Tôi đã tiếp nhận thi pháp học Nga như thế nào?

TÔI ĐÃ TIẾP NHẬN THỊ PHÁP HỌC NGA  NHƯ THẾ NAO?

Trần Đình Sử

 

Thi pháp học, đặc biệt là thi pháp học lịch sử là một chuyên ngành nghiên cứu lí thuyết văn học rất nổi bật và đặc trưng đối với ngành nghiên cứu văn học Nga và Xô viết. Nói đặc trưng là bởi vì nó bắt nguồn từ các công trình nền tảng của A. N. Veselovski trong cuốn sách Thi pháp học lịch sử  viết từ nửa cuối thế kỉ XIX. Giữa lúc các nhà văn học so sánh châu Âu và Pháp sử dụng phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng, đi tìm cội nguồn của các nền văn học đi trước đối với các nền văn học đến sau, A. N. Veselovski, đại diện của nền văn học đến sau, không mấy hứng thú với nghiên cứu ảnh hưởng theo kiểu có màu săc chủ nghĩa dân tộc đó. Ông đã mở ra một huớng nghiên cứu so sánh có tính  nhân loại là thi pháp học lịch sử, nghiên cứu sự ra đời của các hình thức, nguyên tắc,công thức, motiv nghệ thuật, và cách chúng  được phục sinh trong các sáng tác văn học đời sau như thế nào.  Trên thực tế ông đã dùng văn học so sánh để nghiên cứu sự phát sinh và tiếp nhận và tái sáng tạo của hình thức trong văn học châu Âu. Trong nhưng năm tháng dưới chế độ Xô viết do thi pháp học lí thuyết bị cấm, không có điều kiện nghiên cứu, và phải đến thời kì băng tan sau khi Stalin mất  thì các công trình thi pháp học mới được in lại và các công trình thi pháp học lịch sử nở rộ như măng mọc mùa xuân. Có thể kể các tên sách nổi tiếng như Về ngôn ngữ văn học nghệ thuật (1959), Về vấn đề tác giả và phong cách nghệ thuật (1961) của V. Vinỏgadov, Những vấn đề thi pháp của Dostoievski (1963),  Francoise Rabelaise và văn hoá dân gian thời Phục hưng và trung cổ (1965), Những vấn dề văn học và mĩ học (1975), Mĩ học sáng tạo ngôn từ (1979) của  M. Bakhtin, Thi pháp N. Gogol của Ju. Mann, Thi pháp Zoshenco của Jonkovsski, Thi pháp Lev Tolstoi (1983) của V. A. Kovalev, Thi pháp tiểu thuyết của L. Tolstoi (1978) của V. G. Odinokov, Thi pháp của Chekhov (1971) của A. Chudakov,Thi pháp Pushkin của S. G. Bocharov, Thi pháp văn học Nga cổ (1967) của D. S. Likhachev, Thi pháp chủ nghĩa lãng mạn Nga –(1968) của Ju. Mann, Thi pháp chủ nghĩa hiện thực Nga (1971) của G. M. Fridlender. Thi pháp văn học Bidantin trung đại thượng kì (1977)của S.S. Averintsev, Thi pháp Ấn Độ cổ đại của Grinser, Thi pháp huyền thoại (1976)của E. Meletínski, Thi pháp học lịch sử (1978) của M. I. Steblin-Kamenski…Các sách nghiên cứu lí luận về thi pháp của V. Shklovski, V.Girmunski, R. Jakobson, B. Tomashevski, B. Eykhenbaum. V. Vinogradov, Tưnianov, M. Gasparov, Ju. Lotman… Trong số đó phải kể đếc phẩm như ba tập Lí luận văn học – những vấn đề cơ bản dưới ánh sáng của quan điểm lịch sử của Viện văn học thế giới mang tên Gorki, Trên các tạp chí khoa học và văn học ở phần mục lục thường có các mục phong cách học, thi pháp học. Chứng tỏ các vấn đề thi pháp không bao giờ tuột khỏi sự chú ý quan tâm của giới nghiên cứu văn học Nga hồi ấy. Số lượng các bài báo khoa học rất nhiều. Các công trình này cho thấy một khuynh hướng nghiên cứu mới, lệch khỏi nghiên cứu xã hội học chính thống, nghiêng về khám phám phá các giá trị và đặc trưng nghệ thuật. Nhưng thi pháp học là gì ? Các sách và các từ điển bách khoa văn học đều có các định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung vẫn là liệt kê nhưng cái được gọi là thi pháp, mà thiếu khái quát, chưa có những định nghĩa được mọi người chấp nhận.  Sau này vào năm 1989, nhận định lại khuynh hướng này học giả  A. Mikhailov ở Viện văn học thế giới mang tên Gorki trong một cuộc hội thảo tổng kết và nêu triển vọng của thi pháp học lịch sử Nga có nói rằng, “thi pháp học lịch sử là cái mà chúng ta đã nghĩ ra, nhưng chưa thực hiện nó”[1]. Học giả V. E. Khalizev ở bộ môn Lí luận văn học thuộc  Đại học Tổng hợp Lomonosov, đánh giá các công trình thi pháp học đương thời thì cho rằng thi pháp học Nga là “bộ môn không có bến bờ, nó nghiên cứu rất nhiều, nhưng chưa làm rõ cái phạm vi của đối tượng nghiên cứu, và thứ hai, chưa xác định được vị trí của bộ môn trong ngành nghiên cứu văn học. Đồng thời nó ôm vào mình cả việc diễn giài các sự thực văn học khác nhau, mà như thế thì đã đồng nhất thi pháp học lịch sử với nhiệm vụ nghiên cứu văn học nói chung”.[2] Sau khi Liên Xô Xô sụp đổ, thi pháp học chuyển sang nghiên cứu lí thuyết. Đến năm 2008 N. D. Tamarchenco   và đồng nghiệp mới cho ra sách Thi pháp học, các thuật ngữ cần thiết[3], mới minh định lại khái niệm thi pháp học như là lí thuyết văn học, như là một nghệ thuật ngôn từ. Thi pháp học có hai nhánh: lí thuyết và lịch sử. Và ông cho ra bộ giáo trình Thi pháp hpcj lí thuyếtThi pháp học lịch sử đầu tiên ở Nga[4].do ông chủ biên.

