Về khái niệm văn học đổi mới

Về khái niệm văn học đổi mới

Trần Đình Sử

Hiện nay về tính chất của nền văn học (hoặc giai đoạn) sau 1986 vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, thể hiện qua việc gọi tên. Người thì gọi là văn học hậu chiến, người thì gọi là văn học hậu hiện đại, người thì gọi văn học hội nhập, văn học hậu sử thi, người thì gọi là văn học canh tân, nối lại cái dòng văn học canh tân đã bị đứt đoạn đầu thế kỉ XX. Mỗi cách gọi ấy đều có cái lí của nó, song chưa thật bao quát và chưa nói rõ bản chất của vấn đề.

Trong các bài viết của mình tôi đều gọi là văn học “đổi mới” với ý nghĩa rất cụ thể, lịch sử đối với hoàn cảnh Việt Nam. Đó là văn học “cởi trói”, từ dùng của ông Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư của Đảng. Cởi trói có nghĩa là dở bỏ các nguyên tắc Văn nghệ phục vụ chính trị, phản ánh hiện thực, tính đảng, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, những cái vòng kim cô bóp nghẹt sáng tạo của nhà văn. Đồng thời đó là văn học hội nhập. Đến năm 1990 thì Liên Xô và các nước Đông Âu đều sụp đổ, cái gọi là hệ thống chủ nghĩa xã hội không còn. Không ai có thể trở lại con đường cũ, và chỉ có một con đường đi tới. Từ đây nhà văn được tự do hơn, cá tính sáng tạo được tôn trọng và nẩy nở hơn, tìm tòi cá nhân nhiều hơn, tiếp nhận văn học nước ngoài nhiều hơn, mà không bị kêu là vọng ngoại. Hiển nhiên trong mấy chục năm qua cũng có sách bị cấm, bi nghiền thành bột giấy, bị lên án gay gắt, có quyển bị lên án, nhưng chỉ cấm một thời gian, sau đó vẫn cho xuất bản lại. Có tác phẩm bị lên án, người lên án được giải thưởng Hội nhà văn, nhưng có người sau đó lại đứng lên xin lỗi người mình đã phê phán.Tác phẩm bị phê phán sau đó lại vẫn được đề cao. Do các đặc điểm trên, văn học đổi mới không còn là văn học cách mạng nữa. Các tính chất phục vụ chính trị, tính chất tuyên truyền, tính lạc quan không còn nữa. Tôi gọi văn học đổi mới với ý nghĩa là  đã thoát khỏi loại hình văn học xã hội chủ nghĩa cũ rồi, thoát khỏi văn học cách mạng rồi. Anh Hoàng Ngọc Hiến trong một bài viết đã nói: “Tính đảng và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đội nón ra đi”. Lần này đi là đi hẳn.

Nhưng nếu hiểu văn học đổi mới là một phong trào hay giai đoạn đồng chất, thuần nhất thì không đúng. Bên cạnh các nhà văn, nhà thơ  ra sức tìm tòi, vượt thoát cái lốt cũ, nhiều nhà văn vẫn lờ lờ nữa cũ, nửa mới, thêm tí sex, tí tình, tí chấn thương vào các sáng tác theo quán tính cũ, có nhiều nhà văn sáng tác mà không nhằm thay đổi ngôn ngữ nghệ thuật của mình, vì họ đã định hình, nhưng vẫn mang nội dung mới. Và các giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam nói chung vẫn chưa phản ánh được những sáng tác đổi mới thật sự có giá trị thật sự, vì mãi giữ định hướng chính trị, mà thiếu định hướng văn học. Sở dĩ thế , theo tôi là do chúng ta có hai nghị quyết 5 của TW. Một nghị quyết 05 của Đại hội VI, và một nghị quyết 5 của Đại Hội VIII. Nghị quyết trước nhấn mạnh văn học là sáng tạo văn hoá nhằm phục vụ nhu cầu thẩm mĩ đa dạng của công chúng nhân dân, còn nghị quyết sau, tuy cũng nói thế, nhưng nhấn mạnh đến phương châm “nội dung tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.” Nôi dung tiên tiến là cách nói khác của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa.  Nghị quyết sau muốn uốn nắn lại nghị quyết trước, nhưng không nói rõ  phủ định nghị quyết trước. Chúng ta có thể trích dẫn cả hai, mặc dù các đồng chí tuyên giáo luôn nhấn mạnh đến nghị quyết sau, nhưng không ai cấm nghị quyết trước. Do vậy, văn nghệ thực sự đổi mới đi theo nghị quyết đại hội VI, Một số đông nhà văn đi theo nghị quyết sau ít quan tâm đổi mới. Có nhiều người theo cả hai. Tổng hợp cả lại, không khí cởi mở, chấp nhận mọi tìm  tòi, mọi sáng tác về phong cách, phương pháp vẫn là tinh thần của Trung ương, cho nên không thể quay lại con đường cũ. Tôi gọi đó là công cuộc đổi mới không thể đảo ngược. Mặc dù về lí luận vẫn có người đứng lên chống chủ nghĩa hình thức, chống lai căng, chống sùng ngoại, chạy theo hình thức, lí thuyết bất khả dụng… nhưng tìm tòi hình thức, ngôn ngữ văn học mới vẫn là khuynh hướng không bị ngăn trở. Các sáng tác có khuynh hướng , hoặc dấu hiệu hậu hiện đại vẫn xuất hiện. Lí thuyết ba hệ hình tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại vẫn được nhắc đi nhắc lại. Các tiếp cận kí hiệu học, diễn ngôn, xã hội học, phân tâm học, nữ quyền luận, thi pháp học, tự sự học, ngôn ngữ học, văn hoá học, cổ mẫu, phê bình sinh thái… vẫn tiếp tục tìm tòi. Phê bình hậu thực dân có ý kiến hoài nghi tính khả dụng, nhưng theo tôi, vẫn có thể vận dụng tốt.

