Mấy kỉ niệm với anh Nguyễn Văn Hoàn và chị Đặng Thanh Lê

Mấy kỉ niệm với Chị Đặng Thanh Lê và anh Nguyễn Văn Hoàn

Trần Đình Sử

Tôi nghe tiếng anh chị đã lâu, nhưng chỉ sau khi chuyển ra công tác tại khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội thì mới có dịp gặp. Anh Hoàn người hiền lành, nho nhã, có hiểu biết khá rộng, theo tôi, anh có quan hệ trong ngoài nước cũng rất rộng. Khi tôi vừa học ở Liên Xô về, anh làm Viện phó Viện văn học, anh tỏ ra tín nhiệm tôi, nhờ làm một số việc. Một là dịch bài nghiên cứu về văn học Nhật Bản viết về đề tài nguyên tử của GS Kim Reho từ tiếng Nga ra tiếng Việt, dài gần 40 trang.  Đó là một bài viết rất hay, rất tiếc nay đã mất, không tìm đâu ra. Thứ hai, anh nhờ tôi viết lời giới thiệu cuốn sách của Viện Đông Nam Á của Viện Hàn lâm Liên Xô về truyền thống và cách tân trong văn học Đông Nam Á, sau đăng TCVH. Anh Hoàn là người có trí nhớ tốt và anh biết nhiều chi tiết về đời sống văn học những năm sau hoà bình, những năm 60, nhưng anh kín tiếng, rất ngại chia sẻ. Tôi khi gặp, thường nói, mong anh viết hồi kí, tư liệu của anh sẽ có ích cho moị người. Anh ngại ngần. Giờ thì kho tư liệu ấy mang xuống tuyền đài rồi.

Anh Hoàn là người có quan điểm rất cứng rắn, mãi đến sau này anh vẫn phản đối và lên án Phạm Quỳnh, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Vĩnh. Có lần toi có ý bênh Phạm Quỳnh,  trong một bài viết anh có nhắc “ở DHSP Hà Nội có người thế này…”, toi biết anh không tán thành với tôi. Khi anh Đào Thái Tôn nghiên cứu văn bản Truyện Kiều đưa ra các nhận định “Không có bản kinh nào hết”, “Không có bản phường nào hết”, phê phán các nhà văn bản học TK trước đó, tôi nhắc với anh Tôn: Anh Hoàn là người đầu tiên nghiên cứu văn bản TK một cách bài bản đó. Và anh Tôn đồng tình với tôi.

Anh Hoàn là nhà nghiên cứu uyên bác, biết rộng, nhưng không chuyên tâm. Lúc đầu anh làm lí luận văn học, tiếp theo là nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, tiếp nữa, nghiên cứu Để đất để nước, rồi chuyên sang nghiên cứu văn học sử trung đại (Tập một, không có tập hai, 1983), sau nữa là tiếng Ý và dịch văn học ý được huân chương Hiệp sĩ. Cuối đời anh trở lại với Truyện Kiều, nhưng chưa kịp làm gì thì anh đã mất.

Tôi về Khoa có đến chơi nhà anh chị ở nhà B. Chị kể việc chăm sóc anh Hoàn. Dù khó mấy chị cũng đảm bảo cho anh Hoàn mỗi ngày  2 quả trứng gà để có sức làm việc. (Bây giờ, theo quan niệm mới, nhiều thế có thể không lợi.). Anh Hoàn Chị Lê là một đoi yêu nhau. Tôi thấy anh Hoàn nói chuyện với tôi, khi nói về chị Lê, khi nào cũng xưng “Lê thế này”, “Lê thế kía” rất ngọt ngào. Còn chị thì gọi “ông Hoàn”. Chị Lê rất nhiệt tình mời tôi báo cáo thi pháp học cho bộ môn của chị. Hồi ấy chị làm trưởng bộ môn. Chị mời tôi tham gia đào tạo tiến sĩ của chị, mời góp ý kiến cho một số luận án TS, như của Chị KHang, chị Tuyết, cô Hồng, nhờ dạy chuyên đề cho Y. Bae, rồi ngồi hội đồng chấm luận án ts của Bae. Anh chị có sách mới xuất bản thường đem tặng tôi.

Khi tôi làm trưởng khoa còn có một kỉ niệm nữa. Đó là tổ chức kỉ niệm nhà văn Đặng Thai Mai, khoa tổ chức in lại cuốn Giảng văn Chinh phụ ngâm của ông, tổ chức  hội thảo. Nhiều người viết bài. GS Đỗ Hữu Châu viết bài. Tôi cũng có bài nói về ý nghĩa hiện đại của công trình của GS. Chị Lê tỏ ý hài lòng về bài viết của tôi. Những lần kỉ niệm ấy thật rôm rả. Ở đây cũng có một kỉ niệm. Lúc đầu anh Hoàn cho tôi mượn cuốn Giảng văn Chinh phụ ngâm có bút tích phê gạch của GS Đặng Thai Mai. Tôi nghĩ, xem bản thảo có lời phê này thì thích lắm đây. Nhưng chưa kịp xem thì đầu giờ chiều gia đình cho người đến đổi lại một bản khác, không có bút tích gì cả. Tôi nghĩ anh chị quá lo xa hay bản ấy có chi tiết gì bất lợi mà anh chị không muốn tiết lộ ra ngoài.Bây giờ cả anh chị đều đã mất, biết tư liệu ấy lưu lạc nơi đâu?

