TRUYỆN KIỀU NHƯ MỘT ĐỐI TƯỢNG CỦA VĂN HỌC SO SÁNH

Trần Đình Sử

Như đã nói trên, nghiên cứu Truyện Kiều không thể thiếu nhãn quan văn học so sánh. Khoa nghiên cứu văn học so sánh ngày nay đã mở ra triển vọng so sánh nhiều bình diện đối với Truyện Kiều. Ngoài so sánh ảnh hưởng, tiếp nhận  còn có nghiên cứu so sánh loại hình. Người ta đã so sánh Truyện Kiều với Faust của Gớt, Truyện Kiều với Evgeni Onegin, Truyện Kiều với Truyện Xuân Hương… Tuy vậy, nghiên cứu so sánh Truyện Kiều với văn hoá, văn học Trung Quốc có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt do mối quan hệ văn hoá lâu đời của hai dân tộc. Đã có nhiều công trình đi theo hướng này nhưng về cách tiếp cận vẫn còn nhiều hạn chế. Chúng tôi xin điểm lại tình hình và gợi ra những bước tiếp theo.

Nghiên cứu so sánh Truyện Kiều hôm nay không thể đóng khung trong phạm vi so sánh tay đôi giữa hai tác phẩm Truyện Kiều Kim Vân Kiều truyện, mặc dù điều này vẫn rất quan trọng, bởi bản thân sự vay mượn và sáng tạo của Nguyễn Du nằm trong quĩ đạo của các nền văn hoá bao bọc xung quanh, Truyện Kiều là sản phẩm của hành vi sáng tạo văn hoá có bối cảnh rộng lớn. “Văn hoá” từ những định nghĩa khoa học lúc ban đầu của Morgan, Tylor đến nay đã được phân hoá và mở rộng, đổi mới. Theo Kroeber Kluckhohn có thể hiểu văn hoá một cách cô đọng là mô hình hành vi ngoại hiện hay nội ẩn được truyền bá qua hệ thống ký hiệu, tạo thành quan niệm về truyền thống, quan niệm giá trị, vừa là sản phẩm của hoạt động con người, vừa là nhân tố giới hạn hoạt động tiến bộ của con người. Quan niệm này rất rộng, bao gồm nhân sinh quan Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, nhân sinh quan dân gian; quan niệm về văn học, nghệ thuật, ngôn từ, thể loại… Từ giác độ này có thể xác định Truyện Kiều như một sự lựa chọn và sáng tạo văn hoá.

Mối quan hệ Truyện Kiều với đạo Phật từ lâu đã được nhiều học giả chú ý. Có người xem tác phẩm là sự minh hoạ cho tư tưởng nhân quả, nghiệp báo của Phật học (Trần Trọng Kim)(1). Có người lưu ý tới tư tưởng đạo Phật dân gian (Đào Duy Anh)(2). Có người xem Truyện Kiều là con đường giác ngộ để đến với đạo thiền (Nhất Hạnh). Có người nhận xét về sự pha trộn Phật và Nho, từ tài mệnh tương đố và bỉ sắc tư phong đến nghiệp báo, luân hồi, từ trung hiếu tiết nghĩa đến từ bi bác ái, tu nhân tích đức (Cao Huy Đỉnh)(3). Có người nhận xét tư tưởng Phật mạnh hơn Nho giáo, Kiều có ý thức của cá nhân tự giác về nghiệp báo. Thực ra đạo Phật đã bị khúc xạ khi đi vào Truyện Kiều. Nhận xét về sự hỗn dung, pha trộn Phật – Nho là rất có căn cứ. Trong thơ chữ Hán đã có nhiều bài, nhiều câu thể hiện cho tư tưởng Phật như: “Hà năng lạc phát quy lâm khứ” (làm sao có thể gọt tóc vào rừng đi tu), “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, Thử tâm thường định bất ly thiền” (Đầy trời đều là không, không hình tướng, tâm này thường định vào ý thiền). Còn trong Truyện Kiều thì nghiệp và mệnh trời bổ sung cho nhau, nhân ái và từ bi bổ sung cho nhau. Nhưng tính chất dung hợp cũng đã làm nhạt nhoè tư tưởng Phật giáo. Chẳng hạn, Kiều ba lần đi tu, nhưng không lần nào xem đó là con đường giải thoát đích thực, mà chỉ là một việc bất đắc dĩ, một sự hy sinh tuổi xuân:

– Đã đem mình bỏ am mây

– Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi.

