THƠ TRỮ TÌNH ĐIỆU NÓI TRONG THƠ TỐ HỮU

Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói, khác với lời thơ cổ điển thuộc lối thơ trữ tình điệu ngâm. Là một thành tựu của thơ Việt Nam hiện đại, thơ Tố Hữu khác với thơ cổ điển về một số nguyên tắc tổ chức lời thơ.

     Do quan niệm truyền thống về vũ trụ, người xưa xem thơ như là sự biểu hiện của thế giới qua tâm hồn nhà thơ : tình rung động mà thành lời. Có người ví tâm hồn nhà thơ như mặt nước, mà thế giới muôn đời như gió thổi qua làm nước gợn sóng. Gió nhẹ sóng lăn tăn, gió to sóng dào dạt, đều là thơ của tạo hoá. Ngô Thế Lân lại ví tâm hồn như cây trúc (ruột rỗng không – “hư tâm”), gió cuộc đời làm trúc lay động mà lên tiếng. “Gió đến thì trúc kêu, gió qua thì trúc lặng, gió to thì kêu to, gió nhỏ thì kêu nhỏ. Thế là tiếng kêu là tại gió, chứ không phải tại trúc. Trúc vốn là hư không vậy”([1]). Tiếng thơ được xem như cộng hưởng với ngoại cảnh. Đó là quan niệm thơ như là sự biểu hiện vô ngã, tuy nhấn mạnh nguồn mạch khách quan của tiếng thơ, nhưng chưa thấy vai trò năng động sáng tạo của chủ quan nhà thơ. Ngay khi nói : “thơ nói chí”, “ở trong lòng là chí, thốt ra lời là thơ” thì truy nguyên, chí là sự rung động của khí trong tâm hồn trước đạo, và lời thốt ra chẳng gì khác hơn là cái lăn tăn của sóng hay tiếng kêu của trúc.

       Từ quan niệm đó, thơ không được coi như một phát ngôn hay lời nói, mà xem như một biểu hiện của văn tạo hoá, đứng cùng dãy với gấm hoa, chim kêu, vượn hót, gió thoảng, mây bay. Làm thơ là làm sự gửi gắm. Mà nguyên tắc gửi gắm khác hẳn nguyên tắc giao tiếp trực tiếp. Do đó, thơ cổ điển thiếu hẳn các dấu hiệu của lời nói như đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, thiếu các dấu hiệu của lời nói ngữ điệu, thiếu liên hệ giữa các câu thơ về mặt cú pháp. Nhà thơ nói đến tình cảm, cảm xúc mình mà như là “của người khác”, của vũ trụ, như là “không của ai cả”([2]). Từ đó nảy ra bút pháp gián tiếp đầy ngụ ý, ký thác. Các câu thơ kiểu :

       Gác mái, ngư ông về viễn phố

       Gõ sừng, mục tử lại cô thôn

       Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

                        Dặm liễu sương sa khách bước dồn…

đều không mang dấu hiệu lời nói. Yếu tố lời nói trong các câu khác thường rất mờ nhạt. Từ ngữ trong bài thơ được nối với nhau theo các quy luật siêu ngôn ngữ như đối, niêm, vận, số chữ cố định, số câu hạn chế…Câu thơ hầu như bị tẩy sạch hết các hư từ trỏ quan hệ lời nói. Âm điệu của thơ được tạo ra bằng sự phối hợp chặt chẽ với các thanh bằng, trắc, trầm bổng. Việc giảm bớt vai trò của lời nói đi đôi với việc tăng cường vai trò của yếu tố hoạ trong thơ. Người đọc chủ yếu không phải lắng nghe lời nói trong thơ, mà lắng nghe các ý vị của hình ảnh, tình điệu của sự, của hình. Ngay như thể hát nói, thì thực chất cũng là một thứ thơ ngâm vịnh. Đó là sản phẩm của thời đại mà ngôn ngữ thơ ca tách rời ngôn ngữ nói.

      Trái lại, thơ ca dân gian đã mang nhiều yếu tố điệu nói : đại từ ngôi thứ nhất và thứ hai, các hình thức lời nhắn, lời than, lời kể. Nhưng vì phần lớn là lời hát theo làn điệu, hoặc được sáng tác theo một số môtíp bền vững nên hình thức lời nói ít phát triển. Các sáng tác cổ điển gần gũi với truyền thống dân gian, với đời sống, cũng đã đưa lời nói vào thơ một cách tài tình, mới mẻ như một số thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… nhưng chỉ thường thấy ở các trường hợp châm biếm, đả kích, xách mé. Những khi trữ tình sâu lắng, nghiêm trang, các nhà thơ lại trở về với lối thơ điệu ngâm, tả ý.

      Sự phát triển của thơ mới chính là ở bước cải tạo thơ hết sức quan trọng, làm cho hình thức lời nói được vào thơ, làm phong phú cho thơ bằng nhiều ngữ điệu của cuộc đời, tạo thành thơ trữ tình điệu nói. Có thể nói không ngoa, thơ mới đã góp phần căn bản cải tạo lại thơ tiếng Việt từ thơ trữ tình của “vũ trụ” sang thơ của con người, chuyển tâm thế sáng tạo từ ý, hình sang lời, giọng, điệu.

