Tác phẩm văn học như là kí hiệu nghệ thuật

Tác phẩm văn học như  là kí hiệu nghệ thuật

Trần Đình Sử

Khi chúng ta đã hiểu văn học là phương tiện giao tiếp quan trọng không thể thiếu giữa người và người, văn học là diễn ngôn xã hội thẩm mĩ, thì vấn đề tính kí hiệu của tác phẩm văn học là vấn đề then chốt trong lí luận văn học hiện đại. Tuy vậy đây là một đề tài lớn, phải viết cả công trình mới giai quyết được. Đồng thời đây cũng la vấn dề rất khó, bởi vì kí hiệu học tuy có manh nha lâu đời, song thực sự xuất hiện và phát triển thì chỉ bắt đầu từ thế kỉ XX, rầm rộ hơn từ những năm 60 trở lại đây. Tự nêu một vấn đề như vậy thì chỉ có thể trình bày một số ý khái lược. Bước đầu chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu những bình diện chung.

Xem tác phẩm văn học là kí hiệu là quan điểm của kí hiệu học, khoa học nghiên cứu hoạt động biểu nghĩa, tức quá trình sản sinh, truyền đạt và giải thích ý nghĩa. Mọi ý nghĩa đều biểu đạt bằng kí hiệu và không có kí hiệu thì không có biểu nghĩa, dù đó là nghĩa gì.  Tuy vậy cách đây không lâu, trong lí luận văn học Nga Xô viết, vấn đề xem văn học như là kí hiệu đã bị cự tuyệt. Trong khi các nhà kí hiệu học như Roman Jakobson, Jan Mucarjovski xem văn học là kí hiệu, thì nhà lí luận  A. Chicherin đã có bài phủ nhận hoàn toàn, còn cách đây 40 năm viện sĩ M. B. Khrapchenco trong sách Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người đã chỉ thừa nhận tình kí hiệu của văn học một cách hạn chế. Ông thừa nhận văn học có tính kí hiệu do sử dụng ngôn ngữ và sử dụng biểu tượng, còn bản thân văn học không thể coi là kí hiệu. Ông lập luận: tư duy nghệ thuật, khái quát nghệ thuật là sự nhận thức đời sống, hoàn toàn không phải là kí hiệu. Điều này hơi lạ, bởi vì sự khái quát, kết quả nhận thức chính là cái được biểu đạt trong nghệ thuật, tại sao lại để nằm ngoài kí hiệu được? Đọc kĩ lại, thì ra Khrapchenco đã hiểu lầm. Ông không sử dụng lí thuyết kí hiệu của F. de Saussure, mà sử dụng lí thuyết của  Charles S. Peirce, mà cách dùng thuật ngữ của học giả này có vấn đề, bởi vì cái mà Saussure gọi là cái biểu đạt thì ông gọi là “kí hiệu”, còn “cái được biểu đạt” của Saussure thì ông gọi là “khách thể” và “ý nghĩa”. Theo đó, nhìn qua, tưởng kí hiệu nằm ngoài khách thể và tư tưởng và Khrapchenco đã dựa vào đó mà phản pháo đối với các nhà kí hiệu học. Trong một công trình mới đây học giả uy tín người Nga là Valeri Tiupa cho rằng tác phẩm văn học là kí hiệu, song con người, cá nhân ở trong đó thì không phải là kí hiệu. V. Tiupa theo quan niệm của M. Bakhtin, cho rằng, đối tượng của khoa học là vật, còn đối tượng của nghệ thuật là con người, là chủ thể, không phải đồ vật, mà kí hiệu là một thứ đồ vật, do vậy, con người trong văn học không thể là kí hiệu. Tôi nghĩ có thể có sự nhận lầm. Con người với tư cách chủ thể, không phải đồ vật , nhưng khi nó được miêu tả vào tác phẩm thì nó phải thành kí hiệu, bởi ngoài tư cách kí hiệu con người không có lí do gì để có mặt trong tác phẩm văn học cả. Cụ Hồ ngoài đời là lãnh tụ, còn cụ Hồ trong thơ Tố Hữu là kí hiệu (biểu tượng) về lãnh tụ. Chiều sâu của kí hiệu nhân vật này phụ thuộc vào tầm vóc của tác giả. Hình tượng Bác Hồ chẳng hạn, đối với Tố Hữu luôn luôn là hình ảnh của người chỉ biết dâng hiến mà quên mình, luôn vui và đau mà không bao giờ buồn. Nó theo cái tạng của nhà thơ. Cũng theo một quan niệm còn lưu hành ở Nga, trong tác phẩm văn học, hình tượng nghệ thuật không phải là kí hiệu, bởi nó là sự phản ánh đời sống. Thực ra hình tượng theo chúng tôi là kí hiệu trong tác phẩm văn học mà chúng tôi sẽ trình bày ở dưới. Như vậy mệnh đề tác phẩm văn học là kí hiệu nghẹ thuật trong phạm vi lí luận văn học Xô viết đã từng gặp trở ngại. Giải quyết các trở ngại ấy chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu vấn đề.