Rõ ràng đó không phải là lời của người mộ đạo. Chỉ lần cuối cùng sau khi trẫm mình và đoàn viên, nàng lập am chờ đợi Giác Duyên, tuy nhiên lúc ấy nàng đã lấy chồng.

Truyện Kiều và Nho giáo là một đề tài còn ít được nghiên cứu đi sâu. Có thể là do người ta thấy nó quá hiển nhiên. Trước đây Phạm Quỳnh có nói tới tư tưởng trung dung tuỳ thời. Một số tác giả khác nói tới đạo đức, luân lý, lễ nghĩa. Thực ra phạm vi vấn đề còn rộng lớn hơn: từ tư tưởng thiên mệnh, ý thức bảo tồn gia đình, đến tư tưởng nhân ái, coi trọng lòng trắc ẩn, lương tâm, coi nhân loại là nhất thể, coi trọng sự sống (hiếu sinh) đều có ảnh hưởng của Nho giáo cả. Ở đây thiết nghĩ phải tính đến ảnh hưởng của Tâm học của Lục Cữu Uyên, của Vương Dương Minh đời Minh. Từ chữ Tâm của Mạnh Tử đến tâm của Vương Dương Minh đã có sự kết hợp với chữ tâm nhà Phật, chữ tâm hoà đồng, thống nhất với lương tri, dẫn đến tư tưởng bình đẳng, phá bỏ giáo điều, đề cao tính chủ thể của con người. Đặc biệt Lý Trác Ngô (1527-1602), là phái tả của Tâm học chủ trương con người có “đồng tâm” (tấm lòng trong trắng như trẻ thơ). Con người có tôn nghiêm, tự chủ, phủ định Nho giáo một cách triệt để. So sánh về các phương diện này sẽ cho ta hiểu mức độ ảnh hưởng và tiếp nhận của Nguyễn Du đối với Nho giáo. Không phải chỉ là nho giáo cổ xưa, mà là nho giáo Minh, Thanh. Nhiều người quả quyết rằng nho giáo Việt Nam không có quan hệ gì với nho giáo đời Mnh Thanh. Song không nên quên rằng nho giáo Minh Thanh thầm vào tiểu thuyết của họ rồi theo đó mà vào Việt Nam. Có nhiều con đường để thâm nhập. Rất có thể tâm học đã đem lại cho Nguyễn Du tư tưởng bình đẳng, lòng trắc ẩn, thương người, tinh thần chủ thể phóng khoáng, ghét giáo điều… như ông đã thể hiện trong tác phẩm. Cũng có thể nói Tâm học đời Minh Thanh đã ảnh hưởng tới quan niệm con người của Nguyễn Du, một con người “dĩ tâm vi bản”, văn chương chẳng qua là tâm học, tâm thống soái tính tình…Còn như Trung , hiếu tiết nghĩa trong Truyện Kiều, theo tôi, đó không phải là tư tưởng của Nguyễn Du, mà là tư tưởng của nguyên tác Thanh Tâm Tài Nhân.Đã vay mượn cốt truyện của ông ta thì không thể loại bỏ chúng ta được. Thử so sánh Truyện Kiều với các tập thơ chữ Hán Nguyễn Du mà xem, có bài thơ nào trong các tập thơ ấy thể hiện rõ rệt các thứ trung hiếu tiết nghĩa này? Có nên chớ thấy có mặt chữ mà vội suy ra tư tưởng của tác giả.

So sánh Truyện Kiều và văn hoá Trung Quốc đang là một đề tài để ngỏ cho những tìm tòi mới trong giao lưu tinh thần cuả hai dân tộc qua một kiệt tác.

