THUỐC – BI KỊCH TRONG CHIẾC BÁNH BAO TẨM MÁU NGƯỜI

Truyện ngắn của Lỗ Tấn

Trần Đình Sử

Thuốc là truyện ngắn sâu sắc, độc đáo của Lỗ Tấn, nhà văn lớn thuộc giai đoạn đầu thế kỉ XX của Trung Quốc. Tác phẩm viết xong ngày 25 – 4 – 1919, trước ngày bùng nổ phong trào Ngũ Tứ chống đế quốc, chống phong kiến  (ngày 4 – 5 – 1919) 9 ngày, thời điểm sáng tác ấy hé lộ cho thấy một âm hưởng chính trị của tác phẩm.

Nhân vật chính của truyện là Hạ Du, ám chỉ liệt sĩ Thu Cận bị sát hại năm 1907, cũng cho thấy Lỗ Tấn đang suy nghĩ về các nhà Cách mạng lớp trước. Lỗ Tấn là người đã trải qua cách mạng Tân Hợi 1911, một cuộc Cách mạng chống phong kiến, nhưng đã thất bại. Có thể nghĩ rằng Thuốc là tác phẩm nêu một suy nghĩ về Cách mạng khi một phong trào Cách mạng mới đang tới gần.

Nhan đề “Thuốc” có ý nghĩa tượng trưng. Trong nghĩa đen đó là cáí bánh bao tẩm máu người dùng làm thuốc chữa bệnh lao phổi. Máu người cách mạng lại là “thuốc” chữa căn bệnh nô lệ của một dân tộc. Cái bánh bao tẩm máu người đã gắn kết bi kịch của hai gia đình họ Hoa và họ Hạ và qua đó phản ánh bi kịch của dân tộc Trung Hoa. Ông người họ Hoa đã đem số tiền dành dụm được để mua một chiếc bánh bao tẩm máu người dùng làm “thuốc” chữa bệnh lao cho con lão với biết bao nhiêu hy vọng, nhưng thứ bánh ấy tất nhiên không phải là thuốc, cho nên thằng Thuyên, đứa con trai duy nhất của gia đình lão Hoa “mười đời độc đinh” đã chết. Nhà họ Hạ có đứa con Hạ Du đi làm cách mạng, chống triều đình Mãn Thanh, mưu cầu hạnh phúc cho người Trung Quốc, nhưng bị người trong họ bán đứng và bị giết hại, máu của anh lại được bán dùng làm “thuốc”, còn anh thì bị đám người ngu muội chửi rủa, mát sát trong quán trà. Một chiếc bánh bao tẩm máu người mà chứa đựng bao nhiêu tấn bi kịch của đất nước Trung Quốc.

Đó là những bi kịch gì?

Đối với nhà lão Hoa, đó là bi kịch của sự ngu dốt, mê tín. Lão tưởng rằng bánh bao tẩm máu người là thứ thần dược công hiệu có thể chữa được bệnh lao, một trong tứ chứng nan y. Cái chết của thằng Thuyên cũng là cái chết của bao hi vọng của đời lão.

Đối với nhà họ Hạ, bi kịch của Hạ Du phức tạp hơn nhiều. Hạ Du làm cách mạng để giải phóng cho người dân Trung Quốc, nhưng người dân Trung Quốc hầu như không mấy ai hiểu ý nghĩa việc làm của anh. Họ chẳng những không hiểu, mà còn vào hùa với phe phản động, chửi rủa anh, mạt sát anh, thậm chí lấy máu anh làm thuốc để bán, để dùng. Những lời tuyên truyền của anh trong ngục rất tha thiết, cao cả thì lại bị coi là lời của người “điên”. Mẹ của Hạ Du cũng không hiểu được sự nghiệp của con, bà lấy làm xấu hổ vì con “làm phản”, bị chết chém, không bằng cái chết bệnh của thằng Thuyên! Đây quả là một bi kịch lớn của nhà Cách mạng.

Nhưng Hoa, Hạ là hai nửa của từ Hoa Hạ, có nghĩa là Trung Quốc. Bi kịch của hai họ Hoa, Hạ cũng là bi kịch của cả dân tộc Trung Hoa. Đó là bi kịch của sự ngu dốt, tăm tối và bi kịch của những người cách mạng khi còn xa rời, không bắt rễ được vào đông đảo quần chúng. Một Hoa Hạ rộng lớn mênh mông, nhưng ngu dốt, chia rẽ, lạc hậu bị các nước đế quốc chia năm xẻ bảy, chẳng phải bi kịch là gì? Đó là nỗi niềm đau đớn sâu xa nhất của tác giả.