Trước hết tìm hiểu kí hiệu. Kí hiệu là cái được coi là không thể hoặc khó định nghĩa, nhưng có thể thoả thuận rằng kí hiệu là một sự cảm nhận mang nghĩa trong hoạt động biểu nghiã. Không phải vật mà sự tri nhận, nếu là vật mà không được cảm nhận thì cũng chưa thành kí hiệu hoặc kí hiệu zero. Nghĩa của kí hiệu là tiềm năng được thực hiện bằng giải thích. Đó là cơ sở để hiểu thực chất mọi hoạt động giao tiếp, mọi sản phẩm văn hoá, Hiểu như vậy, mọi tư duy, nhận thức, khái quát trong văn học đều được mang chở bằng kí hiệu và được người đọc, nhà phê bình diễn giải từ văn bản. Không có nhận thức, khái quát nào nằm ngoài kí hiệu. Cấu trúc kí hiệu hai thành phần của Saussure tuy sáng tỏ, song thiều đi phần giải thích của tiếp nhận. Do đó, quan niệm kí hiệu ba thành phần của Ch. Peirce ngày nay được mọi người tiếp nhận, coi đó là bổ sung cho cấu trúc kí hiệu của Saussure. Quan điểm của nhà lí luận Nga V. Tiupa đã thể hiện sự kết hợp đó. Mỗi kí hiệu phải được xét trong quá trình hoat động biểu nghĩa của nó, từ người phát, qua văn bản, đến người nhận, trong ngữ cảnh nhất định. Do đó kí hiệu bao gồm ba yêu tố. Một là tên gọi của kí hiệu, biểu thị mối quan hệ của kí hiệu nằm trong một hệ thống ngôn ngữ nhất định. Hai là nghĩa, tức là yếu tố thể hiện mối quan hệ giữa kí hiệu với cái mà nó biểu đạt tức sở chỉ, và ba là ý nghĩa, tức là mối quan hệ giữa kí hiệu với sự tiếp nhận kí hiệu trong ngữ cảnh nhất định.

