” chính là đoạn giới thiệu nhân vật Dao Tiên. Về đoạn này, Tĩnh Tịnh Trai bình: “Dao Tiên xuất hiện ở đây. Ngòi bút phàm tục sẽ mở ra một đoạn khác để kể một hồi, còn tác giả đây chỉ nhân bút mà kể. Dung mạo, trang sức, gia thế, tính danh của Dao Tiên hoặc là tả theo con mắt của Phương Châu, hoặc do Phương Châu có ý mà nghĩ đến, hoặc do từ miệng bà phu nhân mà kể bổ sung, biết bao nhiêu biến hoá”! Như vậy là tác giả ca bản đã kể về nhân vật này thông qua điểm nhìn là con mắt, ý nghĩ, tâm lý của các nhân vật khác, mà không tả trực tiếp từ miệng người kể chuyện, như vậy sinh động hơn rất nhiều. Do bút pháp tâm lý đó mà lời kể đã mang quan điểm, điểm nhìn của nhân vật. Lấy ví dụ đoạn “Lương sinh si tưởng” (Lương sinh suy nghĩ đắm đuối). Nguyên văn là một đoạn độc thoại nội tâm:

Mắt tiễn đưa gia nhân về vội,

Chỉ thấy trăng nghiêng cành liễu chiếu quần là!

Ngân hà mấy chấm sao còn sáng,

Tiếc ngẩn hương chiều rộn vườn hoa.

Nhìn cảnh thê lương sao chịu nổi.

Cất bước về phòng đường thấy xa!

Nhớ có lúc từng bảo em trai,

Chớ nói chuyện trước hoa dưới trăng mà thêm khổ.

Nay vấp phải món nợ oan gia đó,

Tự nhiên mà nát ruột tan lòng.

Tìm cách mà làm khách trộm ngọc,

Trước hoa dù chết có hề gì!

Về phòng suốt đêm không chợp mắt,

Một lòng chỉ nghĩ đến kiều nương.

Dưới đèn nhìn chẳng phải là thêm đẹp,

Ăn mặc không như gái tầm thường.

Chỉ giắt một đoá hoa lan xanh,

Quần sa trắng lồng với quần lụa trắng.

Áo không dài, mới chấm đầu gối thôi,

Ngón tay đi cờ rất diệu nghệ.

Chớ bảo tâm thần ta yếu đuối,

Cho dù tượng phật cũng say lòng.

Cô phía bắc mặc áo đen trông cũng đẹp.

Riêng tình ta chỉ thích cô áo trắng thôi…(7)

Đoạn này Nguyễn Huy Tự viết khác hẳn, nhưng lời văn vẫn là độc thoại nội tâm trong mười dòng liền:

Đỉnh trầm thoảng chợt hương nghê

Chập chờn cơn tỉnh cơn mê trước đình

Bỗng dưng vương lấy tơ tình

Này đồ vườn Lãng hay tranh non Bồng

Người sao ngọc đúc tuyết đông

Vẻ sao giá chuốt gương trong hệt người.

Chớ chê dạ khách tơi bời,

Tượng sành ấy cũng rụng rời chân tay.

Xiêm huyền bên nọ đối bày,

Huyền kia tuy lịch bạch này càng tôn.

Ví chăng bình tước gây khuôn

Thì chi lắm giống tiêu hồn quấy ai!

Tình dài thêm bận canh dài,

Lầu điêu nhẫn chót biên cài bóng đông.

Vậy là văn độc thoại nội tâm đã từ nguyên tác ca bản chuyển sang truyện Nôm một cách lặng lẽ, tự nhiên, không cần tới lời giới thiệu của người trần thuật như “Lương sinh nghĩ rằng…”, “Dao Tiên nghĩ bụng…”. Nhưng Nguyễn Huy Tự tiếp thu không triệt để. Nguyên tác biểu hiện ngôi thứ nhất: “Chớ bảo tâm thần ta yếu đuối” thì Nguyễn Huy Tự đổi thành “Chớ chê dạ khách tơi bời…”. Từ “ta” chuyển sang “khách” tức là chuyển từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba. Đặc điểm này làm cho thể loại “truyện Nôm” của Nguyễn Huy Tự đã khác hơn nhiều so với “truyện Nôm” Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào và truyện Phan Trần. Vũ Đức Phúc nhận xét: “Dù chấp nhận Phan Trần có trước Hoa Tiên, viết rất chững chạc, hơn hẳn nhiều truyện thơ khác, và cũng có chất thơ vượt lên hẳn nhiều truyện thơ đã có thì cũng phải thừa nhận thơ của Phan Trần không hay, tứ thơ thường là thẳng đuột(8). Nhưng Vũ Đức Phúc cũng như một số tác giả khác chỉ nói chất thơ, mà chưa nói tới hình thức lời văn đa chủ thể làm nên chất thơ đó. Và nói rằng cội nguồn câu văn biểu hiện chủ thể ở Truyện Kiều bắt đầu từ các khúc ngâm, rõ ràng là chưa tính đến vai trò của Truyện Hoa tiên chịu ảnh hưởng của ca bản.