Trong bối cảnh ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Truyện Kiều là một sự lựa chọn về thể loại, và không thể không đề cập tới mối quan hệ giữa Truyện Kiều và tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Phan Ngọc là người đầu tiên đề cập tới khía cạnh này, nhưng chưa đi sâu và ông lại không nói tới tiểu thuyết tài tử giai nhân.

Cách miêu tả chân dung nhân vật như Từ Hải rõ ràng không phải bút pháp của tiểu thuyết tài tử giai nhân, mà là bút pháp sử truyện, hoặc của tiểu thuyết kiểu Tam Quốc diễn nghĩa như Quan Công, Trương Phi, hoặc tiểu thuyết thông tục. Cách giới thiệu nhân vật mà Phan Ngọc gọi là “thao tác lập hồ sơ” thực ra là lối giới thiệu lai lịch của sử truyện.

Tiểu thuyết tài tử giai nhân là một chi nhỏ của tiểu thuyết thế tình, ở Trung Quốc hầu như bị lãng quên, mà không được xem xét. ở ta cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu. Nhưng lại là loại tiểu thuyết có ảnh hưởng tới văn học Việt Nam, được phiên dịch, giới thiệu hoặc chuyển thành truyện Nôm như Bình Sơn Lãnh Yến, Ngọc Kiều Lê, Hoa tiên ký… Đặc điểm của loại này là tình yêu lý tưởng giữa tài tử, giai nhân, đề cao phụ nữ, thường có kết cấu: 1. Nhất kiến chung tình – 2. Gặp loạn ly tán – 3. Đoàn viên, tương tự như bố cục truyện cổ tích “Hội ngộ – Tai biến – Đoàn tụ”, nhưng không cùng loại; có nhân vật con hầu thông minh lém lỉnh, có bọn tiểu nhân xiểm nịnh hại người; có xen nhiều thơ văn thù tạc; tuy đã chú ý miêu tả tâm lý, nhưng ít cá tính(4). Đây là khuynh hướng ca ngợi tình yêu, giải phóng cá tính, đậm màu lý tưởng.

Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân xét về nhiều mặt đều gần với nhóm tiểu thuyết tài tử giai nhân, nhưng lại mang thêm yếu tố thế tình, phê phán xã hội, nên có nét riêng.

Về mặt lý tưởng hoá, đề cao phụ nữ, Truyện Kiều đi theo khuynh hướng của tiểu thuyết tài tử giai nhân. Về mặt thẩm mĩ, Truyện Kiều có khuynh hướng bi kịch nhiều hơn các tiểu thuyết tài tử giai nhân tiêu biểu. Về thể loại Truyện Kiều khác tiểu thuyết chương hồi, mà thuộc vào loại truyện thơ Nôm, vốn có trong văn học Việt Nam, và Đông Nam Á. Về nhân vật, Truyện Kiều chú trọng miêu tả tâm lý hơn.

Về ngôn ngữ, Nguyễn Du dùng nhiều lời độc thoại nội tâm hơn(5).

Nghiên cứu mối quan hệ trên sẽ cho thấy rõ sự kế thừa ảnh hưởng và sáng tạo đổi mới của Nguyễn Du.

Với tư cách là một truyện thơ Nôm, Truyện Kiều có nhiều mối quan hệ với thơ ca cổ điển Trung Quốc. Đây là điều mà các học giả Trung Quốc cũng như Việt Nam tiến hành so sánh Truyện Kiều hầu như chưa đề cập tới. Và do không quan tâm mặt này mà có những chỗ phê bình Nguyễn Du không thoả đáng. Chẳng hạn câu: Một tường tuyết trở sương che, Tin xuân đâu dễ đi về cho năng, là một ẩn dụ chỉ sự cách trở trong việc tìm gặp Thuý Kiều, thì có học giả Trung Quốc chê là đem cảnh tuyết mùa đông miêu tả vào dịp xuân hè, gây mâu thuẫn, phá hoại tính thống nhất chân thực của hoàn cảnh(6).  Nhà nghiên cứu đã không phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi!

Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của thơ ca cổ điển Trung Quốc rất sâu sắc. Có thể nói trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có một nhãn quan thi ca Trung Quốc sâu sắc thể hiện trong các áng thơ chữ Hán của ông. Nguyễn Du sử dụng thành thạo các phép đối và sử dụng chúng dày đặc trong Truyện Kiều, tạo thành một chất lượng mới của truyện thơ lục bát(7). Nguyễn Du lại dùng nhiều điển cố, cụm từ, câu sẵn của thơ ca Trung Quốc, một tập quán sáng tác mà các nhà thơ Trung Quốc thường có(8). Chúng tôi cũng đã chứng minh Nguyễn Du khéo dùng các cặp màu sóng đôi theo lối của Đỗ Phủ(9). Trong việc miêu tả tâm lý, hay đúng hơn là tả tình, Nguyễn Du sử dụng kinh nghiệm tả tình của thơ ca qua các chủ đề như Tống biệt, Hoài cổ, Nhớ nhà, Đi sớm, Cảm khái thân thế, Cảm lưu lạc… Đó là những chủ đề thi ca rất phổ biến trong thơ ca Trung Quốc, nhất là thơ Đường. Truyện Kiều là kết tinh của sự tiếp nhận và sáng tạo từ nguồn thơ và văn Trung Quốc. Ông Phan Ngọc còn nêu vấn đề Truyện Kiều chịu ảnh hưởng của kịch cổ điển. Đó lại càng là một đề tài thú vị của văn học so sánh. Ở Việt Nam từ đầu những năm 60 đã có người nghiên cứu tính chất hí kịch của Truyện Kiều và nhìn thấy thiên tài viết kịch của văn chương Việt Nam tương tự như trong văn kịch Âu Châu ở Truyện Kiều chứ không phải ở trong các vở tuồng cổ.

Trong nghiên cứu văn học so sánh về Truyện Kiều thì so sánh với Kim Vân Kiều truyện có ý nghĩa trực tiếp, bởi Nguyễn Du đã vay mượn cốt truyện, nhân vật, tình tiết của nó. Ở đây có nhiều vấn đề được đặt ra, và các học giả cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau.

1. Về chủ đề

Nhiều tác giả khẳng định Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của tư tưởng tài mệnh tương đố (Đào Duy Anh, Phạm Thế Ngũ). Phan Ngọc cũng khẳng định tư tưởng tài mệnh tương đố nhưng xem đấy là sáng tạo của Nguyễn Du, còn tư tưởng vốn có của tác giả Thanh Tâm tài nhân là tình và khổ.

Chúng tôi cho rằng Nguyễn Du có tiếp thu ảnh hưởng của chủ đề “tài mệnh tương đố” nhưng đã có sự đổi mới thành “thân mệnh tương đố”, một chủ đề xuất hiện trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII, làm cho Truyện Kiều trở thành truyện xót thân đau lòng thấm thía nhất(10). Nguyễn Du đã chuyển câu chuyện “bất hủ” của Kim Vân Kiều truyện thành câu chuyện đoạn trường, đầy đau đớn, xót xa, bi kịch. Đây là sự thay đổi trọng tâm (hay nét chủ đạo) trong chủ đề. Một số tác giả khác cũng chú ý tới các khía cạnh chủ đề khác gắn liền với thực tại Việt Nam, như tâm sự hoài Lê, quyền sống con người, tố cáo hiện thực đen tối, quyền sống phụ nữ. Truyện Kiều đã gắn với một bối cảnh đời sống tinh thần khác với Trung Quốc.