     Thơ mới lãng mạn của Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính… và nhất là Xuân Diệu, đã góp phần khẳng định chắc chắn cho thơ trữ tình điệu nói. Các nhà thơ mới cũng đổi mới thơ tả ý điệu ngâm như Tràng giang, Đẹp xưa.. tuy nhiên loại này không phải là chủ đạo.

      Trong khi phần lớn thơ ca cách mạng trong tù chưa thoát khỏi ràng buộc của thơ điệu ngâm, chưa vận dụng nhiều khả năng của thơ điệu nói, thì Tố Hữu chính là nhà thơ mới cách mạng, phát triển thơ trữ tình điệu nói trong lĩnh vực thơ chính trị công dân, đưa tiếng nói cách mạng vào thơ, nâng tiếng nói tâm tình đời tư lên tiếng nói chính luận, hùng biện.

Thơ trữ tình điệu nói có những khả năng mà thơ điệu ngâm không có được. Với các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất nó có thể cho phép nhà thơ biểu hiện rõ ràng, dứt khoát lập trường, tư tưởng, tình cảm của cá nhân trữ tình. (Trong thơ cổ điển, lời thơ không là lời của ai cả, do đó lập trường tác giả bị ẩn kín). Với hô ngữ gọi ra đối tượng trữ tình, tiếng thơ được định hướng. Với các mối liên hệ của ngôn ngữ câu thơ trữ tình điệu nói mở rộng chất thơ sang phạm vi tư duy và giọng điệu, lấy đó làm chất liệu mới. Và nói chung, thơ điệu nói mở đường cho lời văn xuôi và chất văn xuôi vào thơ. Do đó, phát triển thơ trữ tình điệu nói có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đổi mới thơ trữ tình chính trị.

Hầu hết thơ Tố Hữu đều bắt đầu từ một chữ “tôi” (“ta”, “chúng ta”). Đó là một thế giới, một tiếng nói trước thế giới. Thiếu đại từ này, nhà thơ dường như chỉ trữ tình bằng mắt, bằng ý, bằng tâm, mà miệng thì câm  lặng. Thiếu đại từ này thì nhà thơ hoà tan vào thế giới xung quanh, làm lu mờ bản ngã. Cái tôi trong thơ Tố Hữu khơi một nguồn năng lượng mới trong thơ ca cách mạng. Đó là yếu tố thứ nhất tạo nên tiếng nói quyền uy cách mạng của thơ Tố Hữu.

     Thơ trữ tình điệu nói của Tố Hữu thể hiện trước hết ở chỗ thường sử dụng các lời chêm, hô ngữ, thán ngữ, tiếng chào,… làm cho lời thơ đầy ắp giọng điệu cảm xúc khác nhau :

                     Quên làm sao, em hỡi, lúc chia phôi !

                     Vui sao được, hở em, thân gầy gõ…

                     Em ơi em, làm sao quên được…

                        ốtsơvenxim ! ốtsơvenxim !

                     Và chúng bay, bầy Mỹ – Diệm giết người

                        Hãy nghe đây, chúng ta nói một lời…

                     Anh Vệ quốc quân ơi

                        Sao mà yêu anh thế !

                     Voi hăng lên nhé

                        Trận này lập công !

                    Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi

                        Năm canh bớt nặng nỗi thương đời…

                     Đó anh coi, giống bò này, Hà Lan, Thuỵ Sĩ

                        Trại mới xây, hiện đại nhất đời…

                     Vì sao nhỉ, anh em ơi, có lúc

                        Ta vẩn vơ mơ tưởng trên đường…

                     Cơ chi anh sớm được về bên nội

                        Hôn nỗi đau tan nát Phù Lai…

                     Dang tay một với, xa gì !

                 Sài Gòn ơi, lại phải đi bao ngày !

Thơ mang nhiều lời nói tranh biện, lý lẽ, tuyên bố, khẳng định, đòi hỏi phải ngắt câu thơ tự nhiên ra nhiều khúc, tạo liên hệ vắt dòng giữa các dòng thơ :

                     Này đây anh, một bức tranh gần gũi

                        Nó thô sơ ? Có lẽ. Nhưng trung thành

                        Nó tầm thường ? Nhưng chính bởi hồn anh

                        Chê chán kẻ bị đời vui hắt hủi.

                     Không ! Không ! Không ! Anh không chết. Trong tôi

                        ý đời anh đã nảy lộc đâm chồi…

                     Anh có hiểu cô đơn là nỗi khổ

       Của lòng tôi ? Thất thểu giữa muôn người

       Vẫn thấy mình trơ trọi : muốn tìm nơi

                        Đầy nắng rát, vẫn còn nghe tái lạnh…

                     Tôi vẫn hằng tự nghĩ : miễn quên thân

       Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa

       Thế cũng đủ, lựa chi nhiều tài trí

                        Mới là tên lính quý của đoàn quân…

                     Hãy thay chúng tôi đi vang động

       Tiếng vọng căm thù, tiếng vọng đau thương

       Của Miền Nam bất khuất kiên cường

       Hãy chặn lại những bàn tay đẫm máu

                        Của Mỹ – Diệm ! Và bền gan chiến đấu !

                     Giặc Mỹ ! Cứ đem mày đến đây !