Đến đây, quan niệm thi pháp học Nga hình như đã rõ và hội nhập chung với thế giới.

Vào thời điểm mà tôi bắt đầu vỏ vẽ học và biết đọc tiếng Nga từ năm 1969 cho đến những năm 90  thì tôi đã thấy xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thi pháp hoc ở Nga rất rầm rộ như trên  gồm thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, thi pháp thể loại, thi pháp trào lưu văn học, thi pháp của cả nền văn học dân tộc nữa. Đọc nhưng cuốn sách và bài báo  ấy chúng tôi có được những cảm nhận mới mẻ, tinh tế về nhưng thể loại, những thế giới nghệ thuật rất khác biệt, phong phú, sinh động, thú vị hơn hẳn các giáo trình lí luận văn học với các khái niệm, phạm trù khô cứng như phản ánh hiện thực, tính đảng, tính nhân dân, các khái niệm thể loại văn học trừu tượng, chung chung. Và từ những lúc ấy chúng tôi quyết định phải đi vào nghiên cứu thi pháp văn học, coi đó là một vấn đề nghiên cứu mới. Vậy đó là khuynh hướng gì? Theo cách gọi của N. Tamarchenco, đó là thi pháp học văn học. Đó là vận dụng các phạm trù hình thức chỉnh thể để nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật văn học. Theo N. Tamarchenco, nghiên cứu như thế thì không phải là thi pháp học, nhưng gọi là thi pháp học vẫn đúng. Nhưng dù thế nào, đó vẫn là cách tiếp cận mới mà ở Việt Nam thời ấy chưa có.

Vào chính lúc đó ở Việt Nam, giới văn học đang trải qua các cuộc đấu rranh tư tưởng chống nhóm Nhân văn Giai phẩm, đấu tranhtư tưởng xét lại hiện đại, phê phán các phim xô viết như Người thứ 41, Khi đàn sếu bay qua, Bài ca người lính của các đạo diễn Liên Xô. Trong lí luận văn nghệ thì nêu cao phản ánh luận, miêu tả con người mới, chủ nghĩa anh hung, tính đảng cộng sản, phê phán các hình thức nghệ thuật phức tạp kiểu vở kịch Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, khích lệ những tác phẩm phản ánh hiện thực như thật. Tổng bí thư Trường Chinh chủ trương đề tài rõ ràng, cách thể hiện rõ ràng là biểu hiện của tính Đảng[5]. Một chủ trương có thể nói là rất phản nghệ thuật.

