Nguyễn Đăng Mạnh với chân dung, phong cách

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

 và con đường nghiên cứu chân dung, phong cách của nhà văn

 

Trần Đình Sử

 

Nguyễn Đăng Mạnh bắt đầu nghiên cứu, phê bình văn học từ những năm 60, công bố tác phẩm vào những năm 70 và thành danh vào đầu những năm 80 với công trình Nhà văn, tư tưởng và phong cách (in năm 1979, Giải thưởng Hội nhà văn năm 1985). Anh nhập cuộc làng nghiên cứu, phê bình văn học vào lúc xu hướng tư duy giáo điều và xã hội học tầm thường thắng thế trong phê bình văn học Việt Nam. Anh đâm ra ghét những ai sính lí luận, anh càng ghét những người vận dụng lí luận sống sượng, máy móc. Cũng có thể anh chịu ảnh hưởng của Hoài Thanh (người đã có lúc hoài nghi vai trò của lí luận. Nhưng Hoài Thanh từng là nhà lí luận xuất sắc vào thời kì 1936 – 1939, sau đó mới chuyển sang làm phê bình.) cả về quan niệm lí luận và phương pháp phê bình văn học. Hoàn cảnh ấy khiến anh vừa tìm tòi học hỏi lí luận vừa hoài nghi, cảnh giác với lí luận. Tâm thế ấy để lại dấu ấn sâu đậm trong nghiên cứu cũng như trong phát ngôn của anh.

Khi trong thực tế nghiên cứu, lí luận, phê bình mà cái thật cái giả, cái bề ngoài và cái thực chất còn lẫn lộn và bị che đậy thì điều quan trọng nhất đối với nhà nghiên cứu có lương tri là đi tìm cái thật, chống lại lối mòn. Anh đã chống lại cái giả và lối mòn bằng tất cả vốn sống, vốn lí luận văn học và nhất là vốn kiến thức văn học mà anh tích luỹ được cùng với lối tư duy sắc bén của mình.

Tuy hoài nghi lí luận văn học, nhưng Nguyễn Đăng Mạnh không phải là nhà phê bình văn học theo “trường phái vô phương pháp” như chính anh và một số người có lúc vẫn thích nói ra cửa miệng. Anh đã tự trang bị cho mình những khái niệm lí luận thịnh hành của thời đại. Đọc các bài nghiên cứu của anh người ta dễ dàng bắt gặp các khái niệm then chốt mà phê bình văn học trước đó ít thấy sử dụng như “hệ thống”, “chỉnh thể”, “tư tưởng nghệ thuật”, “thế giới nghệ thuật”, “quan hệ nội tại”, “quan niệm con người”, “các chi tiết trở đi trở laị”, “hình tượng ám ảnh”… Tạm gác sang một bên cách hiểu về các khái niệm ấy, chỉ sự hiện diện của chúng trong văn bản và tư duy của anh cũng cho ta thấy không ai là không cần đến lí luận. Ngay cái nhan đề sách của anh Nhà văn, tư tưởng và phong cách cũng có dấu ấn rõ rệt của cuốn sách Tư tưởng và phong cách rất nổi tiếng của nhà lí luận phê bình văn học Liên Xô A. Chicherin, xuất bản năm 1968. Hay như cái nhan đề Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1994) cũng rõ ràng là đã dùng đến khái niệm “thế giới nghệ thuật”, một khái niệm thịnh hành vào những năm 80 trở đi. Điều này cũng cho thấy, không một nhà phê bình văn học có thành tựu nào có thể quay lưng với thành quả lí luận văn học của thời đại mình. Với các khái niệm ấy rõ ràng Nguyễn Đăng Mạnh đi theo hướng nghiên cứu các giá trị nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, mặc dù anh nghiêng về phân tích trên bình diện hình tượng, thường xuyên liên hệ với hiện thực để kiểm tra các giả thiết nghiên cứu bằng các chứng cứ xã hội của nhà văn và thời đại ngoài văn học.