Tác phẩm văn học như là kí hiệu (kí hiệu văn học), theo Lotman, thuộc kí hiệu thứ sinh, nghĩa là sản sinh trên nền tảng của ngôn ngữ tự nhiên. Cấu trúc của kí hiệu này có hai tầng: hai cái biểu đạt và hai cái được biểu đạt. Cụ thể là cái biểu đạt ngôn ngữ và cái biểu đạt hình tượng, và cái được biểu đạt ngôn ngữ và cái được biểu đạt hình tượng. Tác phẩm được sáng tạo bằng ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, tất yếu nó là sản phẩm của kí hiệu ngôn ngữ. Văn bản văn học là chuỗi kí hiệu hữu hạn, là kí hiệu chuỗi, được tổ chức bằng các từ ngữ, các câu, các đoạn, chương có mở đầu và kết, có thể gọi là một diễn ngôn, đơn vị trên câu. Sự tổ hợp của văn bản này giống như tổ hợp của mọi lời nói, vừa có cấu trúc cú đoạn, vừa có cấu trúc lựa chọn (Saussure gọi là trục liên tưởng được coi là chưa chính xác). Trong tiến trình tổ hợp cái biểu đạt này, nghĩa của từ, ngữ, câu, đoạn, tức là cái được biểu đạt của ngôn ngữ kết hợp nhau tạo thành một cái biểu đạt khác: tầng kí hiệu hình tượng, bao gồm các hình ảnh, các chi tiết, rồi các chi tiết này kết hợp gợi ra các khách thể, đồ vật, con người, tạo thành thế giới nghệ thuật sống động. Thế giới này lại là một hệ thống kí hiệu, thể hiện một cái được biểu đạt của tác phẩm, là những tư tưởng, tình cảm mà người đọc cảm thấy và tự giải thích được. Cách tổ hợp hai cái biểu đạt này đã được R. Barthes nói đến trong Những huyền thoại, và được Roman Ingarden nói đến trong cấu trúc tác phẩm văn học gồm bốn lớp của ông ấy. Đây là hai lớp kí hiệu liên hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với nhau. Cái biểu đạt ngôn từ phân chia thành câu, đoạn, còn cái biểu đạt hình tượng thì chia thành các sự kiện, nhân vật, các cảnh khác biệt về không gian thời gian. Hình tượng văn học không hiện diện trong văn bản mà chỉ được mã hốa trong đó, đến lượt mình, nó được hiện hình rõ rệt trong ý thức cảm thụ và trí tưởng tượng của người đọc. Không có đồng sáng tạo của người đọc hình tượng không hiên diện. Cấn phải nói ngay rằng cái biểu đạt hình tượng này không phải là hiện tượng tâm lí cá nhân, mà là sự tồn tại khách quan. Điều này R. Ingarden cũng đã chứng minh thuyết phục. Ý thức người đọc giống như thứ nước hoá chất làm cho tờ giấy ảnh hiện hình lên, nhưng hình ảnh không thuộc về nó. Về mặt kí hiệu học điều này chỉ có thể hiểu được theo mô hình kí hiệu ba thành phần của Ch. Peirce, chứ không thể hiểu được theo mô hình kí hiệu hai thành phần của Saussure, vì ông này chỉ nói đến quan hệ võ đoán và cái biểu đat khái niệm. Và ta hiểu vì sao, những người theo thuyết Saussure khi nói đến cấu trúc văn học đều không muốn nói đến hình tượng, vì hình tượng không có chỗ trong cấu trúc kí hiệu của ông. Còn những người tham chiếu học thuyết Peirce thì cái biểu đạt hình tượng là điều rất dễ hiểu. Cả khách thể và tư tưởng đều gắn với cảm thụ của người tiếp nhận. Cảm thụ càng tinh tường hình tượng càng sắc nét. Hình tượng văn học là một tồn tại khách quan. Xét về mặt văn học sử, lịch sử văn học  ghi nhận các hình tượng văn học đặc sắc, sống động trong lịch sử, mà thiếu chúng có lẽ lịch sử văn học không có gì để nói. Nhưng sự mã hoá hình tượng rất cụ thể. Chương này viết nhân vật này, chương sau viết nhân vật kia, chương này sự kiện này, chương sau sự kiện khác. Có khi một chương nhiều sự kiện và nhân vật, có khi nhiều chương cùng viết một nhân vật.  Thường khi thay đổi đoạn hay chương dựa vào thay đổi điểm nhìn của người kể chuyện. Người kể chuyện quyết định lời văn, từ ngữ và giọng điệu. Như thế không phải xong cái biểu đạt này rồi mới nghĩ đến cái biểu đạt kia, mà là sáng tạo song song, nhịp nhàng. Nghĩa của cái biểu đạt ngôn ngữ tạo nên cái biểu đạt hình tượng. Vậy cái được biểu đạt của hình tượng được phát hiện thế nào? Thứ nhất, cái biểu đạt hình tượng, do tính tương tự nhất định với nhũng khách thể đời sống, mà nghĩa của nó “được nhận ra”, đồng thời ý nghĩa của nó thì “được hiểu”(Cách lí giải của Benveniste). Dù kí hiệu hình tượng có tính tương tự nào đó, nhưng với bản chất kí hiệu tính chất căn bản của nó vẫn là tính quy ước. Thuý Kiều không chỉ là biểu tượng phụ nữ, mà còn là người tài, không chỉ phụ nữ, mà còn là đàn ông, con người nói chung. Đã có một truyền thống lâu đời sử dụng hình tượng phụ nữ làm cái biểu đạt để nói về số phận, vận mệnh của người tài, vì giữa người tài với mĩ nhân có cái chung về cái đẹp, về sự mong manh, ngắn ngủi. Nghĩa của chúng nằm trong ngữ cảnh, còn ý nghĩa của cái biểu đạt có tính chất liên chủ thể, do người đọc tự liên hệ. Theo quan điểm kí hiệu học, ý nghĩa là cái tiềm năng của văn bản có thể được diễn giải bằng những cái biểu đạt khác. Đến lượt mình, cái biểu đạt khác ấy lại được diễn giải bằng những cái biểu đạt khác nữa, cho dến vô hạn. Ý nghĩa của văn bản được kéo dài ra mà không xác định được một lần.