Là một giảng viên dạy lí luận văn học, tôi nhận thấy lí luận này chỉ quan tâm ý thức hệ, nội dung, chức năng tuyên truyền của văn học, mà hầu như chẳng quan tâm gì nhiều đến đặc trưng nghệ thuật. Nghệ thuật như vậy quả thật chẳng còn chút gì thú vị. Tôi tìm cách nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật của văn học. Khó khăn nhất là ngoại ngữ. Tôi chỉ biết tiếng Trung, mà lúc ấy tài liệu tiếng Trung lại chỉ quan tâm đấu tranh tư tưởngn rất nghèo nàn. Năm 1968 tôi xin đi học tiếng Nga và sau hai năm tôi mò mẫm đọc các tạp chi tiếng Nga lúc ấy đang tràn ngập trong các thư viện, mà lúc ấy không mấy ai có điều kiện để đọc.Tình cờ tôi đọc được bài báo của Đ. S. Likhachev, nhan đề là Thế giới bên trong của tác phẩm nghệ thuật, đăng trên tạp chí “Những vấn đề văn học”, số 8 năm 1968. Tôi vui mừng khôn xiết. Bài báo có thể nói là đã mở mắt cho tôi nhìn thấy đặc trưng của tác phẩm văn học. Tác giả chỉ ra, phần lơn nhà nghiên cứu văn học, khi nghiên cứu văn học phản ánh hiện thực, chỉ chú ý xem các hiện tượng được phản ánh có đúng không, chân thực hay không, mà không thấy tính chỉnh thể và ý nghĩa của nghệ thuật. Sự khác biệt của văn học so với hiện thực thì biết rồi, song các quy luạt kiến tạo hình tượng bên trong thì chưa biết. Ông giải thích, trong khi phản ánh hiện thực, nhà văn đã tạo ra một thế giới bên trong với con người, thiên nhiên, không gian, thời gian, đồ vật với những tính chất và quy luật riêng của chúng, khác hẳn với con người, không gian, thời gian trong thực tế. Tác giả lại phân tích không gian, thời gian trong truyện cổ tích, trong tiểu thuyết Dostoievski, làm cho tôi thấy, rõ ràng thế giới nghệ thuật khác hẳn thế giới hiện thực trong cách kiến tạo, một điều trước đó tôi vẫn nhầm lẫn, vì nguyên tắc phản ánh hiện thực như thật. Tôi lại đọc thêm nhiều tác phẩm nghiên cứu khác của các học giả Liên xô như V. Girmúnski, B. Tomashevski, G. N. Pospelov, V. Vinogradov, Ju. Lotman, Eikhenbaum, Gachev, B. O. Korman, Girshman, N. D. Tamarchenco, Ju. Borev và hiểu thêm các vấn đề thi pháp văn học như quan niệm về con người, không gian và thời gian nghệ thuật, đồ vật, ết, kết cấu, điểm nhìn trần thuật. Nhiều khái niệm trong số này lúc ấy chưa có trong từ điển.

Với khối tài liệu đồ sộ, phong phú, bề bộn  ấy tôi tiếp thu, lựa chọn quan niệm thi pháp như thế nào? Theo cách giải thích của N. D. Tamarchenco, thi pháp văn học cũng nghiên cứu các yếu tố, các cấu trúc như của thi pháp, nhưng trên tài liệu cụ thể, hai chữ thi pháp ở đây do đó có ý nghĩa ẩn dụ. Và các thi pháp ấy vẫn hợp lẽ như thường, nhưng nó không nghiên cứu lí thuyết mà ứng dụng lí thuyết. Do ở hoàn cảnh Việt Nam, tôi từ Veselovski, Shklovski, Girmunski, Bakhtin, Likhchev…tôi nhấn mạnh thi pháp học là lĩnh vực nghiên cứu các nguyên tắc kiến tạo hình thức nghệ thuật. Chính đối tượng này làm nên đối tượng độc đáo của nó, phân biệt với các bộ môn khác của khoa nghiên cứu văn học. Đó dĩ nhiên không phải là hình thức chất liệu (Shklovski cũng không hiểu thế), mà là hình thức của cái nhìn nghệ thuật của chủ thể, hình thức mang quan niệm. Thứ hai, đó là hình thức của chỉnh thể nghệ thuật. Hình thức của tác phẩm, thể loại, rộng hơn, có thể hình thức của trào lưu hay của giai đoạn văn học. Ba là hình thức mang mã văn hoá, gắn với truyền thống văn hoá. Bốn là hình thức có tính lịch sử và đổi thay, phát triển theo lịch sử. Năm là hình thức đối với người tiếp nhận. Sáu hình thức là một hệ thống gồm các yếu tố quy định nhau, liên kết nhau mà thành. Hình thức thống nhất hữu cơ với nội dung, tạo thanh khách thể thẩm mĩ đối với người đọc, là một thế giới nghệ thuật.

Để hiểu sâu thêm các tư tương thi pháp học Nga, tôi đã cùng đồng nghiệp dịch cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học[6] của G. N. Pospelov, cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoievski của M. M.  Bakhtin[7], dịch cuốn Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ [8]I. N. Lisevich và một số bài khác của Ju. Lotman sang tiếng Việt

Từ chỉ dẫn của Likhchev tôi đi tìm các chỉnh thể nghệ thuật với thế giới bên trong của nó. Tôi tim quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại như một cấu trúc nghệ thuật, ngôn ngữ tác phẩm như một hiện tượng nghệ thuật.