Tôi có dịp quen biết với anh Nguyễn Đăng Mạnh khi được phân công về dạy học tại Khoa Văn Đại học sư phạm Vinh tháng 3 năm 1966, nơi hồi ấy là tuyến lửa ác liệt của miền Bắc. Hồi ấy giáo sư Huỳnh Lý làm chủ nhiệm khoa, khoa thường tổ chức các buổi dự giờ lẫn nhau giữa các bộ môn. Tại Hà Thanh, Hà Trung, Thanh Hoá, tôi và đồng nghiệp đã từng dự giờ dạy về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của anh Lê Bá Hán, dự giờ dạy Dưới đáy của Gorky do anh Hoàng Ngọc Hiến thực hiện, dự giờ Văn thơ Xô Viết Nghệ Tĩnh do anh Mạnh giảng… Mỗi giờ của mỗi anh đều có cái hay riêng rất đáng học. Giờ của anh Mạnh ai cũng biết là nội dung khô khan, buồn tẻ, rất khó dạy cho thú vị và hấp dẫn. Ấy thế mà ngồi dự giờ tôi đã có ấn tượng rất sâu khi thấy anh khai thác hệ thống biểu tượng ước lệ của dòng thơ văn ấy để làm nổi bật khuynh hướng tư duy thẩm mĩ của nó. Theo tôi, đó là một giờ dạy hay, hé lộ con đường khám phá nghệ thuật của văn học bằng chính ngôn ngữ của nó mà sau này anh sẽ còn theo đuổi. Sau đó trường đại học sơ tán lên Thạch Yến, Thạch Thành. Có lần anh báo cáo kinh nghiệm nghiên cứu văn học cho cán bộ trẻ mà tôi trong chi đoàn cán bộ giảng dạy ngồi nghe, tôi cảm thấy được bề dày, công phu tích luỹ, nghiên cứu của anh, cùng nhiều vấn đề anh trăn trở mà chưa có điều kiện giải quyết. Lúc đó anh mới 37, 38 tuổi, cái tuổi của sự chín muồi, đầy hoài bão và xông xáo. Sau này, khi tôi đi học ở Liên Xô lần thứ hai trở về, đã công bố một số bài báo và sách viết về thi pháp học được dư luận chú ý, anh mời tôi tham gia biên soạn phần lí luận văn học trong sách giáo khoa Cải cách giáo dục. Có lần cùng đi bồi dưỡng giáo viên theo chương trình văn học ở Yên Bái vào đầu những năm 90, do ở chung phòng, sau khi ăn tối về, anh em ngồi đối diện nhau, anh hỏi : “Theo ông, nói thật ngắn gọn, thi pháp là gì ?” Để khỏi dài dòng (vì anh muốn nói “thật ngắn gọn”) và dễ hiểu, tôi đã nói: “Thi pháp học là nghiên cứu văn học như anh từng nghiên cứu văn thơ xô viết Nghệ Tĩnh đó”. Anh có vẻ tư lự. Tôi nghĩ, có thể con đường nghiên cứu của anh bắt đầu hình thành từ những năm tháng ấy, khi mà nhiều người đang say mê với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, với tính đảng, tính điển hình, nhân vật chính diện… thì anh đã quan tâm đến vấn đề thẩm mĩ, phong cách. Hồi ấy ở Việt Nam, nói chung, người ta chưa thích nói đến phong cách cá nhân, mặc dù lúc đó trên thế giới, ở phương Tây cũng như ở Liên Xô người ta quan tâm nghiên cứu phong cách rất nhiều. Có thể nói là có cả một trào lưu nghiên cứu phong cách của văn học trên thế giới. Có thể kể tên những người nghiên cứu phong cách ở Liên Xô lúc ấy như A N. Xocolov, Elsberg, G.N. Pospelov, L. Ginzburg, A. Chicherin, M. B. Khrapchenco, Novichenco… Tuy có thể chưa tìm hiểu được hết các tư tưởng trong trào lưu ấy, song Nguyễn Đăng Mạnh đã nắm bắt được trúng chiều hướng nghiên cứu chung ấy và sự chú ý đã giúp anh tiếp xúc với nhiều tư tưởng phong cách trong đó có tư tưởng của Chicherin. Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1994) của anh là con đường khám phá phong cách, mối liên hệ nội tại giữa phong cách và tư tưởng nghệ thuật của tác giả, tôn trọng tính độc lập của văn học, không biến văn học thành minh hoạ cho hiện thực ngoài văn học. Chỉ nhờ thế mà anh khám phá được một số nét thực sự độc đáo của Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu và nhà văn khác, đem lại một cái nhìn tương đối chân thực, công bằng đối với  một số hiện tượng nghệ thuật vào lúc mà nghệ thuật được đánh giá chủ yếu từ phương điện đề tài, tư tưởng chính trị và nội dung hiện thực được phản ánh. Tôi đã từng nhận xét anh Mạnh thích xông vào các đề tài khó (tức là có vấn đề chính trị, lập trường giai cấp) như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu…và thật thú vị là anh đã có những đóng góp đáng kể. Tuy nhiên, riêng tôi vẫn nghĩ rằng khái niệm phong cách của anh nghiêng về phía tư tưởng và tiểu sử hơn là phía phong cách học.