Cấu trúc kí hiệu văn học có sự chuyển hoá kì diệu. Trong cái biểu đạt ngôn ngữ mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là võ đoán, nhưng sự tổ hợp kí hiệu trong văn bản tạo ra cái biểu đạt hình tượng thiên về tính ít võ đoán, mà theo nguyên tắc tương tự. Nếu cái biểu đạt ngôn từ được tổ hợp theo hai nguyên tác cú đoạn và lựa chọn thì cái biểu đạt hình tượng cũng vậy. Nó tổ hợp theo nguyên tắc song hành thời gian, không gian, đối chiếu, tương phản, liên tưởng và đồng thời cũng là sản phẩm của lựa chọn mà cái được chọn nổi lên hàng đầu.

Cái được biểu đạt trong tác phẩm thường được hiểu là đề tài, chủ đề (theme), trước hết là một phạm vi nội dung, phạm vi chủ đề , thể hiện khuynh hướng của tác phẩm. Trong lí thuyết Xô viết theme thường nhấn mạnh và dịch thành đề tài và chủ đề. Đề tài và chủ đề liên quan tới một quan hệ giữa văn bản và hiện thực đời sống. Trong các thứ tiếng châu Âu nó thường hiểu chỉ là chủ đề. Chủ đề cụ thể phải xét trong mối quan hệ với ngôn ngữ nội tại của văn bản và đặt trong quan hệ giữa văn bản (lời nói) với “ngôn ngữ”, tức cấu trúc chiều sâu, cái hệ thống siêu ngữ của văn bản. Về mặt kí hiệu học, mối quan hệ của cặp đối lập ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole)  mà hiểu theo kí hiệu học là cấu trúc chiều sâu và cấu trúc bề mặt  có ý nghĩa nguyên tắc. Theo Saussure “ngôn ngữ” là cái kho đầy những từ ngữ và ngữ pháp mà mọi lời phát ngôn đều từ đấy mà ra, người nghe có thể dựa vào cái kho của mình mà hiểu. Cặp đối lập này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, tất nhiên là được dịch chuyển và mở rộng, nhưng nguyên tắc không thay đổi. Văn bản (cái biểu đạt văn học) tương đương với lời nói, thế còn ngôn ngữ thì tương đương với những cái gì? Trước hết là ngôn ngữ dân tộc, tiếp theo là văn hoá, văn hoá dân tộc, văn hoá thời đại. Lotman coi đời sống xã hội là Cấu trúc bề sâu, còn tình tiết là lời nói. Mikhail Bakhtin, Terry Egleton xem cáu trúc chiều sâu là ý thức hệ. Tz. Todorov, G. Genette xem thi pháp là ngôn ngữ, cấu trúc chiều sâu của văn bản. Bakhtin, Kristeva xem cấu trúc chiều sâu là đối thoại và liên văn bản. Xã hội học dung tục xem cấu trúc bề sâu của tác phẩm là cơ sở kinh tế xã hội. Do văn bản (cái biểu đạt) có thể có nhiều cấu trúc chiều sâu, cũng tức là có nhiều siêu ngữ, có nhiều mã, và do đó có nhiều khả năng nghĩa, và có tính đa nghĩa. Trước đây  William Empson trong Bảy loại hình nghĩa mơ hồ chỉ thấy mơ hồ trong cấu tạo, cú pháp, mà không thấy tính đa nghĩa (polisemie) trong ngữ cảnh đa mã. Vì thế ý nghĩa đích thực của văn bản  là ý nghĩa được khai mở trong tiếp nhận của người đọc xét trong tương quan với ngôn ngữ nội tại của văn bản.

Cấu trúc song trùng hai cái biểu đạt và hai cái được biểu đạt này là sản phẩm chung của mọi biểu đạt báo chí, lịch sử, hồi kí, tiểu thuyết, thơ ca. Vậy đâu là đặc trưng của văn bản nghệ thuật?