 

Từ các yếu tố đó chúng tôi xây dựng một mô hình về thế giới nghệ thuật và thử vận dụng nó vào mô tả thế giới nghệ thuật của tác giả Việt Nam. Đầu tiên tôi nghiên cứu thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Bài đăng trên Tạp chí văn học số 5 năm 1981. Bài báo gây được sự chú ý rộng rãi của giới nghiên cứu. Tiếp theo tôi nghiên cứu cái nhìn nghệ thuật của Ngyễn Du trong Truyện Kiều, đăng trên Tạp chí Văn học, số 6 năm 1983, Bài cũng được chú ý.  Được đặt hàng, tôi viết cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu[9], chủ yếu miêu tả thế giới nghệ thuật của thơ Tố Hữu qua các thời kì, suốt chặng đường hơn 40 năm sáng tác của nhà thơ với bố cục gồm các vấn đề sau: Loại hình thơ ca, kiểu nhà thơ và các thể loại (thể tài).  Sở dĩ thế là bởi vì, cái chỉnh thể sáng tác mới quy định các đặc trưng thi pháp. Thơ Tố Hữu đương thời rất nổi tiếng, được mọi người phong là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam”,đó  không phải là loại thơ ca bình thường, mà là thơ ca tuyên truyền chính trị. Mặt khác tuy là thơ tuyên truyền, nhưng thơ ông lại không phải là vè và khẩu hiệu, mà là thơ, bởi ông đa tuyên truyền với tất cả trái tim và tình cảm của ông. Nhưng dù thế, thơ ông vẫn không phải là thơ trữ tình bình thường. Ông chỉ là lá cờ đầu của một loại thơ riêng, con đẻ của cách mạng mà tôi gọi là thơ trữ tình chính trị. Nói chung Tố Hữu ngoài thơ tuyên truyền, ông không biết làm thơ trữ tình bình thường. Điều này giải thích vì sao ông không biết làm thơ tình yêu. Loại này ông cũng làm đôi bài, nhưng nói chung tầm thường. Sau đó mới nghiên cứu con người trong thơ, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật. Ở hai phạm trù này tôi đều chỉ ra các đặc trưng nổi bật của thơ ông.  Và cuối cùng là chương các phương thức thể hiện, bao gồm quan niệm thơ, chất thơ đặc trưng của tác giả về thơ và các phương thức tu từ đặc trưng của thơ tuyên truyền của Tố Hữu. Năm 1998 tôi công bố công trình Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam[10]. Trong cuốn sách này tôi vận dụng các tư tưởng của D. S. Likhchev,  V. Girmunski, M. I. Steblin – Kamenski, S. S. Averintsev…Giống như thi pháp văn học Nga cổ, thi pháp văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX phải là tiến trình hình thành ý thức văn học, tiến trình hình thành thể loại văn học, ngôn ngữ văn học, là tiến trình giao lưu văn học.  chú trọng khảo  sát quan niệm con người trong văn học, không gian, thời gian trong văn học., hệ thống thể loại văn học.Vì văn học Việt Nam thời trung đại do chịu ảnh hưởng của văn hoá và văn học của Trung Quốc, cho nên trên từng chương đều phải áp dụng phương pháp văn học so sánh. Lẽ tất nhiên, tôi là người chú trọng bình  diện tiếp nhận, tiếp biến hơn là phương diện ảnh hưởng.

Công trình quan trọng nhất của tôi là cuón Thi pháp Truyện Kiều[11], tác phẩm vĩ đại nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Cuốn này có 7 chương. Chưong 1 lịch sử vấn đề, chương 2 nhiên cứu Truyện Kiều trong truyền thống văn hoá, văn học Trung Quốc. Chương 3 trình bày Truyện Kiều trong truyền thống văn học văn hoá Việt Nam. Chương bốn nghiên cứu thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du, trong đó tôi khảo sát cái nhìn nghệ thuật về con người, không gian thời gian, hình tượng tác giả, màu săc trong truyện. Chương 5 nghiên cứu nghệ thuật tự sự, bao gồm các vấn đề mô hình tự sự, người kể chuyện toàn tri kết hợp với điểm nhìn nhân vật, cuyện, thể loại truyện thơ và chất thơ của truyện, độc thoại nội tâm của truyện. Chương 6 trình bày từ chương học, bao gồm đối ngẫu, hoẩn dụ, sóng đôi, điển cố, màu sắc và giọng điệu của truyện. Các thủ pháp này không mới, nhưng vấn đề là cách sử dụng chúng của tác giả. Các Chương cuối nghiên cứu sự tiếp nhận tác phẩm trong suốt hai trăn năm qua.Quyển sách được coi là đã vận dụng nhiều khái niệm, phạm trù mới và có nhiều tìm tòi mới.