Tôi cùng anh Hoàn và chị Lê có kỉ niệm khó quên, cùng giáo sư Bùi Duy Tân, trong chuyêan đi dự Hopọi thảo văn học Châu Á THái Bình Dương ở Đại học sư phạm Thiên Tân năm 1995. Họ mời tham dự, nhưng mình phải bỏ tiền mua vé đi về. Hồi ấy tôi là chủ nghiệm khoa Ngữ văn, chi lê muốn tôi cùng đi, tôi biết tiếng Trung, kết hợp làm phiên dịch. Chuyến đi ấy rất vui vẻ. Ba vih GS Việt Nam viết bài bằng tiếng Việt, nhờ PGS Lô Uý Thu ĐH Bắc Kinh dịch sang tiếng Trung, còn tôi viết bằng tiếng Trung gửi cho Hội thảo. Sau này các báo cáo ấy đều in kỉ yếu ở TRung Quốc. Anh chị có quan hệ từ trước với GS Nhan Bảo và chị Lô UÝ Thu. Các vị ấy đón tiếp rất nhiệt tình và chu đáo.  GS Nhan Bảo đón chúng tôi về nhà riêng của GS, và ông khăng khăng nhường giường của ông cho tôi nằm, còn bản thân ông thì nằm nằm trên giường xếp. Từ chối thế nào cũng không được. GS là người cao tuổi, bậc trên về học thuật, còn tôi là bậc hậu sinh. Cách cư xử khách khi của GS khiến tôi cảm động và khó ngủ. Có lẽ đó là chuyến đầu tiên chị Le sang TRung Quốc. Tham quan đủ mọi nới. Đáng nhớ là có học trò Bae của chị tháp tùng. Bae an ở khách sạn, nhưng cùng đi một đoàn. Anh ấy phụ trách chụp ảnh, chụp rất đẹp, nhờ thế mà chúng tôi mỗi người có một bộ ảnh đáng nhớ. Thú vị nhất là một lần đi chơi, đến trưa không kiếm đâu chỗ ăn, đành phải ăn đào thay cơm. Đào Bắc Kinh trái to, ngọt lừ. Chị Lê đứng ra chọn, mua, mọi người chỉ cần lấy giấy lau lớp lông bên ngoài, bóp, bóp cho mềm là có thể cắn, nước ứa ra rất ngọt. Cả mấy người ăn không biết chán. Ăn xong, ngồi nghỉ ở gốc cây rmột lát lại đi tham quan tiếp.

GS Đặng Thanh Lê là một nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, có quá trình nghiên cứu, tích luỹ lâu ngày. Chị có học lớp Hán Nôm, nhưng tôi thường thấy chị trích dẫn các công trình tiếng Pháp. Chị thường nói đến Timofeev, Jakobson, Craysac, Vandermesh. Tri thức chác chắn, vững vàng. Sinh viên được học GS là một điều may mắn.

Chúng tôi quý anh chị như ngững bậc đi trước, thỉnh thoảng hỏi han các chuyện. Tuy vậy cộng tác thì không có. Có lần tôi viết bài nghiên cứu về Truyện Kiều. Anh Búi Văn Ba đưa nhờ anh, chị, những chuyên gia hàng đầu về Truyện Kiều đọc và cho ý kiến. Các anh chị đọc nhưng không  có ý kiến gì. Anh Hoàn có bảo, mình đọc bài của ông rồi, thấy văn hay. Khi tôi làm đề tài cấp Bộ về Văn học Trung Đại, tôi mời chị Lê tham gia cho một phần, những đến cuối cùng, chị từ chối.  Có lẽ có khoảng cách  khác nhau về thế hệ. Chị Lê cũng là người có quan điểm cứng rắn. Khi được mới xem xét vụ Nhã Thuyên, nghe báo cáo xong, chị đập bàn: Quân vô đạo.rồi phê phán gay gắt. Sau đó chị còn tham gia phản biện nữa. Tình hình khác biệt quan điểm trong thời gian gần đây đã trở thành chuyên thường. Tôi thường cảm phục các nhà nghiên cứu hơn mình, nhung muốn tìm thấy thống nhất thì rất khó. Phải thích nghi với sự đa nguyên.

Thế mà nay cả anh và chị đều yên nghỉ cả rồi, mãi mãi. Đời người thật chóng qua. Xin ghi mấy giòng  kỉ niệm gọi là  một nén tâm hương của một kẻ hậu sinh xin bái viếng.

29/4/2006

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s