Từ các bi kịch nói trên ta có thể hiểu tư tưởng của tác phẩm là phơi bày sự ngu dốt, tăm tối của người dân Trung Quốc đương thời và chia sẻ với nỗi buồn, cô đơn, lạnh lẽo của nhà cách mạng. Quy cả dân tộc hoặc đại đa số dân chúng vào lỗi ngu dốt dĩ nhiên là không thỏa đáng. Nhưng hồi bấy giờ Lỗ Tấn đang quan tâm đến “tính quốc dân”, tức là tính dân tộc Trung Hoa, ông thấy sự ngu dốt là một nguyên nhân lớn làm nên sự bất hạnh của người Trung Quốc, đòi hỏi phải có một phong trào khai sáng. Và đây là tư tưởng chủ yếu của thời đại Ngũ Tứ, thời đại đề cao tư tưởng khoa học và tư tưởng dân chủ.

Nhà văn đã tập trung miêu tả sự ngu dốt tăm tối của quần chúng trong tác phẩm của mình. Bắt đầu từ lão Hoa. Trên đường lão đi “mua thuốc”, lão chỉ nghĩ đến một điều là “thuốc”, một niềm sung sướng, phơi phới, mà không hề nghĩ gì đến người chết, vì sao mà chết. “Trời lạnh hơn trong nhà nhiều, nhưng lão cảm thấy sảng khoái, như bỗng dưng mình trẻ lại, và ai cho phép thần thông cải tử hoàn sinh. Lão bước những những bước thật dài. Trời cũng sáng dần và đường cũng càng lâu càng rõ.” Tất nhiên một người có con bị chứng nan y thì còn nghĩ được điều gì khác nữa, ngoài căn bệnh của con, nhưng tâm lí này cũng cho thấy sự vô cảm trước các sự kiện xã hội. Còn tin theo thuốc nhảm lại càng là một biểu hiện khác của sự ngu dốt thảm hại: Khi cầm được “thuốc” trong tay, lão sung sướng mê muội: “Lão sẽ mang cái gói này về nhà, đem sinh mệnh lại cho con lão,và lão sung sướng biết bao!” Bà Hoa rất tin theo lời đồn, còn người “mặt thịt ngang phè”, kẻ bán “thuốc”, ra sức quảng cáo : “Cam đoan thế nào cũng khỏi”.

Cảnh trong quán trà phơi bày sự ngu muội của người dân trước hiện tình đất nước. Người ta công nhiên kiếm lợi trên cái chết của Hạ Du một cách vô liêm sỉ. Cái chết của Hạ Du làm lợi cho nhà cụ Ba, vì cụ “có công” cáo giác, “được thưởng hai mươi lạng bạc trắng xoá, một mình bỏ túi tất chẳng mất cho ai một đồng kẽm”. “Cụ Ba” là bác của Hạ Du (ông là cụ Ba Hạ, còn mẹ Hạ Du là thím Tư Hạ), nghĩa là bác ruột tố cáo cháu để lãnh tiền thưởng! Lão Nghĩa mắt cá chép làm đề lao thì  lấy được cái áo của tử tù cởi ra, may nhất là ông Hoa mua được bánh bao tẩm máu, còn người mặc áo đen thì có dịp bán bánh bao tẩm máu, lấy một gói bạc trắng của ông Hoa. Người ta kiếm chác trên cái chết của người liệt sĩ như thế đó!

Chẳng những thế, người ta còn tỏ ra không hiểu gì về việc mà Hạ Du làm. Khi cả Khang kể chuyện Hạ Du trong nhà ngục thì  không ai hiểu nổi anh làm gì cả. Khi anh tuyên truyền: “Thiên hạ Mãn Thanh chính là của chúng ta”, thì họ – lão Năm gù, người râu hoa râm, khách trong quán, ông cả Khang, người thanh niên hai mươi tuổi – đều cho là vô lí, nói thế mà nói được à! Khi anh bảo lão Nghĩa mắt cá chép “thật đáng thương”thì mọi người bổng “ngơ ngác”: Lão Nghĩa sao lại đáng thương! Người đáng thương phải là Hạ Du chứ! Quả tình họ không hiểu gì hết! Chẳng những thế, họ còn cho anh là điên. Vậy là từ già đến trẻ, từ kẻ tay sai đến kẻ vô can, nhất loạt đều phụ hoạ với người áo đen mà cho Hạ Du là điên! Trước cảnh ngu dốt ấy, sự cô đơn, lạnh lẽo của nhà cách mạng thật là không có cách gì miêu tả hơn được.