Nhớ lại một thời mới đổi mới, có người lo lắng bảo “đổi mới không đổi máu”, hội nhập nhưng “không hoà tan”. Những khẩu hiệu có tính chất ý chí luận, thiếu tính biện chứng. Nhưng thực tế cho thấy đổi mới thì máu cũng phải thay đổi. Máu trong thân thể ta mỗi lúc là một máu khác, tuỳ theo thức ăn mà ta đưa vào. Bảo rằng hội nhập không hoà tan thì chỉ đúng một phần. Làm sao không hoà nhập với thế giới, một thế giới vốn bị ta cho là dị loại, là đối địch, là phải tiêu diệt, mà không hoà tan được. Kinh tế ta đã hội nhập và nếu chưa hoà tan là do ta còn yếu kém. Ta đã vào tất cả các tổ chức kinh tế thế giới, mà do di sản quá khứ quá nặng nề ta không thật sự hội nhập được. Ta phải không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, minh bạch hóa, tháo gỡ ràng buộc, lề thói cửa quyền,  mới mong thật sự hội nhập. Trong văn nghệ cũng vậy, muốn văn học Việt Nam thật sự được giao lưu, hội nhập với thế giới, phát huy bản sắc của ta cũng cần tháo gở những quan niệm còn hạn hẹp. Hiện nay còn có hiện tượng văn học, nghệ thuật nào của thế giới chưa vào Việt Nam đâu. Chưởng, diễm tình, ngôn tình, đam mĩ, kinh dị, trinh thám, cô trang, pop art, sắp đặt, trình diễn, sân khấu hiện đại, balet hiện đại đều có. Nói như Hoài Thanh, bất cứ cái gì của thế giới hễ vào được Việt Nam thì đều được Việt hoá, mang hồn Việt Nam. Thuần tuý lai căng thì người việt không xơi được. Khỏi phải lo. Nếu không bị phê bình thì tự nó cũng tự hủy.

Nói là văn học đổi mới, thực chất là văn học ta đã sang trang mới, giai đoạn mới, thời kì mới. Những quan niệm cũ đang lui dần. Tất nhiên cũng có sự cố, vẫn còn lối phê bình “đấu tố” cũ, vẫn có xử lí người viết, cấm đoán này nọ, nhưng tôi nghĩ không khí vẫn cởi mở dân, khó quay lại một thời khủng khiếp như trước, dù ai đó vẫn ước mơ. Cũng như trong doanh nghiệp, tôi mong không hình sự hoá các sáng tác, không đẩy nhà văn vào hàng ngũ thù địch, nguy hiểm.

Tôi không nghĩ rằng văn học đổi mới chỉ do nhà văn thế hệ sau 1975 sáng tạo. Không thể chỉ do nhà văn từ 5x, 6x trở đi sáng tạo. Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Phê , Nguyễn Khắc Trường vẫn là những cái tên của văn học thời kì mới. Tôi hiểu văn học thời kì mới là một dòng sông có nhiều luồng. Tính chất đổi mới không đồng đều, nhưng đều thay đổi. Các luồng, khuynh hướng chưa được vẽ ra cụ thể. Giới phê bình vẫn đang còn mắc nợ đó.

30 – 4 – 2016

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s