Anh Hoàng Ngọc Hiến trong tôi

Anh Hoàng Ngọc Hiến trong tôi

 

Trần Đình Sử

 

Tôi quen anh Hoàng Ngọc Hiến bắt đầu từ năm 1966 khi tôi nhận quyết định về công tác trường Vinh ở nghệ An. Biết tôi sắp về Vinh anh hẹn đến nhà chơi. Anh hồ hởi: “Về với bọn tớ, vui lắm đấy!” Hồi ấy phó tiến sĩ là một học vị cao sang, ai cũng kính nễ, nhưng anh Hiến cười hề hề nói : “Dắt con bò sang Liên xô nó cũng làm được phó tiến sĩ”. Nói thế có lẽ anh muốn nói không có gì ghê gớm đâu,  vì trong đó có anh, không phải người khác là bò, còn anh thì không. Anh kể cho tôi nghe quá trình làm luận án của anh rất nghiêm túc. Ông thầy tương lai của anh trước khi nhận hướng dẫn anh trước tiên kiểm tra vốn tiếng Nga của anh, bắt anh phân tích thử một truyện ngắn của Sekhốp xem ra sao, biết anh sử dụng tiếng Pháp, sau đó mới nhận hướng dẫn, nhưng anh nghiên cứu thơ Maya, chứ không nghiên cứu Sekhov. Anh mách tôi kinh nghiệm, muốn giỏi tiếng Nga thì phải đọc tiểu thuyết, càng nhiều tiểu thuyết càng tốt. Sau này có dịp sang Nga học tôi đã ra sức đọc tiểu thuyết.

Tôi thích anh Hiến trước hết vì anh là một kho tri thức uyên bác. Có vấn đề gì tôi đều hỏi anh. Với lối trả lời súc tich, chính xác, lại có thêm ví dụ minh hoạ, vấn đề trở nên sáng tỏ, dễ hiểu. Tôi học được cách đó và sau này khi nghiên cứu một vấn đề gì tôi cố gắng tìm ví dụ minh hoạ cho dễ hiểu, xác đáng. Kĩ năng này khi làm việc với sinh viên hay học viên cao học, nghiên cứu sinh dều rất hiệu quả. Khi viết giáo trình lí luận văn học tôi đều vận dụng kĩ năng này.

Anh Hiến là người thường xuyên đọc sách, bao giờ trong đầu anh cũng có kiến thức mới, vấn đề mới. Hồi ở Vinh xa Hà Nội, tức là xa thư viện, anh rất khổ. Mỗi lẩn ra Hà Nội là anh lao vào thư viên liền. Thái độ học tập đó đã lôi cuốn tôi và tôi thường gặp anh ở thư viện khoa học xã hội ở phố Lí Thường Kiệt, hoặc thư viện quốc gia Hà Nội. Sau này tôi mới biết, hồi ấy anh thường làm thuê cho thư viện KHXH, dịch và tóm tắt các công trình khoa học lớn nhỏ từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Chẳng hạn tóm tắt cuốn sách Số phận của chủ nghĩa hiện thực của Borix Xutkov, anh tóm tắt làm ba lần. Lần đầu tóm tắt từng chương rất tỉ mỉ. Lần thứ hai rút ngắn hơn, lần thứ ba tóm tắt tư tưởng chính. Anh cho tôi xem cả ba bản, anh bảo làm thế mới chính xác. Có thể nói anh Hiến là một tấm gương học tập suốt đời, nghiêm túc, không bao giờ mệt mỏi.

Anh Hiến là một nhà sư phạm đúng nghĩa. Anh rất coi trọng cách giảng trên lớp sao cho gây ấn tượng. Anh chuẩn bị rất công phu từ câu nói đầu tiến,cách dẫn dắt. Vì thế bài giảng của anh bao giờ cũng hấp dẫn. Tôi đã mấy lần dự giờ của anh và học tập được nhiều. Nhưng tôi vẫn tự thấy mình giảng chưa được hay, hoặc không phải bài nào cũng giảng được hay.

Anh Hiến lại là người thích đùa. Anh Nguyễn Đăng Mạnh đã kể về nhiều chuyện đùa của anh Hiến, có lúc đùa vui, có lúc đùa ác, nhưng cũng là đùa, xong thì thôi. Những lúc đó anh đem lại niềm vui cho mọi người. Có những lần đùa rất đáng thương. Một lần chúng tôi lên Nghĩa Đàn có việc. Một người cháu của anh ở đấy mời chúng tôi, gồm anh Mạnh, tôi và anh Hiến về nhà ăn cơm. Hồi ấy chúng tôi ai cũng đói, có lần ăn cả ốc sên. Gia chủ làm một con gà bé, dọn lên. Ânh Hiến nhìn cả mâm rồi bảo. Các cậu có thách một mình tớ  ăn hết cả mâm này không? Tất cả chúng tôi đều cười rất vui, nhưng thật lòng khồng ai dám chấp nhận lời thách của anh Hiến cả.

Anh Hiến là một người sống theo khoa học. Anh thường nói với tôi về cách luyện tập thân thể, về cách ăn, về uống thuốc.