       Chúng tao, pháo đã sẵn trong tay

       Lúa ta vẫn tốt, cây ra lộc

                        Xuân vẫn về cho ong bướm say…

Ta thường bắt gặp trong thơ Tố Hữu dấu chấm câu ngay giữa dòng thơ làm cho hình thức câu thơ bị bẻ gãy, tạo thành cảm giác của câu nói. Thơ Tố Hữu dùng nhiều câu hỏi khêu gợi, khẳng định, chất vấn, mềm dẻo mà cứng rắn :

                     Hỏi xuân có biết hơn anh

Đất trời ta đã thêm xanh mấy lần ?

       Vì sao ngày một thanh tân ?

Vì sao người lại mến thân hơn nhiều ?

       Vì sao cuộc sống ta yêu ?

Mỗi giây mỗi phút sớm chiều thiết tha ?

       Vì sao mỗi hạt mưa sa

            Mỗi tia nắng rọi cũng là tình chung ?

                     Ai biết vì sao ? Lúc đất trời

            Chuyển mùa rét dữ, gió sương rơi…

                     Ta giữ cho ai ? Mảnh đất này

                        Việt Nam ! Hai tiếng gọi hôm nay…

Thơ có xu hướng dùng nhiều kết cấu lôgích làm câu thơ rành rọt, mạnh mẽ :

                     Đơn giản vậy, cơm ăn áo mặc

       Của ta nay, nặng biết bao tình

       Cả không khí, trời xanh miền Bắc

                        Cũng trong như lòng Bác thương mình.

                     Nghề bí thư đâu chuyện giấy tờ

       Lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ

       Phải đâu tim cứng thành con dấu ?

                        Càng thấu nhân tình nên vẫn thơ !

                     Chưa dễ lành đâu, những vết thương

       Nửa mình còn nhức, hỡi quê hương

       Song mùa vui đã mang xuân tới

                        Đã tắt hôm nay lửa chiến trường.

Không phải ngẫu nhiên mà thơ Tố Hữu có nhiều chỗ tái hiện lời đối thoại, lời độc thoại mang giọng điệu cụ thể cảm tính của các mẹ (bà bủ, bầm, mẹ Suốt, bà mế,…), các chị (Lá thư Bến Tre), các anh (Morixơn, Hồ Giáo, anh Núp,…).

Thơ trữ tình nhập vai chỉ xuất hiện khi nhu cầu tái hiện giọng điệu và ý thức ẩn sau giọng đó. Bản thân tư tưởng, suy nghĩ của nhà thơ cũng thường được diễn đạt dưới hình thức đối đáp (Tiếng hát sông Hương, Dửng dưng, Tháp đổ, Giữa thành phố trụi, Bắn, Việt Bắc, Ta đi tới,…) là những hình thức trực tiếp gần gũi với lời nói.

Những đặc điểm cú pháp như trên hợp thành đặc trưng thơ trữ tình điệu nói của Tố Hữu. Chính lối thơ này làm biến đổi hình thức thơ dân tộc trong tay Tố Hữu. Các nhà nghiên cứu đã nhận xét đúng đắn về sự đổi mới nhịp điệu thơ truyền thống của ông. Chẳng hạn, Lê Đình Kỵ đã thống  kê cho thấy trong thơ lục bát Tố Hữu, các trường hợp ngắt nhịp ở chữ thứ ba trong câu sáu và câu tám đã trở thành dấu hiệu đặc trưng.

Xét kỹ các trường hợp ấy ta thấy, đó là sự ngắt nhịp tạo nên do việc đưa lời nói vào thơ – những hiện tượng và quan hệ đời sống mới không thể dễ dàng diễn đạt bằng hai chữ cho hợp nhịp thông thường, nhưng mặt khác, ngắt chữ thứ ba mới tạo ra nhịp điệu nói :

                     Ta với mình/mình với ta.

                     Nhớ sông Lô/nhớ Phố Ràng.

                     Chiếu Nga Sơn/ gạch Bát Tràng.

                     Cầm tay nhau/hát vui chung

                     Chú lái trước/anh ngồi sau.

                     Nỗi niềm xưa/ nghĩ mà thương

                     Hương Giang ơi/dòng sông êm.

                     Tố Như ơi/lệ chảy quanh thân Kiều

                     Tiếng gươm khua/tiếng thơ kêu/xé lòng…

Nghiên cứu cách Tố Hữu ngắt nhịp câu thơ bảy chữ, Nguyễn Văn Hạnh đã kết luận là Tố Hữu “đã mở rộng kích thước, biến đổi hình dáng của câu thơ bảy chữ”([3]). Lê Đình Kỵ lại càng nhấn mạnh hơn : “có thể nói, Tố Hữu đã tháo tung câu thơ bảy chữ cổ truyền (thơ luật Đường), hay có sẵn (thơ mới) và làm một sự lắp ghép lại”([4]).

Xin nói thêm là chính việc đưa lời nói vào thơ đã làm nên sự thay đổi sâu sắc ấy, chẳng hạn :

       Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy

       Trên đầu bay, thác lửa hờn căm

       Trông : bốn mặt luỹ hầm sụp đổ

       Tướng quân bay lố nhố cờ hàng

       Trông : chúng ta cờ đỏ sao vàng

                        Rực trời đất Điện Biên toàn thắng.