Câu hỏi về đặc trưng văn học đã được nêu và giải quyết từ lâu rồi. Xét đặc trưng văn học từ phía nội dụng, hiện thực , tình cảm …đều không giải quyết được vấn đề bởi tác phẩm sử kí hay bức thư tình, hay hồ sơ tâm lí học của Freud cũng hấp dẫn không khác gì tác phẩm văn học, và người ta vẫn đọc như là văn học. Xét đặc trưng văn học từ các thủ pháp, các phép tu từ, từ tư duy hình tượng cũng chẳng giải quyết được vấn đề, vì nhiều tác phẩm chính luận các phép tu từ và hình tượng được dùng hay không kém gì văn học. Từ góc độ kí hiệu học Roman Jakobson năm 1958 đã nêu lên sơ đồ quá trình hoạt động biểu nghĩa và qua đó nêu quan điểm về đặc trưng của thơ ca (văn học) thể hiện ở chức năng đặc thù của nó. Sơ đồ 6 thành phần đó là:

Ngữ cảnh ( context)

Thông điệp (message)

Người phát (addresser)——————————— Người nhận (addressee)

Tiếp xúc (contact)

Mã (code)

Trong 6 yếu tố trên thông điệp chính là văn bản, tác phâm, nếu xét về văn học, và đặc trưng của văn học, thơ ca thể hiện ở chỗ, thông điệp gây chú ý vào bản thân nó. Cái chức năng tự chỉ vào bản thân mình được Jakobson gọi bằng chức năng thơ, tức là cái chức năng có khả năng biến một văn bản thành tác phẩm có tính chất của văn chương.  Cái cách mà văn bản thơ gây chú ý là đem nguyên tắc tương đồng của trục lựa chọn mà chiếu lên trục kết hợp. Nói cách khác là trục kết hợp được tổ chức theo nguyên tắc của tính tương đồng (ngang giá, đối đẳng), tức nguyên tắc parallelism, còn gọi là song hành hoặc đối. Từ đó câu thơ có dòng thơ như là đơn vị nhịp điệu. Trong tiểu thuyết thì chia thành từng chương. Nhà nghiên cứu Trung Quốc Triệu Nghị Hành đem sơ đồ trên chuyển sang sơ đồ kí hiệu học: ngữ cảnh là cái được biểu đạt, thông điệp chính là cái biểu đạt, và sơ đồ vẽ lại như sau:

Cái được biểu đạt (signified)

Cái biểu đạt (signifier)

Người gửi (sender)——————————————Người nhận (Receiver)

Phương tiện (medium)

Mã (code)

Như vậy đặc trưng của văn học là gây chú ý vào bản thân cái biểu đạt, làm cho cái biểu đạt tự chỉ vào bản thân nó. Quan điểm này là một sáng tạo tuyệt với của Jakobson, đã được lịch sử văn học chứng thực. Nếu Peirce đã nêu ra ba loại kí hiệu: hình hiệu, chỉ hiệu, tượng trưng (kí hiệu với tính võ đoán), cả ba loại kí hiệu này đều chỉ ra một khách thể ngoài nó, thì có người đã chỉ ra, Jákobson đã nêu ra loại kí hiệu thứ tư, tức là kí hiệu tự chỉ vào mình. Tính tự chỉ này ở văn học biểu hiện ở hai chỗ. một là gây hấp dẫn, lạ hoá ở phần ngôn ngữ, phần sắp xếp trật tự, hình khối. Hai là lạ hoá về mặt hình tượng con người (cá tính khác thường, số phận khác thường, năng lực khác thường, ngoại hình khác thường, hoàn chỉnh hoặc vụn nát, có tên hay không tên…). Tính tự chỉ  cũng tức là nội chỉ, cái biểu đạt gay chú ý vào mình, để từ bản thân cấu tạo của mình mà kiến tạo nên ý nghĩa. Tính chất này đã từng bị các nhà lí luân Xôviết phê phán là thoạt lí hiện thực, tự khép kín, song đó là hiểu lầm. Tính tự chỉ này có nghĩa là cái biểu đạt (văn bản) nghệ thuật theo Lotman, tự có ngôn ngữ của nó, và người đọc khám phá nó, tức là khám phá cái mã cho phép hiểu văn bản theo ý nghĩa mà nó được mã hoá, tức là ý nghĩa nội hàm, chứ không phải áp đặt mã bên ngoài cho nó. Lối phê bình quy chụp thường theo lối áp đặt này. Ý nghĩa nội hàm thường đặc trưng cho sáng tác văn học, bởi đó là ý nghĩa gắn với cấu trúc của cái biểu đạt. Đây là điều mà lí luận văn học Xô viết thường chỉ trích là hình thức chủ nghĩa. Nhưng quy luật của văn học và nghệ thuật là như thế, không thể khác được.