Cùng với các công trình nghiên cứu trên chúng tôi còn nghiên cứu con người cá nhân trong văn học Việt Nam, tiến hành phê bình một số hiện tượng văn học hiện đại dưới góc nhìn thi pháp học, như thơ mới, một số loại hình thi ca, một số tác giả thơ mới và thơ cổ điển.Qua nhiều năm thực hành thi pháp học trên chật liệu văn học Việt Nam, tôi có may mắn là tiếp nhận kĩ thuật nghiên cứu, phân tích của các nhà phê bình văn học Nga lỗi lạc, như Shklovski, Girmunski, Eikhenbaum và nhiều học giả khác Phương pháp, kĩ thuật ấy chỉ có ở học giả Nga, khác hẳn với cách phân tích của các nhà phê bình văn học kế thừa ở di sản Pháp, như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Trương Tửu. Đồng thời thực hành thi pháp học phải đem lại cái mới thì mới thực sự có ý nghĩa. Chúng tôi không đem các phạm trù, khái niệm thi pháp có sẵn rôi chụp lên hiện tượng văn học để rút ra các kết luận tương đồng với khái niệm. Mà trong khi lấy khái niệm để xác định phạm vi xem xét, cái chính vẫn là phải xuất phát từ đặc trưng của hiện tượng văn học để khái quát lên đặc trưng thi pháp của nó. Có khi tôi nói quan niệm con người, không gian, thời gian trong  Truyện Kiều thì đó là quan niệm con người, không gian, thời gian của Truyện Kiều, chứ không thể là một cái gì chung chung ở đâu cũng có được. Bởi vì văn học Nga cổ, văn học các nước Bắc Âu Scandinavie, Iceland và văn học trung đại Việt Nam, văn học Nga thế kỉ XIX là những hiện tượng văn học và văn hoá hoàn toàn khác biệt, không sao có thể  mô phỏng, sao chép được.Đồng thới văn học Việt Nam trung đại liên hệ rất sâu với văn học cổ Trung Quốc, mà không hiểu văn học Trung Quốc thì không thể nghiên cứu so sánh được.Vào thời ấy ở Trung Quốc cũng chưa có các nghiên cứu tương tự.  Tôi nghĩ, hướng nghiên cứu mà tôi tiếp nhận được có thể coi là một cái mới, một “thể loại mới” trong nghiên cứu văn học của ta.

Đồng thời với nghiên cứu thực hành các hiện tượng thi pháp độc đáo của văn học Việt Nam, tôi còn biên soạn một giáo trình lí thuyết, trình bày một số phạm trù thi pháp học, gọi là Dẫn luận thi pháp học[12]. Tôi gặp vô vàn khó khăn, và cho đến này Dẫn luận của tôi đã có bốn phiên bản khác nhau. Đó là điều dễ hiểu bởi vì ở Nga cho đến lúc ấy vẫn chưa có sách loại đó. Như trên đã nói, trước đó, thi pháp học Nga bản thân nó cũng chỉ mới nghĩ ra nhưng chưa thực hiện  hoàn hảo. Nó chưa có một quan niệm, định nghĩa được mọi người thừa nhận. Các định nghĩa, giới thuyết trong các sách công cụ (Từ điển Bách khoa, do các tác giả tên tuổi biên soạn) phân lớn vẫn không tránh khỏi chung và biến đổi trong thời gian. Do đó khi tiếp nhận thi pháp học Nga đối với tôi đòi hỏi phải có sự lựa chọn và kiến tạo. Trong quá trình này tôi có những kiến giải riêng khác với các học giả Nga đáng kinh. Tôi không biết công việc của mình là đã đúng chưa, nhưng xin nêu cách mà tôi hiểu và biện luận vấn đề để mọi người thảo luận. Từ các quan điểm của A. N. Veselovski, các nhà hình thức Nga và quan niệm của M. M. Bakhtin, tôi hiểu thi pháp học là lĩnh vực nghiên cứu hình thức nghệ thuật, nhưng không phải là hình thức thuần tuý, không phải hình thức vật thể, hình thức chất liệu, mà là hình thức của khách thể thẩm mĩ, như nó bộc lộ với người thưởng thức, nhưng không phải là hình thức cảm tính, mà là hình thức mang quan niệm, dưới dạng hệ thống các nguyên tắc thẩm mĩ,được thể hiện thành các motiv, các mẫu gốc, các công thức tổ chức…. Tôi sẽ không gọi đó là hình thức mang nội dung. Do nhiều học giả xô viết hiểu hình thức mang nội dung là nội dung biểu đạt của tác phẩm phải nội dung của hình thức, cho nên tôi theo Bakhtin và Gachev, xem hình thức nghệ thuật ở đây là hình thức mang quan niệm, tức hình thức mang nghĩa của nó, tức là hình thức mang tính kí hiệu. Nói cách khác là hình thức mang tính chất thế giới quan đặc biệt. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người trong của tôi cũng khác với một số nhà nghiên cứu xô viết. Một số không ít các nhà nghiên cứu xô viết khi nói đến quan niệm nghệ thuật hay quan niệm thẩm mĩ về con người trong văn học họ thường hiểu theo quan niệm xã hội học, ý thức hệ. Song tôi dưa vào tác phẩm của Bakhtin, khi ông xem con người trong tiểu thuyết của Dostoievski như là những ý thức, chứ không phải khách thể, thì quan niệm như thế mới được coi là quan niệm nghệ thuật, bởi ví quan niệm như thế sẽ là quan niệm làm thay đổi cả thể loại, kết cấu và cả lời văn của tác phẩm, giống như cách mà Bakhtin đã phân tích thi pháp tiểu thuyết của Dostoievski.