Hay :

       Cả muôn triệu một lời đáp : Có

       Như Trường Sơn say gió biển Đông

       Vâng. Bác nói. Chúng con nghe rõ

                        Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông…

Đó là câu thơ bảy chữ và lục bát điệu nói hiện đại. Đọc thơ ông, người ta không thể tuân theo cái nhịp điệu đều đặn cố hữu của thể thơ, mà phải tuân theo nhịp của lời nói được diễn đạt. ở đây, sự tôn trọng các dấu chấm, dấu cảm, dấu hỏi, dấu phẩy…có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nếu thơ cổ điển điệu ngâm muốn giản lược các hư từ thì trái lại, trong thơ điệu nói của Tố Hữu, các phụ từ như “vẫn”, “sẽ”, “quyết’, “cứ”, “chỉ”, “hãy”, “chẳng”, “không”, “phải”, “đâu phải”,… đóng vai trò hết sức quan trọng. Có thể nói Tố Hữu là người sử dụng hư từ thành công bậc nhất trong thơ Việt Nam hiện đại.

Nhưng cái độc đáo của thơ Tố Hữu không chỉ có điệu nói mà chủ yếu là ở chỗ kết hợp nhuần nhuyễn thơ điệu nói dưới hình thức của thể thơ cổ truyền. Sẽ sai lầm nếu đánh giá thấp ý nghĩa của thể thơ truyền thống đối với sự phát triển của thơ ca hiện đại.

     Thơ ca thế kỷ XX đã chứng kiến hai khuynh hướng ngược nhau trong việc vận dụng thể thơ. Bên cạnh khuynh hướng thơ tự do, giải thoát khỏi thể thơ cố định, nghiêm nhặt, lại có khuynh hướng từ thơ hiện đại trở về với truyền thống([5]). Đó là J.R.Becher (1891 – 1958) sau thời kỳ thơ biểu hiện chủ nghĩa và thơ tự do, trong mấy chục năm cuối đời trở về với thể thơ xonê chặt chẽ. Đó là nhà thơ lớn nhất Tây Ban Nha Antonio Manchado (1875 – 1939), trong những năm cuối đời trở về với xonê và thơ ba dòng, biến chúng thành thể thơ sâu sắc, giàu sức mạnh chống chủ nghĩa phát xít. Đó là một trong những nhà thơ lớn nhất của Pháp hiện đại R.Desnos (1900 – 1945), người đã từ thơ siêu thực trở lại với xonê trong thời kỳ kháng chiến.

Việc sử dụng thể thơ truyền thống của Tố Hữu cũng nằm trong xu thế chung đó của thế giới.  Ý nghĩa của xu thế đó là ở đâu ? Phải chăng là khi thơ ca chung vận mệnh với dân tộc và nhân dân thì nó trở về với hình thức truyền thống ? Các nhà thơ trên đã trở lại truyền thống khi họ gắn bó nhất với vận mệnh của nhân dân. Trong thơ ca Xô viết cũng vậy. Những năm hai mươi – ba mươi, các tìm tòi đổi mới làm cho hình thức thơ “hoàn toàn bị phá hoại”. Chiến tranh thế giới thứ hai làm cho nhà thơ sát cánh với nhân dân trở về với hình thức thơ dân gian, và thơ được phát triển nở rộ như thơ K. Simônốp (1915 – 1979), M. Ixacốpxki (1900 – 1979), v.v.([6]). Đó là khuynh hướng muốn làm cho thơ thành tiếng nói gần gũi của đông đảo quần chúng.

Thơ Tố Hữu cũng không nằm ngoài quy luật ấy, nhưng sự kết hợp thơ điệu nói trong hình thức truyền thống có một ý nghĩa cách tân sâu sắc. Ông tạo nên một sự tương phản nội tại giữa thể thơ cổ truyền chỉnh tề với nhịp điệu lời nói và làm cho thơ thêm giàu sức biểu hiện.

     Một nhà nghiên cứu văn học Xô viết cho biết : “Tính định kỳ, đều đặn (hay một quy luật nào khác, phức tạp hơn) tạo thành thuộc tính cơ bản của nhịp điệu có ý nghĩa quan trọng đối với nghệ thuật không phải là do bản thân nó, mà chỉ vì nó là một phương tiện để đưa tâm hồn người đọc (người nghe, người xem) vào cái trạng thái trong đó, bất cứ sự đi chệch nào, dù là nhỏ nhất, khỏi tính đều đặn kia, đều được cảm giác nhịp điệu của chúng nhận ra một cách rõ rệt, và nghệ sĩ vận dụng chức năng đó vào mục đích biểu hiện”([7]).

      Nhà thơ đã vận dụng nhịp thơ truyền thống như một giác quan nhịp điệu để dễ nhận ra ý nghĩa biểu hiện của câu thơ điệu nói, và ngược lại. Chẳng hạn :

       Chập chùng/ thác Lửa / thác Chông./

Thác Dài, thác Khó/, thác Ông,/ thác Bà./

       Thác,/bao nhiêu thác,/cũng qua,/

            Thênh thênh/ là chiếc/thuyền ta / trên đời.