Cảnh nghĩa địa cũng vẫn tiếp tục phơi bày sự ngu dốt của người dân. Hai bà mẹ có con mới chết cùng đi lễ Thanh minh. Nhưng bà mẹ họ Hạ đến nghĩa địa với sự hổ thẹn. “Khi thấy bà Hoa ngồi bệt giữa đất thì ngập ngừng, không muốn bước tới nữa, sắc mặt lại đỏ lên vì xấu hổ! Khi thấy vòng hoa trên mộ con mình, bà Hạ “tay chân run lên, loạng choạng lùi lại, mắt trợn trừng, ngơ ngác”. Bà suy luận “Hoa không có gốc, không phải dưới đất mọc lên, Ai đến đây? Trẻ con không thể đến chơi. Bà con họ hàng nhất định không ai đến rồi. Thế này là thế nào?” Thế là bà tưởng rằng vòng hoa là do con bà hiển linh và cầu mong ứng nghiệm. Bà cầu mong con quạ đến đậu lên mồ con, nhưng con quạ vẫn đứng im, cuối cùng bay đi mất, để lại niềm thất vọng cho bà mẹ.

Tác phẩm đã thể hiện tư tưởng lúc này của Lỗ Tấn: “Phơi bày những căn bệnh khổ đau của xã hội, kêu gọi mọi người chú ý chữa trị”. Một câu chuyện như vậy thì thật quá buồn đối với các nhà cách mạng. Vì thế, để đem lại một ít không khí lạc quan, Lỗ Tấn đã đặt lên nấm mộ Hạ Du một vòng hoa. Cái vòng hoa ấy là của Lỗ Tấn, thể hiện lòng khâm phục, kính yêu của ông đối với nhà cách mạng đã hi sinh. Có người khen tinh thần của Lỗ Tấn, nhưng cũng có người chê, cho rằng vòng hoa phá vỡ mất không khí bi kịch của thiên truyện. Nhưng xét ra vòng hoa cũng có vai trò của nó, nhờ nó mà phơi bày thêm sự lạc hậu trong ý thức của người dân. Nếu bỏ chi tiết vòng hoa thì truyện sẽ kết ra sao?

Về nghệ thuật, truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn là một kiệt tác, thể hiện toàn bộ sự cách tân của nhà văn đối với thể loại truyện ngắn.

Thứ nhất, với truyện ngắn này, truyện viết ra không nhằm mục đích tiêu khiển mà nhằm mục đích tư tưởng, viết cho người đọc suy nghĩ, giác ngộ.

Thứ hai, với truyện Thuốc, truyện ngắn không lấy việc xây dựng cốt truyện hấp dẫn, gay cấn làm trọng tâm, mà lấy việc xây dựng nhân vật làm trọng tâm. Xét về nhân vật trong tuyện ngắn này thì nhà văn tập trung vào xây dựng nhân vật đám đông. Truyện có nhiều nhân vật: ba người nhà họ Hoa, hai mẹ con người họ Hạ, người áo đen ngòm, ông cả Khang, lão Năm gù, Nghĩa mắt cá chép, cụ Ba, người râu hoa râm, cậu thanh niên hai mươi tuổi, tổng cọng có 12 người, lại còn cái đám đông đi xem tử hình, những người khách khác trong quán. Chỉ một vài chi tiết chấm phá nhưng các nhân vật đều có nét riêng khó quên về mặt tâm lí: Ông Hoa, bà Hoa thương con, thằng Thuyên bệnh nặng (qua tiếng ho), người áo đen hung dữ, tàn bạo, cả Khang khoác lác, Nghĩa mắt cá chép tham lam, Cậu Năm gù và người thanh niên hai mươi tuổi xun xoe, xu phụ, Bà Hạ thi mê tín, Hạ Du, qua câu chuyện của cả Khang là một người bất khuất. Tên nhân vật có tính ẩn dụ. Hạ Du liên hệ với Thu Cận; Họ Hạ với họ Hoa liên hệ với Hoa Hạ, ám chỉ tộc người Trung Quốc; Cả Khang tuy tên là Khang nhưng là bệnh hoạn nhất, còn lão Nghĩa chính là phường bất nghĩa. Tuy nhiên cần lưu ý: Lỗ Tấn xây dựng hình tượng đám đông, nhưng có phân biệt. Những người như hai vợ chồng lão Hoa, bà mẹ họ Hạ, họ là người hiền lành, đáng thương, nhưng không đáng ghét. Lỗ Tấn không châm biếm sự ngu dốt của họ. Bọn còn lại gồm những kẻ tàn nhẫn như người bán bánh bao tẩm máu, cả Khang, Nghĩa mắt cá chép, cụ Ba, chúng là kẻ xấu, hãm hại người cách mạng và những kẻ phụ hoạ với lũ người trên như Năm gù, lão râu hoa râm, người thanh niên hai mươi tuổi. Đối với Hạ Du Nhà văn một lòng ngưỡng mộ. Lỗ Tấn đau đớn nhận thấy anh thanh niên mới 20 tuổi, lẽ ra là lớp người tiến bộ, mà đã phụ họa theo bọn ngu dốt, phỉ báng nhà cách mạng.