Tôi đã học hỏi các quan niệm khoa học của các học giả xô viết để hiểu không gian, thời gian, thể loại, tác giả…để vận dụng vào nghiên cứu tác phẩm văn thơ Việt Nam. Tôi đã khái quát đặc điểm các thể loại văn học trung đại Việt Nam, các phong cách nghệ thuật của một số tác giả. Đồng thời tôi cũng thấy việc khái quát các đặc trưng thi pháp là một con đường mở. Với các lí thuyết khác nhau, người ta có thể rút ra các đặc trưng thi pháp khác nhau. Ví dụ sử dụng kí hiệu học, phân tâm học, diễn ngôn học, tự sự học… người ta có thể viết nên những thi pháp khác nhau của cùng một tác phẩm.  Như thế nghiên thi pháp không bao giờ có kết luận cuối cùng. Nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều, tôi thấy thi pháp “nói mãi không cùng”, giống như cảm nhận của Khalizev, là “vô bờ bến”. Tất nhiên điều đó không có nghĩa là ai cũng có thể nêu lên các thi pháp được, nếu họ không có nền tảng khoa học vững chắc.

Đọc các công trình của N. D. Tamarchenco, tôi thấy rõ ông đã có quan niệm rõ ràng về thi pháp học và thi pháp học lịch sử hơn mấy chục năm về trước. Tuy nhiên, theo tôi ông vẫn chưa làm sáng tỏ được khái niệm thi pháp học. một khái niệm còn được sử dụng khá khác biệt trong giới nghiên cứu. Đó là khi thì hoàn toàn đồng nhất thi pháp với lí luận văn học, khi thì hiểu thi pháp hẹp hơn lí luận văn học. một bộ môn của nghiên cứu văn học, bên cạnh lịch sử văn học và phê bình văn học.  Trong cuốn Lịch sử thi pháp học (Histoirre des poetiques của nhóm tác giả J. Bessiere, E. Kushner, R. Mortiere, , J. Weiberger, của Nxb Presses Universitaire France, 1997, các tác giả hiểu poetiques ở đây là các li thuyết văn học. Các nhà lí thuyết văn học Trung Quốc hiện cũng theo đó gọi thi học (tức thi pháp) là toàn bộ lí thuyết văn học. Xem Thế giới thi học dại từ điển, Nhạc Đại Vân, Diệp Lãng, Nghê Bồi Canh chủ biên, Nxb Xuân Phong, Liêu Ninh, 1993 người ta đưa vào thi pháp cả thi pháp văn hoá, thi pháp hậu thực dân…. Trong khi đó Jean Yves Tadié trong cuốn Phê bình văn học thế kỉ XX (Belfond , 1987) thì trong toàn bộ 10 chương sách trình bày các lí thuyết khác nhau, chỉ có một chương, chương 9, bàn về thi pháp học. Sở dĩ ông gọi là thi pháp học là vì ông dựa vào cách hiểu của trường phái hình thức Nga, coi đó như là sự phục sinh của thi pháp học. Trong đó ghi thi pháp học văn xuôi, thi pháp thơ và thi pháp đọc.. Trong thi pháp văn xuôi ghi tên các học giả tư Lubock, E. M. Foster, W. Booth, M.Bakhtin, Tz.Todorov, G. Genette, Ph. Amond… Xem thế thì thấy trên thế giới khái niệm thi pháp được hiểu khá phân tán. N. D. Tamarchenco trong sách Thi pháp học –Từ điển các thuật ngữ và khái niệm cần thiết, Nxb Kulaginoi, Ỉntrađa Moskva, 2008, khác với các tác giả khác, Tamarchenco chỉ xem thi pháp học là bộ phận khái niệm hạt nhân của lí thuyết văn học. Ông loại bỏ một số khái niệm thuộc lịch sử văn học như trào lưu, phương pháp luận,  con người mới. Nhưng về cơ bản, thi pháp học vẫn là bộ phận chính của lí thuyết văn học, nhưng phân biệt chính phụ thế nào thì chưa chỉ ra được bằng lí thuyết. Điều này tỏ ra càng khó khi phạm vi lí thuyết văn học, theo Jonathan Culler ngày càng mở rộng , thu nạp cả những lí thuyết rất xa với văn học như diễn ngôn của Foucault, hậu thực dân của Said. Theo tôi việc dùng hai thuật ngữ để chỉ  một đối tượng là chưa hợp lí, tạo nên sự hỗn loạn về thuật ngữ và khái niệm. Đã có khái niệm lí thuyết văn học rồi thì không nên lặp lại thuật ngữ thi pháp học cũng để chỉ cái đó nữa, hai cái nên chọn lấy một. Nếu dung thi pháp học thì chỉ theo một nghĩa khác, tức là khoa học về hình thức văn học, chỉnh thể văn học như nó vốn có trong lịch sử. Khác với cách hiểu các bộ phận của thi pháp học vẫn được ghi trong cac sách công cụ trước đây, tác giả Tamarchenco loại bỏ bộ phận thi pháp học miêu tả, thi pháp học chỉ còn hai bộ phận: thi pháp học lí thuyết và thi pháp học lịch sử. Lí do là vì ông coi đó là “thi pháp văn học”. Ý ông muốn chỉ các cuốn như Thi pháp văn học Nga cổ của Likhachev, chỉ coi là nghiên cứu văn học, mà không phải là nghiên cứu thi pháp học. Các thi pháp ấy được rút ra từ văn học tương ứng với các nội dung lí thuyết, trong cuốn sách của Likhachev nói đây là lí thuyết về phong cách. Theo suy nghi của tôi thì lập luận của Tamarchenco tuy có sở, song đó không phải là lí do đầy đủ để huỷ bỏ bộ phận miêu tả trong thi pháp học. Bởi vì nghiên cứu các hiện tượng văn học thông thường, người ta quan tâm đủ loại vấn đề. Còn trong các công trinh nghiên cứu thi pháp, người ta quan tâm thi pháp, do đó phải có lí thuyết mới mới có sự kiện thi pháp mới.  Điều này khiến nó khác với các nghiên cứu khác. Việc nghiên cứu thi pháp văn học còn có một ý nghĩa khác nữa. Theo tôi, khái niệm thi pháp văn học có lí do tồn tại của nó. Bởi vì như S.S. Averintsev đã nhận xét, thi pháp tồn tại trong văn học như ngôn ngữ nghệ thuật của nó. Khi sáng tạo văn học nhà văn đồng thời sáng tạo thi pháp văn học ở trong đó. Lí thuyết văn học được tạo ra sau văn học, từ bên ngoài văn học, không bao giờ phản ánh hết được thi pháp văn học. Chẳng hạn nguyên tắc tự sự, điểm nhìn tự sự đã được tạo ra từ lâu trong văn bản, mà mãi đến thế kỉ XX mới được tự sự học chỉ ra. Vậy tự sự học phải là một bộ phận của thi pháp học. Các lí thuyết tự sự khác nhau (như Lubock, Todorov, Genette, Greimas…) thuộc lí thuyết văn học, còn nghệ thuật tự sự của các nhà văn, tác phẩm được khái quát lên thì thuộc thi pháp văn học, mà không nên lẫn lộn hai mặt này. Mà thi pháp văn học bao gồm một phạm vi lớn, trong đó có thi pháp văn học dân tộc. Thi pháp học lịch sử của S. N. Broitman, có thể coi là nghiên cứu lí thuyết về sự hình thành  của văn học nhân loại. Nó khái quát sự hình thành văn học nhân loại qua ba giai đoạn lớn. Giai đoạn thi pháp nguyên hợp từ cổ đại đến thế kỉ thứ 4 trươc CN, giai đoạn hai từ thế kỉ 4 trước CN đến đầu thế kỉ XVIII là thi pháp điển mẫu, gồm 22 thế kỉ. Giai đoạn ba từ cuối thế kỉ XVIII đến nay, chỉ có hơn hai thế kỉ, là thi pháp tình thái. Một thi pháp lịch sử như thế là quan trọng, nhưng khó lòng có thể khái quát toàn bộ sự phong phú đa dạng của văn học nhân loại từ Tây sang Đông, từ khu vực này sang khu vực khác. Và ở đây cần có thi pháp học lịch sử của các nền văn học dân tộc, thi pháp học lịch sử các thể loại văn học cụ thể bù lấp vào.