Rõ ràng mấy câu đầu đã nuôi và mài sắc cảm giác nhịp đều đặn để tôn lên cái nhịp lẻ khác thường đầy khí phách của câu thứ ba, tạo thành cái thế mà Lê Đình Kỵ gọi là cái thế “chồm lên vượt thác”. Vấn đề không ở bản thân sự ngắt nhịp mà còn ở tương quan của hai hình thức thơ. Các ví dụ như vậy rất nhiều trong thơ Tố Hữu.

      Một số người hâm mộ khuynh hướng mở rộng câu thơ đến 2, 3, 4 dòng chữ in như kiểu thơ S.J.Perse và H.Michaux ở Pháp. ở ta cũng có đôi người thể nghiệm, nhưng đó là hướng còn rất hãn hữu cả ở thơ Pháp và thơ châu Âu. Sự kết hợp của Tố Hữu tạo thành một khả năng mở rộng nội tại trong các khổ thơ. Ông có nhiều khổ thơ mà cả khổ chỉ là một hoặc hai, ba dòng của một câu.

                        Rồi xuân ấy cả nhân quần vui vẻ

       Nắm tay nhau, tuy khác tiếng, màu da

       Giẫm chân lên những núi sông chia rẽ

                        Và ôm nhau thân ái cùng vang ca !

Hoặc :

                     Tháng năm ơi, có thể nào quên

       Hàng bóng cờ tang thắt dải đen

       Rủ giữa lòng đau. Ta nhớ mãi

                        Cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên.

                     Hỡi người Anh đã khép chặt đôi môi

       Tiếng anh hô : “Hãy nhớ lấy lời tôi”

       Đang vang dội. Và ánh đôi mắt sáng

                        Của anh đã chói ngời trên báo Đảng…

Lối mở rộng này làm cho câu trong thơ thường dài trên mười chữ và tạo điều kiện xây dựng những hình ảnh thơ kiểu mới : “Có thể nào quên hàng bóng cờ tang thắt dải đen rủ giữa lòng đau”. Hay “Ta nhớ mãi cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên”. Cách mở rộng này có khi làm câu thơ trở thành văn xuôi, ít thơ, như :

       Bao nhiêu hy vọng đem ngày mới

       Với cả trời vui phủ địa cầu

       Tôi đã mang trong lòng phấn khởi

                        Từ ngày chân bước xuống hầm sâu.

      Tuy nhiên, nhà thơ thường vận dụng cách này trong lối thơ bảy chữ, tám chữ. ít thấy ông vận dụng vào thơ lục bát. ở đây chất thơ phụ thuộc vào năng lượng lời nói.

Tố Hữu nói : “Bài thơ hay làm cho người ta không còn thấy câu thơ. Chỉ còn cảm thấy tình người. Quên rằng đó là tiếng nói của ai, người ta thấy nó như là tiếng ca từ trong lòng mình, như là của mình”([8]).  Dĩ nhiên nói như thế không có nghĩa là câu thơ và phong cách không còn quan trọng, mà chỉ là nhấn mạnh đến tính chất của bài ca chung, tình điệu chung, nhấn mạnh đến một nét đặc trưng trong thi pháp. Phải chăng vì vậy mà nhà thơ đặc biệt chú trọng khai thác tình điệu, ý vị, lời nói, giọng nói hơn là các phương tiện từ ngữ và chi tiết độc đáo ? Tố Hữu nói : “Đau đớn thay phận đàn bà, – câu thơ ấy có gì là “tài” ? Vậy mà nghe xốn xang, nhức nhối. Thơ không phải chỉ là văn chương mà chính là gan ruột”([9]). Thể hiện lời nói gan ruột là một hướng tìm tòi của thi pháp Tố Hữu :

       Ngẩng đầu lên : trong sáng tuyệt trần

       Tháng tám mùa thu xanh thắm

       Mây nhởn nhơ bay

       Hôm nay ngày đẹp lắm !

       Mây của ta trời thắm của ta

                        Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà !

Câu thơ như một tiếng reo sảng khoái, hồ hởi, tự hào !

       Rộn ràng thay, cảnh quê hương

Nửa công trường, nửa chiến trường, xôn xao

Câu thơ vui trầm tĩnh, kín đáo, một dự cảm về đất nước thống nhất hiện lên qua cách chơi chữ.

       Dang tay một với, xa gì ?

            Sài Gòn ơi, lại phải đi bao ngày !

Một tình cảm xốn xang, nghẹn lại trong cách ngắt nhịp :

       Đâu phải đường xanh. Đường qua máu chảy

       Bao nhiêu năm máu đỏ thành hoa

       Cuộc sinh nở nào đau đớn vậy

                        Rất tự hào mà xót tận trong da !

Câu thơ như một sự suy ngẫm đau xót và tự hào. Theo cách nói của Tố Hữu thì những câu thơ kiểu đó có gì là “tài” ? Chúng hết sức giản dị, tự nhiên mà hàm chứa bao nhiêu tình ý sâu nặng của một thời. Đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh, “thi pháp thời đại chúng ta là một thi pháp xác thực đặc biệt”, “thi pháp của người trong cuộc”([10]).

