TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN

(Trích Romeo và Juliet của Shakespeare)

Romeo và Juliet là sáng tác quan trọng thuộc thời kì đầu trong cuộc đời sáng tác của Shakespeare, viết vào khoảng 1594 – 1597. Vở kịch miêu tả tấn bi kịch của một đôi nam nữ yêu nhau say đắm, nhưng do bầu không khí và hành động thù hận lâu đời của hai dòng họ ở thành phố Vêrôna, nước Ý, cuối cùng đã chết vì tình một cách thê thảm. Cái chết bi thương của họ đã làm cho hai dòng họ thức tỉnh và hoà giải, thể hiện khuynh hướng  tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn, chống thù hận truyền kiếp và kêu gọi tinh thần khoan dung, bác ái.

Đoạn trích rút từ lớp 2 hồi II. Hồi I kể chuyện ngày vũ hội hoá trang ở nhà dòng họ Capulet của Juliet, tổ chức nhân dịp nàng 14 tuổi, Romeo thuộc dòng họ thù địch Montague, đeo mặt nạ vào dự, được gặp nàng Juliet và hai người đem lòng yêu nhau. Hồi II kể chuyện đêm hôm ấy Romeo, tách khỏi bạn bè lẻn vào vườn nhà nàng, trèo tường lên phòng nàng tình tự. Đây mới là đoạn mở đầu của cuộc tình hồn nhiên, trong trắng, thánh thiện của họ, sáng hôm sau họ nhờ tu sĩ Laurence làm lễ cưới. Nhưng do thanh niên hai họ xô xát, Romeo giết chết anh họ của Julỉet là Tybalt, bị trục xuất khỏi thành Verona, trong lúc đó thì gia đình Juliet ép gả nàng cho Paris, con trai vương chủ thành phố. Laurence bày mưu cho nàng uống một thứ thuốc giả chết trong 42 giờ đồng hồ, đồng thời cho người đưa tin để Romeo về đúng lúc nàng tỉnh dậy để đưa nàng đi trốn. Nhưng vì thông tin trắc trở, Romeo về trước, tưởng Juliet đã chết thật, chàng uống thuốc độc tự tử theo nàng. Juliet tỉnh dậy thấy Romeo đã chết, nàng cũng cầm lấy chiếc dao găm quả cảm đâm vào trái tim mình để chết theo người yêu.

Ý nghĩa xã hội của vở bi kịch này trước hết là đề cao tình yêu tự do chung thuỷ, ý thức chống hủ tục phong kiến rất nổi bật. Kể một câu chuyện tình bi kịch mà nguyên nhân là do ý thức phong kiến cổ lỗ, tác giả đã kết hợp được đề tài tình yêu với tinh thần của thời đại Phục hưng, phê phán quan niệm luân lí hủ bại của thời trung cổ.

Bi kịch của Shakespeare thường có ba đặc điểm nghệ thuật. Một là nó phải kết thúc bằng cái chết của nhân vật anh hùng. Bi kịch cận đại và hiện đại không như thế. Điều quan trọng không chỉ ở tình huống bi kịch của nhân vật, mà còn ở chiều sâu của mâu thuẫn bi kịch cũng như chiều sâu của tính cách và tâm hồn nhân vật. Nhân vật bi kịch của Shakespeare tuy chết, khiến người xem thương tiếc xót xa, nhưng lí tưởng của nhân vật thì lại chiến thắng, khiến người đọc nhìn thấy ánh sáng của tương lai. Hai là, nhân vật của ông đều là quý tộc, có lẽ đó là quan niệm của ông do thời đại tạo nên. Ba là hành động của nhân vật bi kịch phải xuất phát từ nội tâm và ý chí của bản thân nhân vật, nghĩa là việc nhân vật đi tới kết thúc bi kịch không thể quy kết cho nguyên nhân khách quan bên ngoài. Nhân vật tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về tấn bi kịch của mình. Tuy nhiên bi kịch của Romeo và Juliet thì có khác.

Romeo và Juliet là kịch thơ xen lẫn văn xuôi như hầu hết các vở kịch của Shakespeare. Lớp 2 hồi II của vở này thì toàn là thơ gồm 190 câu thơ (theo nguyên bản). Đoạn trích Tình yêu và thù hận chỉ gồm 16 lời thoại đầu tiên của cảnh này, chỉ dài 74 câu thơ. Khi đọc kịch, cần phải cảm nhận được đặc trưng của thể loại, tránh đọc kịch mà như đọc tiểu thuyết hoặc truyện ngắn. Trong đoạn trích này, ta nên hình dung đoạn kịch trên sàn diễn, với khung cảnh thời gian, không gian, vị trí của hai nhân vật…; khán giả nhìn rõ cả hai nhân vật  trên sân khấu, Romeo nhìn thấy Juliet, còn Juliet thì lúc đầu không biết có Romeo núp dưới lùm cây trong vườn. Ta cần phân biệt tính chất của các lời thoại trong cảnh này: độc thoại nội tâm (thốt lên thành tiếng do đặc trưng của thể loại, chẳng hạn lời thoại số 1), độc thoại (chẳng hạn lời thoại của Juliet khi tưởng rằng đêm khuya thanh vắng trong vườn chẳng có ai) và đối thoại. Romeo và Juliet chỉ thực sự trò chuyện với nhau từ lời thoại số 7.