Ngoài Trần Đình Sử còn có một số người khác hứng thú với thi pháp học Nga. Đó là Phạm Vĩnh Cư. Trong thời gian làm hiệu phó trứơng viet văn Nguyễn Du ông đã biên dịch cuốn Lí luận và thi pháp tiểu thuyết[13] Lí luận tiểu thuyết và các vấn đề khác được đem giảng cho các nhà văn trẻ ở trường. Nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã dành nhiều thì giờ đọc và suy ngẫm ca tư tưởng thi pháp của M Gasparov, Ju. Lotman, V, Tiupa, N. D. Tamarchenco, S. N. Broitman, dịch nhiều tác phẩm lí thuyết, đặc biệt là sách Kí hiệu học văn hoá của Lotman và Phê bình Kí hiệu học, gây được sự chú ý quan tâm rộng rãi trong giới nghiên cứu[14]. Đỗ Lai Thuý, người đã tổ chức dịch tập sách về chủ nghĩa hình thức Nga cùng nhiều công trình quan trọng khác và thực hành nghiên cứu thi pháp thơ Việt Nam có thành tựu. Tuy nhiên bài viết này không nhằm giới thiệu toàn bộ sự tiếp nhận thi pháp học Nga ở Việt Nam mà chỉ tập trung nói về sự tiếp nhận của một người trong số đó.

Tóm lại, tôi  là một người được đào tạo ở Nga, yêu chuộng nền nghiên cứu văn học Nga đã tiếp nhận thi pháp học Nga trong suốt thế kỉ XX đủ các trường phái,

khuynh hướng và đã  lựa chọn, kiến tạo lí thuyết, và thực hành nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam theo kiểu Nga. Có thể nói là tôi đã đồng hành cùng thi pháp học Nga trong thành công và chưa thành công của nó,và chia sẻ với nó về nhứng suy nghĩ còn chưa chin muồi của mình để người sau tiếp tục hoàn thiện.

Hà Nội, ngày 27 – 11- 2019.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÓM TẮT

TÔI ĐÃ TIẾP NHẬN THI PHÁP HỌC NGA NHƯ THẾ NÀO?

Trân Đình Sử

Thi pháp học Nga bắt đầu từ A. Veselovski và trường pháp hình thức Ngađầu thế kỉ XX,Nhưng do bị cấm đoán, từ cuối những năm 50 đến những năm 90 nó được hồi sinh rất phong phú đa dạng. Tôi tiếp nhận hướng nghiên cứu đó với sự mày mò tìm cách xác lập các khái niệm, hoc hỏi cách tiếp cận, các thủ pháp nghiên cứu đêm vào nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam, hình thành một “thể loại” nghiên cứu văn học, gọi là thi pháp học, từ những năm 80 đến đầu thế kỉ XXI ở Việt Nam .

 

Từ khoá: Trần Đình Sử, Thi pháp học Nga,  Thi pháp học ở Việt Nam,

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Михайлов А. В. Проблемы исторической поэтики в истории немецкой культуры. — М., 1989. — С. 61.

 

[2] Хализев В.Е. Историческая поэтика: Перспективы разработки // Проблемы исторической поэтики: Сб. научных трудов. – Петрозаводск, 1990. – Вып. 1. –

С. 3-10.

 

[3] Поэтика – Словарь ак туальных                                                                                                                                           терминов  и понятий Изд  Кулагиной Ỉntradam M., 2008.

[4] N. D. Tamarchenco, V. Tiupa, S. N. Broitman. Lí thuyết văn học hai tập, Thi pháp học lí thuyết, tập 1 và Thi pháp học lịch sử, tập 2.  Nxb. Akadema, Moskva, 2004.

[5] Xem: Nguyễn Xuân Nam. Chủ đề sáng rõ, một biểu hiện của tính Đảng, Tạp chí văn học,  số 6 năm 1965, diễn giải quan điểm của TRường Chinh trong báo cáo trước đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, 1962.

[6] Trần  Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Nghĩa Trọng dịch, Nxb Giáo dục, 1985.

[7] Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993.

[8] Trần Đình Sử dịch, Nxb ĐHSP Hồ Chí Minh, 1990.

[9] Trần Đình Sử. Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn, Hà Nội, 1987.

[10] Trần Đình Sử. Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1989. Tái bản dưới nhan đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004.

[11] Trần Đình Sử. Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002. Sách tái bản 8 lần. Lần cuối bổ sung, Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2018.

[12] Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, có cá phiên bản khác nhau, năm 1993, 94, 1998, 2004, 2017

13 M. M. Bakhtin. Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu, Trương viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội, 1992..

[14] Lã Nguyên, Phê bình kí hiệ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2018. Kí hiệu học văn hoá, dịch của Ju. Lotman, Nxb ĐHQG, Hà Nội, 2015, Lí luận văn học – những vấn đề hiện đại, Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2017.

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s