Lời thơ và lời của chính cuộc sống thống nhất làm một. Cuộc sống được nhập tâm, thốt lên thành thơ ! Tài thơ Tố Hữu là “tài” nói lên một cách chân thật, tự nhiên, sáng rõ khẩu hiệu, tình cảm, ý nghĩ trong lòng mỗi người Việt Nam. Ông không thiên về tìm kiếm những chân lý đời sống chưa ai biết đến, không theo đuổi những cách nói tân kỳ. Thơ Tố Hữu dường như chỉ là ý nghĩ, tình cảm đã được cảm thấy trong lòng mọi người, chỉ chờ câu thơ của ông mà thốt ra rành rọt. Thơ trữ tình chính trị vốn đòi hỏi sáng rõ nhưng phải là cái sáng rõ chứa đầy sức mạnh, âm thanh và hàm ý. Thơ ông là phát ngôn cho chân lý cách mạng, ân tình cách mạng và niềm vui cách mạng.

Câu thơ thường đúc lại hàm súc như thành ngữ, cách ngôn, khẩu hiệu :

                     Ta bước tới, chỉ một đường : cách mạng !

                     Đời trẻ lại. Tất cả đều cách mạng !

       Lòng ta không giới tuyến !

                        Lòng ta chung một Cụ Hồ !…

                     Bác sống như trời đất của ta

                        Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa…

                     Trường Sơn đông nắng, tây mưa

                        Ai chưa đến đó như chưa rõ mình !

Quả đúng đó là loại câu thơ mà người ta “không cảm thấy câu thơ”, “quên rằng đó là thơ của ai”, chỉ thấy nó “như là của mình” ! Thơ trữ tình cổ kim đều thế. Nó là thứ “vô cá nhân nhất trên đời”([11]). ý nghĩa của nó bao giờ cũng muốn vươn lên cái phổ quát của tục ngữ, châm ngôn, quy luật. Chẳng hạn : Yêu là chết ở trong lòng một ít (Xuân Diệu), Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn (Chế Lan Viên).

Câu thơ cách ngôn thường đòi hỏi một hình thức sắc sảo đến mê hoặc (yêu là chết, đất hoá tâm hồn), khơi gợi tìm xác định đồng nhất giữa hai bờ đối lập. Câu thơ cách ngôn Tố Hữu thiên về hun đúc năng lượng tình cảm, ý chí. Sức mạnh của nó chủ yếu không ở hình ảnh mê hoặc mà ở ngôn ngữ biểu hiện ý chí, niềm tin, ở hệ thống các hư từ : “chỉ một đường”, “tất cả đều”, “không giới tuyến”, “một Cụ Hồ”, “sống như trời đất”, “chưa đến đó chưa rõ mình”,… Một câu thơ như thế mang một sức căng thẳng nội tại về ý chí, tình cảm. Đó là loại câu thơ chỉ viết ra được trong những giờ phút lâm nguy, khi lựa chọn sống chết, khi quốc gia hữu sự, khi phân biệt chính tà, phải trái, khi rung động cao cả, khi say mê cái lớn lao. Đó không phải là thơ cách ngôn của sinh hoạt đời thường. Thơ Tố Hữu thuộc loại thơ giản dị, hồn nhiên mà mạnh mẽ, nhưng lại rất khó viết. Không có những xung đột lớn lao gay gắt làm cho tình cảm nung nấu rung lên tột độ, thì khó mà viết ra những câu thơ ấy.

      Là thơ trữ tình điệu nói, Tố Hữu đã tạo ra nhiều giọng nói phong phú cho thơ trữ tình cách mạng. Trong thơ ông có giọng nói rắn rỏi, dõng dạc, khúc chiết của nhà tuyên truyền, có giọng nói của người cách mạng trẻ tuổi tâm huyết, say sưa, của nhà cách mạng dày dạn trầm tĩnh, có tiếng nói bạn bè ấm áp, có tiếng nói ruột thịt tha thiết, mến thương.     

       Thơ Tố Hữu là cả một thế giới thơ giọng nói.   Đó là một điều hợp quy luật. Anh là một nhà thơ tuyên truyền cách mạng thì anh phải ý thức thường xuyên giọng nói của anh. Bởi lẽ, giọng nói của anh là vũ khí. Chính vì vậy Tố Hữu là nhà thơ rất chú trọng xây dựng hình tượng giọng nói trong thơ. Ông tạo ra những hình tượng giọng nói có chất, có hồn.

Thực chất giọng nói của nhà thơ không phải giản đơn là cái chất giọng trời phú tự nhiên của một danh ca, cũng không phải chỉ là giọng quê hương mang theo từ nơi chôn rau cắt rốn, mà cái chính là hình tượng giọng điệu do chính nhà thơ tạo ra, mang một tầm khái quát xã hội nhất định.

     Thời Từ ấy, Tố Hữu thiên về khai thác giọng nói nhiệt huyết, trẻ trung, tìm lối nói cường điệu giàu ý vị lãng mạn. Giọng thơ lãng mạn của Từ ấy chính là hình tượng giọng điệu mà nhà thơ cố ý tạo ra, bởi ông muốn thay thế tiếng thơ tỏ lòng điệu ngâm, kín đáo bằng tiếng thơ mới có sức bay bổng, ngân vang, có thể xốc lên cả một thế hệ trẻ. Giọng nói Từ ấy chủ yếu là giọng mà vị sứ giả của thế giới mới nói với “những tù nhân khốn nạn của bần cùng”, là giọng của một người lính trong đoàn quân quyết chiến. ở Từ ấy giọng nói lãng mạn và khí thế cách mạng không tách rời nhau, lời thơ lãng mạn và lời nhiệt huyết, quyết hy sinh  không tách rời nhau. Lãng mạn là cái vỏ mới của lời huyết thệ, của niềm tin và niềm vui chiến thắng.