Như vậy, cho đến trước Truyện Kiều của Nguyễn Du, thể loại truyện Nôm đã hình thành từ nhu cầu diễn ca, diễn Nôm để sáng tác thành một thể loại tự sự dân tộc. Truyện Nôm là thể loại có nội dung thế sự, đời tư, không phải thể loại sử thi như diễn ca lịch sử. Khác với cổ tích, truyện Nôm là hình thức tự sự hướng tới khắc hoạ hình ảnh chủ thể con người với đời sống nội tâm, ý nghĩ, lời nói, tư tưởng. Nhưng khác với tiểu thuyết hiện đại, truyện Nôm là thể loại “truyện vừa” trung đại, chỉ kể các sự tích và nhân vật trong quan hệ nhân quả sít sao, chặt chẽ, có hậu. Truyện Nôm nói chung chưa biết đến các chi tiết “thừa” nó cho ta biết về vô thức và trạng thái thế giới bao la xung quanh con người và sự việc. Do đó truyện Nôm chưa phải là tiểu thuyết. Tất nhiên nói như vậy, không phải là ở tác phẩm cụ thể này, nọ, ở phương diện này nọ truyện Nôm không thể đạt tới một kiểu tư duy mới hơn so với các truyện cùng thể loại. Tuy nhiên xem truyện Nôm bình dân có xu hướng tiểu thuyết hoá là hợp lý. Lời văn mang tính chủ quan của điểm nhìn nhân vật trong Hoa Tiên đã làm cho truyện Nôm bác học có được một chất lượng mới đậm chất tiểu thuyết.

Truyện Hoa Tiên, theo phân tích của Hoàng Xuân Hãn, ra đời trước Truyện Kiều khoảng 40, 50 năm. Theo Đào Duy Anh thì khoảng 30, 40 năm. ảnh hưởng của Truyện Hoa Tiên đối với Truyện Kiều là có thể xác định được, bởi không chỉ có mối quan hệ quê hương, thuộc “văn phái Hồng Sơn” mà còn có thể tìm thấy những câu thơ trong Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự làm nhớ tới những câu Kiều. Chẳng hạn câu: “Thiên nhiên sẵn bức dầy dầy, Mực hoen sá thấm phấn rơi thông giồi” của Nguyễn Huy Tự sẽ làm ta nhớ tới câu của Nguyễn Du: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dầy dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên”. Hoặc câu thơ Nguyễn Huy Tự “Nỗi riêng riêng chạnh đòi nau một mình” làm nhớ tới câu Kiều: “Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình“. Nguyễn Huy Tự đã tạo ra hàng loạt từ vựng mà Nguyễn Du sẽ kế thừa, tạo ra hàng loạt thế câu miêu tả, biểu cảm mà Nguyễn Du sẽ hấp thụ. Ngay những chữ “đâu” rất hay trong Truyện Kiều ta cũng thấy có trong Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự.

-Đàn đâu réo rắt bên tai

-Lửa đâu chất chở nhường khơi trận hừng.

– Sầu đâu dở dói biếng rằng,

Nhủ hoàn khép triện đẩy trăng trả trời.

Hoặc những câu:

          – Than đâu lãnh lọt màu oanh…

          – Chợt đâu động lũ kinh hoàng…

          – Duyên đâu từ mảng tin đà…

Chúng làm nhớ tới những câu Kiều:

          Duyên đâu ai dứt tơ đào?

          Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay?

Hoặc  Người đâu gặp gỡ làm chi…

          Thoắt đâu thấy một tiểu kiều

          Sự đâu chưa kịp đôi hồi…

Về chương pháp, mở đoạn của Truyện Hoa Tiên thường là tả cảnh thì mở đoạn của Truyện Kiều cũng như vậy, đó là điều ít có ở các truyện Nôm khác. So sánh Truyện Kiều Truyện Hoa Tiên là một đề tài riêng, song nêu ra một vài điều như trên chúng tôi muốn chứng tỏ rằng truyện Nôm trước Truyện Kiều đã có những thành tựu quan trọng mà trực tiếp là thi pháp Truyện Hoa Tiên đã có ảnh hưởng sâu sắc tới thi pháp Truyện Kiều.

Tóm lại truyện Nôm bình dân nói chung không phải là truyện dân gian truyền miệng, mà là thể loại văn học viết, và cùng với truyện Nôm bác học nói chung chưa phải là tiểu thuyết trong ý nghĩa hiện đại. Truyện Nôm chỉ là loại “truyện vừa” trung đại, có xu hướng tiểu thuyết hoá, đã chuẩn bị dần dần những yếu tố quan trọng để xuất hiện Truyện Kiều, một tiểu thuyết bằng thơ. Truyện Kiều là sản phẩm của văn mạch dân tộc.

Như vậy xét về nội dung, Truyện Kiều tiếp tục những vấn đề của ngâm khúc và truyện Nôm trước nó, đặc biệt là của Hoa Tiên để thực sự đạt được đỉnh cao của thể loại truyện Nôm. Xét về hình thức Truyện Kiều đã phát triển những nét mới trong thi pháp truyện Nôm và ngâm khúc lên một trình độ cao chưa từng có. Truyện Kiều là sự kết tinh kì diệu các thành tựu nghệ thuật văn học tiếng Việt của thời đại ông.


(2) M.Bakhtin: Sử thi và tiểu thuyết, trong sách Những vấn đề văn học, mĩ học, M, 1975, tr.433.

(3) M.Bakhtin: Sử thi và tiểu thuyết, trong sách Những vấn đề văn học, mĩ học, M, 1975, tr.433.

(4) Tú tượng đệ bát bài tử tiên chú, Tĩnh Tịnh trai bình đính. Văn bản Hán văn do PGS. Phạm Tú Châu cung cấp.

(5) Lại Ngọc Cang trong sách Truyện Hoa Tiên, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1961, tr.12-13.

(6) Xem A.Chicherin.  Tư tưởng và phong cách. Nxb. Nhà văn xô viết, Matxcơva, 1968.

(7) Các dẫn chứng về ca bản Hoa Tiên Kí đều lấy từ sách “Tiêu tượng đệ bát tài tử tiên kí, Tĩnh Tịnh Trai bình đính, Trần Đình Sử dịch.

(8) Vũ Đức Phúc: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Nguyễn Thiện với truyện “Hoa Tiên”.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s