2. Về cốt truyện

Cốt truyện hay tích truyện  là yếu tố được so sánh nhiều nhất nhằm chỉ ra sự khác và giống giữa hai tác phẩm. Ở đây sự vay mượn [U1] của Nguyễn Du là hiển nhiên. Vay mượn đã phải là ảnh hưởng chưa lại là một chuyện khác. Tác phẩm Zaratustra đã nói như thế của Nitsơ đã vay mượn lời khuyến dụ của giáo chủ Zaratustra, người sáng lập đạo Hồi ở Ba Tư để phát biểu ý kiến của mình, nhưng hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của tôn giáo ấy. Truyện Kiều có vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện với tư tưởng Phật học, Nho học trong ấy cũng chưa thể nói là chịu ảnh hưởng, bởi Nho học, Phật học là tư tưởng “đồng nguồn”, Nguyễn Du và Thanh Tâm tài nhân cũng tiếp thu một nguồn mà ra. Ảnh hưởng là tác động văn học có tính chất bù đắp, lấp chỗ trống. Với ý nghĩa này, Kim Vân Kiều truyện quả có ảnh hưởng tới Truyện Kiều. Chúng ta biết, trước Truyện Kiều đã có Truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào, đầu thế kỷ XVIII, kế theo có truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự giữa thế kỷ XVIII. Đó là những truyện tài tử giai nhân điển hình với kết cục đại đoàn viên vui vẻ. Nhân vật tuy có trải qua trắc trở nhưng không có tư tưởng hồng nhan bạc mệnh và nỗi đoạn trường đối với kiếp người. Kim Vân Kiều truyện có chủ đề hồng nhan bạc mệnh, có phong lưu vận sự bất hủ, nhưng chủ yếu có nét mới là ai oán đoạn trường. Đây là yếu tố mà các tác phẩm tài tử giai nhân nói trên, và cả một số tác phẩm khác như Ngọc Kiều Lê, Nữ tú tài, Phan Trần đều không có. Chính đó là yếu tố gợi ý để Nguyễn Du sáng tạo ra Đoạn trường tân thanh đầy xót thương đau đớn. Kim Vân Kiều truyện đã mở đầu bằng một khúc Bạc mệnh oán:

Cổ kim hồng nhan hề, mạc bất bạc mệnh.

Hồng nhan bạc mệnh hề, mạc bất đoạn trường.

Ngã bản nhân hề, nãi vi oán khúc.

Văn thử oán khúc hề, thuỳ bất bi thương?

Trước khi trẫm mình, Kiều cũng có bài lục tuyệt, có câu:

Trào tín thôi nhân khứ dã,

Đẳng nhân liễu khước đoạn trường.

Nguyễn Du hẳn đã cảm vì mấy tiếng đoạn trường đó mà viết nên Đoạn trường tân thanh để đáp lại với người xưa, khóc người xưa, như là người cùng một hội bể dâu. Đó chính là điểm nút mà nhà thơ đã nắm lấy để cải tạo lại toàn bộ mà viết ra Truyện Kiều, như một cảm hứng mới chưa có trong tiểu thuyết tài tử giai nhân được chuyển thể trước đó.

Hiểu ảnh hưởng là tác động có tính chất bù đắp thì Kim Vân Kiều truyện cung cấp một mô hình cốt truyện lắm tai, nhiều nạn mà các truyện kể về Thuý Kiều của Mao Khôn, Dư Hoài, Mộng Giác Đạo Nhân.v.v… không có. Sáng tạo cốt truyện có nhiều tình tiết vốn là chỗ yếu của văn học Việt Nam, đặc biệt là cốt truyện hư cấu. Chừng nào mức độ hư cấu còn thấp thì cốt truyện nguyên bản có tác dụng bù đắp, gợi ý để cải tạo, bổ sung. Tuy vậy, vai trò của nó cũng tương tự như các sự tích, truyện sử làm nền tảng cho sự sáng tạo lại theo lối diễn nghĩa, diễn âm.

Nhược điểm của nghiên cứu so sánh cốt truyện lâu nay là chỉ chú ý tới cốt truyện như là hệ thống biến cố nhân quả nằm ngoài chi tiết cụ thể và ngoài lời kể (lời trần thuật) và điểm nhìn, do đó thường rút ra kết luận thiếu sức thuyết phục về tính sáng tạo của Nguyễn Du. Nhận xét về việc rút gọn chi tiết xuống mức thấp nhất như Phan Ngọc cũng chưa cho thấy rõ tính chất ấy. Sáng tạo của Nguyễn Du thể hiện trước hết ở việc đổi thay điểm nhìn trần thuật. Những chỗ Kim Vân Kiều truyện trần thuật theo quan điểm của người đứng ngoài, thì Nguyễn Du trần thuật theo con mắt nhân vật, tự bên trong, nên mang nội dung tâm lý. Những chỗ Thanh Tâm tài nhân chỉ giản đơn kể việc thì Nguyễn Du bổ sung thêm các chi tiết tâm lý, tình cảm. Chẳng hạn đoạn Kim Trọng từ biệt Thuý Kiều về hộ tang, đoạn Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều… Thanh Tâm tài nhân thường trần thuật theo nguyên tắc liên tục… trước sau một cách tẻ nhạt, còn Nguyễn Du để các việc gối đầu nhau tạo nhịp điệu thúc bách, dồn dập. Kim Vân Kiều truyện thiếu một điểm nhìn trần thuật nhất quán và vẫn lại thiếu nhịp điệu mà đó là đặc sắc của Truyện Kiều. Những điều này cho thấy Nguyễn Du tiếp thu hệ thống sự kiện nhưng lại kể theo một cách mới và cảm quan nhịp điệu mới.