Từ tập Việt Bắc, nhà thơ chuyển sang xây dựng hình tượng giọng nói quần chúng thân thiết, đậm đà, bởi lẽ, đối tượng của tiếng thơ ông bây giờ là anh bộ đội, anh thợ máy, chị dân công, là các bà bầm, bà mế, bà bủ. Vấn đề cũng không giản đơn là có điều kiện gần gũi quần chúng, nâng cao vốn sống, mà vấn đề còn là công chúng trực tiếp của thơ đổi thay. Vấn đề cũng không phải là thơ Việt Bắc chín hơn Từ ấy. Thơ Từ ấy đã chín trong giọng của nó, và cả thơ Việt Bắc, thơ Gió lộng sau này cũng có những bài, những câu chưa chín trong các giọng mới. Vấn đề là nhiệm vụ xây dựng hình tượng giọng thơ đã thay đổi.

     Đều là hình tượng giọng nói, bên cạnh các giọng quần chúng như chị Bắc Giang, bà mế,… còn có giọng của nhà thơ (khi thì với tư cách cán bộ : “Tôi là anh cán bộ”, khi thì với tư cách nhà thơ : “Lát rồi chim nhé, chim ăn – Bác Hồ còn bận khách văn đến nhà”). Tầm khái quát của các giọng có khác nhau, nhưng trội hơn hết là giọng nói tâm tình, nhỏ nhẹ. Đã qua rồi cái thời ấu trĩ, có khi đem đối lập giọng của nhà thơ với giọng của quần chúng trong thơ !

     Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, giọng nói trong thơ Tố Hữu đổi khác, vì bây giờ phải có giọng nói nói được với cả nước, với cả hai miền, với thế giới, với kẻ thù. Đó phải là giọng nói của người đại diện dân tộc, đại diện cách mạng. Tất nhiên đấy cũng phải là giọng nói đa dạng, giọng nói của cái tôi nhiều vai.

Gió lộng đã khắc hoạ lên những hình tượng giọng nói đẹp đẽ nhất – tươi tắn, bay bổng, dõng dạc, tự hào, say sưa, sảng khoái. Tiếng thơ nghe như tiếng hát, nhưng thực ra đúng hơn, nó là tiếng reo vui !

     Khó nhất cho thơ Tố Hữu là giọng nói trong thơ Ra trận. Phải khẳng định chân lý cách mạng Việt Nam khi bạn bè trên thế giới cũng có lúc chưa thông, phải ngợi ca thắng lợi cách mạng khi chưa có chiến thắng quyết định, phải có dự báo chiến thắng khi cuộc chiến đang còn tiếp diễn ác liệt, gay go. Phải khẳng định niềm tin, quyết tâm của nhân dân đang bao năm hy sinh, chiến đấu, trông chờ.

     Thời kỳ này, ngoài các giọng thơ vốn có, Tố Hữu thiên về xây dựng hình tượng tiếng nói cổ điển : nói với người bằng cách tự nói với mình, hoặc là nói với vũ trụ, mặt trời, chim, xuân…Thơ có nhiều câu hỏi, nhiều lời tự hẹn, tự khẳng định hơn bao giờ hết, nhưng căn bản là hình tượng một giọng nói quyết tâm, kiên gan. Tiếng thơ gần với giọng thơ nói chí cổ điển, vì nói chí là cách tuyên ngôn trang nghiêm trước đất trời, trước thế giới. Nhưng tiếng nói chí cũng là nói với mình, cho mình. Có điều là tiếng nói chí của Tố Hữu vang hơn, vì đó là lời nói chí của cả dân tộc. Thú vị nhất là có hình tượng của giọng thơ Kiều. Vấn đề không ở chỗ Tố Hữu vận dụng câu Kiều nào, biến hoá nó tài tình ra sao. Thật ra Tố Hữu cũng không làm cái việc lẩy Kiều. Vấn đề là ông đã sử dụng tài tình cái quan điểm cuộc sống ẩn giấu đằng sau giọng thơ đó – một giọng thơ trải đời, thâm thuý, thể tất nhân tình, lối nói nhẹ nhàng, gián tiếp. Tác giả tự gọi đó là tiếng thương, tiếng ru.

Hoài Thanh đã nhận ra rất đúng cái tiếng ru ấy, khi ông phân tích bài thơ Nước non ngàn dặm : “Bài thơ dài trên ba trăm câu mà gần như không một lần lỡ nhịp ngang cung ! Bài thơ ngọt lịm. Đúng là một tiếng ru. Một tiếng ru day dứt không thôi. Bởi riếng ru đây không phải là ru để ngủ, để quên, mà để đừng quên”([12]).  Lời bình thật chí lý. Mẹ ru con ngủ, nhưng chính lúc ấy là lòng mẹ thức tỉnh hơn bao giờ hết. Suốt một ngày đầu tắt mặt tối, chỉ khi ru con ngủ, mẹ mới có chút tĩnh tâm để suy nghĩ về mình, về đời !