Có hai loại kí hiệu, một là kí hiệu ưu tiên ở cái được biểu đạt, ví như đèn xanh đèn đỏ ở ngã ba ngã tư, còi báo động, báo chí…, Người tiếp nhận chí cần biết thông tin, không quan tâm cái biểu đạt. Văn học, nghệ thuật là kí hiệu ưu thế ở cái biểu đạt. Thế cho nên diễn viên mới phải đẹp, văn phải hay, thơ phải bám riết lấy tâm hồn người. Điều này đòi hỏi các nhà thơ không ngừng đổi thay ngôn ngữ thơ. Từ nhịp tương đối tự do trong thơ ca dân gian chuyển sang cách luật chặt chẽ với yêu cầu về đối, niêm, điển cố khắt khe, rồi lại tự do hoá, làm thơ tự do, thơ văn xuôi, thay đổi cấu trúc ngôn ngữ thơ. Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng thay đổi, từ kể ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri chuyển sang hạn tri, từ kể xưng tôi, sang kể theo dòng ý thức. Từ lời kể chất phác đến lời kể giễu nhại, nghịch dị. Cái biểu đạt hình tượng cũng thay đổi. Từ kể theo nguyên tắc kết cấu thông thường đến kể theo sư phân mảnh, từ nhân vật vai đến nhân vật tính cách, rồi từ nhân vật tính cách đến nhân vật không tên, không hoạt động, chỉ có một điểm nhìn. Nói theo V. Shklovski, các cái biểu đạt ngày càng lạ hoá.

Cái quan niệm đặc trưng văn học nằm ở cái biểu đạt của nó vẫn là quan niệm có cơ sở khoa học nhất. Cho dù hôm nay, khi vấn đề đặc trưng văn học không còn được khẳng định mạnh mẽ như trước, bởi vì khái niệm văn học mới xuất hiên muộn do nhu cấu dạy văn học trong nhà trường (Xem các bài viết của Todorov, Wellek,  Compagnon…), nhưng cái chuôi để người ta nắm bắt đặc trưng văn học vẫn là ý kiến của R. Jakobson , Jan Mucarjovski (Xem Dẫn luận rất ngắn về lí luận văn học của  Jonathan Culler, 1989).

Cái biểu đat của văn học cò có đặc điểm kì lạ. Nếu trong các văn bản thông thường nếu biểu đạt mâu thuẫn, sự phối hợp các từ thiếu logic, cách dùng từ không hợp truyền thống đều có thể coi là vô nghĩa, nhưng trong văn học thì lại khác. nhiều trường hợp từ kết hợp xem như phi logich, phi lí những vẫn xem là có một “ý nghĩa” nào đó. Ví như thơ đa đa chủ nghĩa, thơ siêu thực, bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh, một số thơ của Trần Dần hoặc thơ Mặc xanh áo em của Trần Nguyễn Anh…, những bài thơ bị coi là đã rút mất ngữ cảnh nội tại để  “chống diễn giải”nhưng thực tế người đọc lại có thể đọc theo một mã khác.