Thứ ba là xây dựng hình thức truyện ngắn đa dạng. Riêng truyện Thuốc này, nhà văn hầu như không kể chuyện, mà chỉ tả, tả cảnh, tả người. Toàn truyện bao gồm bốn cảnh: Cảnh đi mua thuốc, cảnh cho con bệnh uống thuốc, cảnh bàn về công hiệu của thuốc, cảnh nghĩa địa. Qua bốn cảnh mà người đọc hình dung được câu chuyện xảy ra và số phận của nhân vật. Lỗ Tấn tỏ ra là nhà văn có biệt tài miêu tả đám đông để phơi bày trạng thái vô cảm của họ. Chẳng hạn đám đông đi xem chém người: “Tiếng chân bước ào ào. Trong nháy mắt, bao nhiêu người đi qua. Những người tụm năm tụm ba lúc nãy cũng dồn lại một chỗ, rồi xô nhào tới như nước thuỷ triều, gần đến ngả ba đường thì đứng dừng lại, quây thành một nửa vòng tròn. Lão Hoa cũng nhìn về phía đó, nhưng chỉ thấy lưng người mà thôi. Người nào người nấy dướn cổ ra như cổ vịt bị một bàn tay vô hình nắm lấy xách lên. Im lặng một lát. Bỗng hình như có tiếng động. Rồi cả đám xô đẩy nhau ào ào, lùi về phía sau đến chỗ lão đứng…”. Cả đám đông được tả mỉa mai như một đàn vịt, được điều khiển bởi một bản năng thích xem những chuyện ồn ào, giật gân, như chuyện chém người! Nhân vật bé Thuyên xuất hiện với tiếng ho rất đặc trưng của người bị bệnh lao. Trong miêu tả Lỗ Tấn sử dụng nhiều chi tiết có ý nghĩa biểu tượng mà ý nghĩa cho đến nay vẫn còn gây tranh cãi như chi tiết con quạ. Khi bà mẹ Hạ Du khấn thì “con quạ vẫn đậu trên cành khô trụi lá, rụt cổ lại như đúc bằng sắt”, nghĩa là không ứng nghiệm cho bà Hạ. Nhưng khi họ ra về thì “Con quạ xoè đôi cánh, nhún mình, rồi như mũi tên, vút bay thẳng về phía chân trời xa”. Có người cho là có ý nghĩa tượng trưng cho Cách mạng vẫn đi tới chân trời xa, nhưng nhiều ý kiến cho đó chỉ là chi tiết miêu tả khung cảnh lạnh lẽo nơi nghĩa địa, không có ngụ ý gì.

Thứ tư, là sử dụng ngôn ngữ bạch thoại, tức là ngôn ngữ hằng ngày của người Trung Quốc đương thời. Đọc kĩ truyện ngắn Thuốc, sẽ thấy ngôn ngữ được sử dụng rất đặc sắc. Ngôn ngữ lão Hoa rất tiết kiệm, nhiều câu hỏi lão không trả lời. Trái lại, Cả Khang thì lắm lời, hắn chứng tỏ là người có quyền uy, nói oang oang, được đám đông phụ hoạ. Xét về động từ, nhà văn dùng rất đắt. Bản dịch tuy đã có biến đổi, nhưng vẫn giữ được phần nào đặc sắc ấy. Chẳng hạn người đao phủ bán bánh bao tẩm máu, khi thấy lão Hoa ngần ngại, hắn liền “giật lấy chiếc đèn lồng, xé toạc tờ giấy dán bên ngoài, bọc chiếc bánh lại, nhét vào tay lão,tay kia thì giật lấy gói bạc, nắn nắn, rồi quay đi, miệng càu nhàu”. Các động từ giật, xé, nhét, giật, nắn nắn, càu nhàu đã vẽ lên một kẻ tàn bạo, nhẫn tâm.

Thứ năm, kết cấu rất khéo. Truyện xoay quanh cái bánh bao tẩm máu người mà xây dựng một tuyến truyện bề nổi: mua thuốc, uống thuốc, bàn về thuốc, kết quả của thuốc, và một tuyến truyện chìm: cụ Ba bán Hạ Du, Hạ Du chiến đấu ở trong tù, Hạ Du bị chém, thái độ mọi người đối với anh. Cả hai tuyến kết hợp hài hoà, bộc lộ tư tưởng tác phẩm rất nổi bật.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s