    Nhưng chọn tiếng ru ngay giữa lúc bom đạn ngút trời, thắng lợi vẻ vang, mà cũng đầy thương tích đau xót, đâu phải chỉ vì “ngày nay nhiều bà mẹ và nhiều người làm thơ đã quên mất những giọng ru ngày trước”, như ông Hoài Thanh nói. Đó là một nhu cầu quá nhỏ so với tiếng thơ lớn của Tố Hữu. Cũng không phải chỉ vì giọng ru thể hiện giọng ngọt ngào nhất của người mẹ. Tiếng ru là một quan hệ. Nó vừa là hiện thân của sự nâng niu, trân trọng, vỗ về, lại vừa là cách nói gián tiếp, xa xôi đối với người khác, và là cách mình tự nói với mình.

Từ đây, tiếng nói trong thơ Tố Hữu chủ yếu là kết hợp giọng nói thân thương, ân tình của ca dao dân dã với tiếng nói trang nghiêm trầm lắng của thơ ca cổ điển.

      Trong thơ ca Việt Nam, việc học tập tiếp thu văn học dân gian và thơ ca cổ điển đã trở thành phương hướng nỗ lực của nhiều người. Nhưng kết hợp được nhuần nhuyễn trong thơ điệu nói mới mẻ vừa giọng ca dao mến thương, vừa giọng cổ điển trang nghiêm sâu lắng, thì có lẽ Tố Hữu là một trong những ví dụ ít ỏi.

      Sau tập Máu và hoa, bước sang thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, thơ Tố Hữu dường như chưa tìm được giọng thơ thích hợp như các giai đoạn trước. Ông thường lặp lại các giọng đã có ở các thời trước. Và rõ ràng không phải lúc nào tiếng ru, tiếng thương, tiếng ngọt ngào cũng nói được điều nung nấu nhất.


([1]) Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới, H.,1981, tr. 49.

([2]) Xem : I.X. Lixêvích, Tư tưởng văn học Trung Quốc trong buổi giao thời giữa cổ xưa và trung cổ, NXB Khoa học, M., 1979, chương 7 : Thơ, cá nhân và văn học (tiếng Nga).

([3]) Nguyễn Văn Hạnh, Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu,Nội san trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, H., 3 – 1970.

([4]) Lê Đình Kỵ, Thơ Tố Hữu,chuyên luận, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.,1979, tr. 502.

([5]) V.Admoni, Thi pháp và hiện thực, NXB Nhà văn Xô viết, M.,1975, chương Thơ tự do và các hình thức truyền thống, tr. 281 (tiếng Nga).

([6]) V.V. Kôginốp, Hình thức thơ và sự tái tạo thế giới trong sách : Các vấn đề hình thức nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, t.1, NXB Khoa học, M., 1971, tr. 256 (tiếng Nga).

([7]) S. M. Bondi, Bàn về nhịp điệu. Trong sách Kontekst, NXB Khoa học, M., 1977, tr.126 (tiếng Nga).

([8]) Tố Hữu, Xây dựng một nền văn nghệ lớn…, Sđd, tr. 444.

([9]) Tố Hữu, Sđd, tr. 446.

([10]) G.A. Belaia, Ngôn từ trong ngôn ngữ và phong cách trong sách Lý luận về phong cách văn học, NXB Khoa học, M., 1982, tr. 402 (tiếng Nga).

([11]) G. S. Gachép, Tính nội dung của các hình thức nghệ thuật – tự sự – trữ tình –  kịch,NXB Giáo dục, M., 1968, tr. 192 (tiếng Nga).

([12]) Hoài Thanh, Nước non ngàn dặm trong sách Tố Hữu, nhà thơ cách mạng, Sđd, tr. 313.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to THƠ TRỮ TÌNH ĐIỆU NÓI TRONG THƠ TỐ HỮU

  1. yen tac nói:

    EM RẤT CẢM ƠN VÌ EM LUÔN NHẬN ĐƯỢC BÀI TỪ GIÁO SƯ Ạ! EM XIN KÍNH CHÚC GIÁO SƯ SỨC KHỎE!

    Vào 12:17:07 GMT+7, Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2021, Trần Đình Sử đã viết: #yiv5691189461 a:hover {color:red;}#yiv5691189461 a {text-decoration:underline;color:#0088cc;}#yiv5691189461 a.yiv5691189461primaryactionlink:link, #yiv5691189461 a.yiv5691189461primaryactionlink:visited {background-color:#2585B2;color:#fff;}#yiv5691189461 a.yiv5691189461primaryactionlink:hover, #yiv5691189461 a.yiv5691189461primaryactionlink:active {background-color:#11729E !important;color:#fff !important;}#yiv5691189461 WordPress.com | Trần Đình Sử posted: “Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói, khác với lời thơ cổ điển thuộc lối thơ trữ tình điệu ngâm. Là một thành tựu của thơ Việt Nam hiện đại, thơ Tố Hữu khác với thơ cổ điển về một số nguyên tắc tổ chức lời thơ.    &” | |

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s