Xét về chức năng của văn bản trong văn hoá như trong một bài nghiên cứu của Ju. Lotman và A. M. Piatchigorski thì chức năng của văn bản nghệ thuật là chức năng ít thực dụng nhất, nó làm cho sự biểu dạt đa dạng, thoạt khỏi mọi quy định cứng nhắc, tạo tiềm năng văn bản, cho nên trong văn chương mọi thể nghiệm đều được khoan dung. Và nhìn vào thực tê sáng tạo văn học ta thấy những thì nghiệm văn học đều theo hướng khai thác tiềm năng của cái biểu đạt ngôn từ và cái biểu đạt hình tượng. Trong văn học nghệ thuật từ thời cổ đại, trung đại, người ta có xu hướng làm cho hình thức nhuần nhuyễn, che giấu tinh vi để cho người đọc thấy được cái thật một cách trần trụi nhất, đầy đủ nhất. Đỉnh cao của văn chương áy là chủ nghĩa hiện thực, một loại hình văn bản văn học, trong đó ngôn ngữ đạt đến mức trong suốt để người đọc không thấy ngôn ngữ đâu, chỉ thấy sự thật đời sống. Trong hội hoạ cũng vậy, chủ nghĩa hiện thực làm cho người ta chỉ thấy sự thật, không thấy bút pháp của hoạ sĩ. Nhưng từ sau đó nghệ thuật phản tỉnh, nó muốn phô bày sự có mặt của chất liệu, bút pháp, những nét vẽ thô, những cục màu gồ lên trên mặt tranh. Tranh chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa lập thể làm lộ ra đường nét cảm thụ và tư duy. Thơ bắt đầu làm từ chữ, bằng lối “lệch chuẩn”, câu bậc thang, không viết hoa chữ đầu dòng. Văn xuôi không chấm câu, nhiều hình thức lạ xuất hiện: giễu nhại, dòng ý thức, đặc biệt là tiểu thuyết mới, siêu tiểu thuyết (meta-fiction). Siêu tiểu thuyết là tiểu thuyết về tiểu thuyết, phơi bày cả quá trình hư cấu để cho thấy tiểu thuyết là bịa, không phải là ghi chuyện thật. Ví dụ như Bọn làm bạc giả của A. Gide, hoăc như Khải huyền muôn của  của Nguyễn Việt Hà.

Trở lên là trình bày khái niệm tác phẩm văn học như là kí hiệu, cấu trúc kí hiệu của nó, sự biểu nghĩa của nó, đặc trưng của nó và chức năng văn bản của nó trong tiến trình văn hoá. Mục đích bài viết là gọn và cô đúc, để cho trong một thời gian ngắn mà có thể cảm thấy tính đặc trưng kí hiệu của nó.

Kí hiệu học văn học và lí luận văn học trước nay không phải là cách li với nhau. Trong mấy chục năm qua kí hiệu học đã không ngừng thâm nhập vào lí luận văn học, vì kí hiệu học và chủ nghĩa cấu trúc gần như là đồng nghĩa, mà chủ nghĩa cấu trúc đã thâm nhập vào lí luận văn học. Vậy nhìn tác phẩm văn học như là kí hiệu có khác gì với quan niềm truyền thống vè tác phẩm văn học?

Truyền thống nhìn tác phẩm như sản phẩm của tác giả, như văn bản trung tâm luận, như nhận thức, như sáng tạo độc lập, chưa hề thấy tác phẩm trong quá trình biểu nghĩa. Ngôn ngữ văn học chỉ xem như cái vỏ bên ngoài, việc đọc không liên quan gì đến mã và siêu ngữ và ngữ cảnh, hoàn toàn chưa thấy vai trò của người đọc. Kí hiệu học đã đem văn bản văn học đặt vào trong hệ thống văn hoá như là tổng thể của các văn bản hay đúng hơn là dặt vào trong kí hiệu quyển, trong đó các loại văn bản phiên dịch qua lại với nhau tạo nên sự thông nghĩa. Xem văn học như là kí hiệu giúp ta thấy sự sống của tác phẩm trong dòng kí hiệu, thấy văn học ở trong quá trình không ngừng giải mã, biến mã, không ngừng kiến tạo trong dòng liên chủ thể. Từ đó chấp nhận sự đa mã, đa nghĩa của văn học.

Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2016.

Tài liệu tham khảo:

Ju. Lotman: Kí hiệu quyển, St- Peterburg, 2000.

Ju. Lotman, Cấu trúc văn bản nghệ thuật, M., 1970.

  1. Jakobson, Tác phẩm về thi pháp học, M., 1987.

Jonathan Culler, Thi pháp chủ nghĩa cấu trúc, Bắc Kinh, 1991.

  1. Tiupa. Phân tích văn bản nghệ thuật, M., 2009.

Triệu Nghị Hành, Kí hiệu học văn học, Văn Liên xb, Bắc Kinh, 1990.

Triệu Nghị Hành, Kí hiệu học, Đại học Nam Kinh, 2012.

  1. Khrapchenco, Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, M., Nhà văn xô viết, 1976.

Ju. Stepanov, Kí hiệu học, tuyển tập luận văn,M., 1983.

Dư Kiến Chương, Diệp Thư Hiến, Kí hiệu, ngôn ngữ, nghệ thuật, Bắc Kinh, 1988

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s