3. Về nhân vật

Nguyễn Du tiếp thu hệ thống nhân vật của Kim Vân Kiều truyện nhưng ông phú cho chúng một sinh mệnh mới. Nguyễn Du có một quan niệm mới về con người. Con người bình đẳng, con người tâm lý, con người đời thường và được nhìn đa chiều. Là con người bị tách khỏi gia đình, nguồn cội, lưu lạc tha phương, Nguyễn Du nhấn mạnh ở Kiều con người nhân tính phổ biến, với ý thức về sự may rủi, vô thường của đời, với sự mong manh, nhỏ bé của kiếp người. Tuy vẫn giữ những nét tính cách quyết đoán, hiếu nghĩa, nhưng Kiều chủ yếu trở thành biểu tượng của số phận đau khổ, của sự đày đoạ. Đó là điều gây xúc động nhất đối với người đọc Việt Nam. Sự thương xót cho số phận lấn át lòng cảm phục đối với tính cách.

Cô Kiều ở Thanh Tâm tài nhân chủ yếu là liệt nữ, là con người bất hủ, là nòi tình, còn ở Nguyễn Du chủ yếu là hiện thân cho sự bất công, oan khổ, lưu li, đau lòng. Nguyễn Du không bỏ lỡ một dịp nào trong truyện để tỏ hết nỗi đau lòng của con người.

Kiều của Thanh Tâm tài nhân hầu như không có cảm giác thời gian, còn Kiều của Nguyễn Du thì tràn đầy cảm giác trôi chảy, thời gian vô tình. Kiều của Thanh Tâm tài nhân không có cảm giác lưu lạc, còn Kiều của Nguyễn Du luôn cảm thấy sự lênh đênh, trôi giạt của mặt nước cánh bèo. Chân dung các nhân vật Thuý Kiều, Thuý Vân của Trung Quốc là chân dung người đẹp đơn thuần, đặt dưới mắt người tình Kim Trọng. Chân dung hai nàng trong Truyện Kiều được đưa lên đầu, dưới con mắt người kể chuyện, như một dự báo về số phận. Chân dung Kim Trọng và Từ Hải hoàn toàn do Nguyễn Du sáng tạo nên. Nếu đi sâu vào thế giới chi tiết thì ta sẽ thấy mức độ sáng tạo của Nguyễn Du là rất cao, có thể nói là sáng tạo lại.

Nghệ thuật không tồn tại ở cấp độ cốt truyện, môtíp là cấp độ dễ dàng vay mượn, lưu truyền. Nghệ thuật tồn tại ở cấp độ chi tiết, cảm nhận, trần thuật, nó mang tâm hồn, cảm giác, sự sống của con người, cái nhìn con người, là các yếu tố nói chung, không thể hoặc không dễ vay mượn.

Đã đến lúc phải nâng cấp nghiên cứu so sánh Truyện Kiều để thấy đó là một sự kiện giao lưu văn học đầy sáng tạo(10). Và điều đó chỉ thực hiện được khi tiến hành so sánh toàn diện, trên nhiều cấp độ.