Trong phê bình anh Hiến là người độc đáo, luôn có ý kiến riêng. Anh có những đề xuất được nhiều người tán thưởng, như nói “văn học phải đạo”, hay “văn học âm dương”. Tuy nhiên tôi nghĩ không phải lúc nào anh cũng thành công. Theo tôi, Bài viết về văn học phải đạo nêu được một ý rất hay, nhưng đọc lại, thấy lập luận rất yếu. Khi làm tuyển tập Lí luận phê bình văn học miền Trung, có người đề xuất tuyển bài ấy, đọc thấy ít có sức thuyết phục, tôi gọi điện nói với anh về nhận xết ấy. Anh thừa nhận và gợi ý chọn bài khác. Trong nghiên cứu lí luận anh có nhiều hứng thú khác nhau, ít tập trung. Một ít Maya, một ít Truyện Kiều, một Freud, một ít đạo đức học, phong cách học, thể loại văn học, một ít phê bình. Trong học thuật anh thường chộp một cái gì thú vị, mài sắc nó, xướng lên, gây ấn tượng, rồi chuyển sang cái khác. càng về sau anh càng chí thú với các vấn đề triết học phương Đông, vấn đề minh triết. Nhiều vấn đề triết học của anh có ý nghĩa rất sâu sắc.

Anh Hiến khi đọc sách có vấn đề gì thú vị có dịp, anh thường chia sẻ với người khác, trong đó có tôi. Có lần anh khoe anh đọc được tài liệu phân biệt viết nội dung và kể nội dung. Sau đó chúng tôi tổ chức nghiên cứu tự sự học, mời anh viết, anh bào không biết viết gì, tôi nhắc cái ý về viết nội dung và kể nội dung, thế là anh nhận lời, và trong sách Tự sự học 1 của chúng tôi có bài của anh Hoàng Ngọc Hiến.

Khi về phụ trách trường viết văn Nguyễn Du anh thường mời tôi tham gia giảng dạy, viết bài hội thảo. Tôi cảm thấy rất gần gủi với các tư tưởng và chủ trương của anh. Tôi đã tham gia nhiều hội thảo và giảng dạy ở trường anh từ những năm 86 – 87 và mấy năm đầu 90. Sau này trường thay đổi tôi cũng ít tham gia.

Anh lớn hơn tôi 10 tuổi. Đối với bọn trẻ như chúng tôi anh cũng ưu ái. Tôi nhớ năm 1971 tại khoa Văn trương Đại học sư phạm Vinh tôi viết chuyên luận dài 100 trang về Đặc trưng văn học trong tính chỉnh thể, anh Hiến làm phản biện. Anh chê tôi là chưa nắm bắt được tư tưởng mới nhất của Nga, nhưng lại khen tôi, cả một trăm trang, không viết một câu nào dở. Tại sao lại khen viết không dở? Tôi cứ thắc mắc hoài. Sau này đọc bài Một tiến trình đi vào nghiên cứu, phê bình văn học (trường hợp Nguyễn Đăng Mạnh), viết năm 2004, anh nói “trong văn học, khâu quan trọng nhất, khâu cối cùng là khâu viết.và trong viết văn khâu quan trong nhất là đặt câu. Tôi chia giới phê bình nghiên cứu vaqn học thành hai loại: loại viết được và loại không viết được”, Thì ra đó là một lời khen nặng kí, bấy giờ tôi mới hiểu. Khi tôi viết cuốn sách đầu tiên về Thi pháp học năm 1993, anh Hiến là người thẩm định, anh dành cho tôi những lời ưu ai, khích lệ tôi tiếp tục nghiên cứu. Khi tôi viết bài báo về tiếp nhận văn học đăng trên báo Văn nghệ, gặp tôi, anh khoe đọc bài báo ấy ròi và bảo Sử uyên bác thật. Tôi thường hỏi anh về cách dịch những thuật ngữ Nga, lần nào cũng được anh giúp hay gợi ý tìm tòi. Anh cũng thường hỏi tôi về cách dịch một số chữ Hán mà anh gặp phải. Tôi nhớ cũng làm anh hài lòng. Có lần anh khen, đã hỏi nhiều người mà chỉ có Sử nói đúng. Hồi anh đi Mĩ về anh rủ tôi đến chơi, anh mời lên gác, cho xem máy vi tính, giới thiệu các chương trình, cách tra các mục từ, cho xem hình ảnh, nghe âm thanh các bản nhạc, có cả tiếng nói của Lênin hồi cách mạng tháng Mười và khuyên tôi học vi tính ngay đi. Anh bảo chỉ cần biết sử dụng vi tính, biết ngoại ngữ là sinh viên có thể tự đào tạo thành những người chuyên môn giỏi. Không hiểu sao hồi ấy tôi thấy ngại, mãi sau này tôi mới học. Nghĩ lại thấy tiếc quá, nêu học ngay lúc ấy thì tôi đã có biết bao thuận lợi trong nghiên cứu của mình và chắc chắn là tôi sẽ có nhiều thành quả hơn  nữa.

Đối với tôi, anh Hiến là một tấm gương sáng về học tập.  Tôi không học anh một ngày nào nhưng tôi coi anh như người thầy của mình.

4-7 – 2010

 

 

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s