Trong đoạn trích ngắn này đương nhiên ta không thể nhìn thấy xung đột kịch, không thấy kết thúc bi kịch của nó, nhưng ta sẽ thấy một tình yêu trong trắng, mảnh liệt, vượt lên mọi thù hận của dòng họ, gia đình. Ta cũng sẽ thấy ngôn ngữ kịch đẹp tuyệt vời của nhà viết kịch lỗi lạc Shakespeare.

Lời độc thoại 1 và lời độc thoại 3 thể hiện tình yêu đắm đuối, mảnh liệt của chàng đối với nàng. Một mặt chàng liều lỉnh, không sợ hiểm nguy mà dòng họ thù địch sẽ đem lại, dám lẻn vào vườn nhà người yêu. Mặt khác qua lời chàng ta hình dung được dung nhan kiều diễm của Juliet toát ra từ đôi mắt và dáng điệu như một tiên nữ. Lời độc thoại 6 của Juliet chẳng những thể hiện tình yêu cháy bỏng, mà còn thể hiện ý thức vượt lên mối thù dòng họ. Khi người ta đang yêu thì ngoài tình yêu ra người ta không còn nghĩ đến điều gì  nguy hiểm nữa, không còn điều gì quan trọng nữa.

Từ lời thoại 7 trở đi đôi tình nhân mới bắt đầu đối thoại với nhau. Qua đối thoại, ta thêm hiểu tình thế hiểm nguy của Romeo va hiểu mối lo của Juliet, nàng chỉ lo cho chàng. Qua lời thoại của Romeo ta hiểu lời thề son sắt của chàng, sẵn sàng từ bỏ dòng họ của mình cho tình yêu, một điều hầu như không thể có đối với một chàng trai phương Đông vốn nặng tình gia tiên dòng họ. Đó là nét rất tây của chàng. Đồng thời ta càng thấy thêm tinh thần dũng cảm của chàng. Đối với chàng, tình yêu mạnh hơn thù hận.

Toàn bộ lời thoại thể hiện tập trung tư tưởng nhân văn, chống lại tư tưởng trung cổ. Đó là tinh thần khẳng định tình yêu cá nhân và coi thường các định kiến hủ bại của tác giả.

Ngôn ngữ đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách của Sêchspia trong giai đoạn đầu. Thời kì đầu ngôn ngữ kịch Shakespeare mang phong cách cổ điển cung đình, thích những từ ngữ tao nhã, thuần khiết, mĩ lệ, trau chuốt, có khi kiểu cách; còn thời kì sau ngôn ngữ của ông trở nên bình dân, giản dị, suồng sả, khiến cho những người như Voltaire, Haine phản đối. Chẳng hạn Haine chê Shakespeare đã để cho Otenlô nói đến chiếc khăn tay ướt của Desdemona, vợ chàng. Chiếc khăn tay, theo Haine là một từ ngữ tục!

Trong đoạn trích này tác giả đã dùng những so sánh, ẩn dụ rất tao nhã, cao quý. Juliet được ví với mặt trời, vầng dương, ánh sáng. Mắt nàng được ví với các vì sao. Dáng của nàng được ví với sứ giả nhà trời, tiên nữ, đang cưỡi những áng mây lững lờ lướt nhẹ trên không trung. Trong các so sánh ấy tác giả nhiều khi cũng cố ý hạ thấp giá trị của thiên nhiên , như vầng trăng, vì sao để đề cao sắc đẹp của người yêu. Đồng thời tác giả cũng thường đối lập vẻ đẹp của Juliet với đồ vật trần tục. Đó cũng là bút pháp nghệ thuật của phương Tây, khác hẳn với phương Đông.

Một đoạn trích rất ngắn, chỉ gồm có 16 lời thoại trong kịch Romeo và Juliet của Shakespeare mà ta thấy được mâu thuẫn giữa tình yếu với ý thức hủ bại trung cổ, thấy được tinh thần tự do, giải phóng của thời Phục hưng, thấy được phong cách ngôn từ cổ điển phương Tây, khác hẳn ngôn từ nghệ thuật phương Đông, đó chẳng phải là điều thú vị, học ít mà biết nhiều hay sao?

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s