  1. Phong cách học

 Đây lại là một lĩnh vực mà Truyện Kiều sáng tạo không ít và chịu ảnh hưởng không ít từ văn liệu, điển cố, phép đối, cách dùng chữ “nước”, chữ “đúc”, cách sử dụng từ chỉ màu sắc của văn học Trung Quốc. Đặc biệt Nguyễn Du sáng tạo nhất quán ngôn từ độc thoại nội tâm dưới hình thức nửa trực tiếp, là một hiện tượng nghệ thuật mới. Các hình thức tu từ như phép đối, ẩn dụ, bài tỉ, điển cố, câu đảo trang… đều được tác giả sử dụng theo cách riêng nhất quán tạo thành phẩm chất mới của ngôn ngữ văn học tiếng Việt.

Truyện Kiều không hề giản đơn là tác phẩm vay mượn. Truyện Kiều trước hết là sản phẩm của đời sống tinh thần Việt Nam, là kết quả lôgic của quá trình văn học Việt Nam, sự phát triển nội tại của nhận thức đời sống, của tiếng Việt nghệ thuật, sự chín muồi về thể thơ lục bát và truyện thơ Nôm. Vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện là sự gặp gỡ tinh thần của nhà văn Việt Nam và tác giả Trung Quốc trong nỗi đau trần thế. Nó cung cấp tài liệu và gợi hướng để cho tiếng thương, tiếng đau – cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du có thể cất lên vang vọng. Bối cảnh của tiếp nhận ấy là toàn bộ mối quan hệ văn hoá, văn học hết sức rộng lớn của hai nước Việt – Trung, từ các học thuyết đến tiểu thuyết chương hồi, thơ ca, từ vũ trụ quan, nhân sinh quan đến phong cách học. Kim Vân Kiều truyện chỉ là một cái cớ trực tiếp rất nhỏ trong các mối quan hệ bao la kia.

Thông thường không ai vay mượn tác phẩm toàn thiện toàn mỹ, bởi nó không để dư địa cho người sau. Đối với nó người ta chỉ phiên dịch, chiêm ngưỡng. Tác phẩm được vay mượn thường có giá trị gợi ý, mở ra triển vọng biến đổi, sáng tạo mới. Nó như viên ngọc còn sù sì thô vụng để người sau mài chuốt, đẽo khắc, tạo thành tác phẩm khác. Nguyễn Du đã đi theo thông lệ đó và làm sáng lên rực rỡ mối quan hệ văn hoá, văn học lâu đời của hai dân tộc Việt – Trung.


(1) Lý thuyết Phật học trong Truyện Kiều // Truyện Thuý Kiều. Nxb Văn hoá Thông tin, HN, 1995.

(2) Khảo luận về Truyện Thuý Kiều, Nxb Văn hoá, H.1958.

(3) Triết lý đạo Phật trong Truyện Kiều // Kỉ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, Nxb, KHXH, 1967.

(4) Phó Đạo Bân: Khảo luận viết cho tập Tinh tuyển tiểu thuyết tài tử giai nhân cổ điển Trung Quốc, Cáp Nhĩ Tân, 1994.

(5) Xem Phan Ngọc. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb, KHXH, Hà Nội, 1985.

(6) Xem Đổng Văn Thành: Thanh đại văn học luận cảo, Xuân Phong văn nghệ xuất bản xã, Thẩm Dương, 1994, tr.104.

(7) Xem phần Thi từ tạp thoại trong sách Tự nhiên thất thi cảo dữ Thi từ tạp thoại của Phùng Chấn, Quảng Tây, 1989, dẫn nhiều ví dụ về dùng câu sẵn.

(8) Trần Đình Sử: Mầu sắc trong Truyện Kiều // Những thế giới nghệ thuật thơ. Nxb, Giáo dục, Hà Nội, 1995. Xem thêm: Ý nghĩa của văn học Trung Quốc đối với tiến trình phát triển văn học Việt Nam // Lý luận và phê bình văn học. Nxb, Hội nhà văn, 1996.

(9) Xem: Những thế giới nghệ thuật thơ, phần Tư tưởng nhân vật và cách kể chuyện của Nguyễn Du, Trần Đình Sử, Tlđd.

(10) Xem thêm: Mấy khía cạnh thi pháp “Truyện Kiều” // Những thế giới nghệ thuật thơ. Nxb Giáo dục, 1995, tr.279-430.


 [U1]Ngữ pháp

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s