Các hiện tượng văn học phức tạp là những hiện tượng thường gây ngộ nhận, hiểu lầm về chính trị mà các cây bút dễ dãi thường hay múa bút quy chụp nhà văn. Hồi bấy giờ người ta hiểu “nhà văn phức tạp” theo cái nghĩa đặc biệt là thiếu lành mạnh, có nhiều mặt tiêu cực. Anh Mạnh đã dùng lí luận, chủ yếu là bằng chứng văn học và quy luật tâm lí xã hội để biện hộ nhằm khẳng định các giá trị của các nhà văn ấy. Điều thú vị là anh khai thác rất trúng tư tưởng của Plêkhanốp về yếu tố tâm lí, một chi tiết mà nhiều nhà lí luận văn học mác xít Việt Nam hồi ấy bỏ qua. Các nghiên cứu của anh phần lớn diễn ra cuối những năm 60 và định hình vào nửa sau những năm 70 đầu những năm 80 thế kỉ XX khi phong trào đổi mới chưa thật rầm rộ. Do đó mặc dầu anh đã cố gắng đổi mới nhiều, song trong nghiên cứu của anh, đó đây vẫn khó thoát khỏi ít nhiều ảnh hưởng của cách tiếp cận cũ thịnh hành.  Rất có thể đó là lí do vì sao khi thời Đổi mới đến, nhiều công trình của anh về Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Tuân được bổ sung và in lại, tuy người đọc vẫn yêu mến chúng, song vẫn không tránh khỏi chút cảm giác đáng tiếc. Đó cũng là điều khó tránh đối với nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi cùng thời đại.

Nguyễn Đăng Mạnh tuy cũng có viết về thơ văn cổ, có phê bình văn học đương đại, viết về phương pháp luận nghiên cứu tác giả văn học, phuơng pháp phân tích thơ Hồ Chí Minh, nhưng anh chỉ thực sự là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực văn học Việt Nam hiện đại. Anh viết về văn học sử, làm tuyển tập, toàn tập tác phẩm một số nhà văn nổi tiếng hoặc văn học giai đoạn hiện đại, viết những bài giới thiệu, khải luận công phu, có giá trị, bản thân tôi rất thích. Trong nghiên cứu văn học anh Mạnh chủ yếu quan tâm vấn đề phong cách nhà văn. Có thể là do nghiêng về tư tưởng, tiểu sử hơn là phong cách học, nên phần lớn các tác phẩm thành công của anh lại thuộc về thể loại chân đung văn học. Và hình như có thể nói các công trình nghiên cứu khác của anh đều chỉ là sự mở rộng hoặc biến tấu của chân dung văn học. Đó là một thể loại có thể nói là đặc sản của phê bình văn học Việt Nam bắt đầu với Thiếu Sơn, Hoài Thanh từ trước năm 1945. Hầu như ở nước ta, trên báo, tạp chí, trong sách nghiên cứu, biên soạn ở đâu ta đều có thể bắt gặp chân dung văn học. Tất nhiên không phải chân dung văn học nào cũng có giá trị như nhau. Chân dung văn học như tôi hiểu, là bức tranh chấm phá về phong cách nhà văn thu nhỏ, là thể loại văn học nằm giữa phê bình và truyện kí nhà văn. Nó không còn là phê bình văn học thuần tuý, mà đã pha trộn phần sáng tác, bổ sung thêm các quan sát, nhận xét, tưởng tượng của bản thân nhà phê bình đối với con người nhà văn ngoài đời. Nếu vẫn hiểu là phê bình văn học thì đây là phê bình gộp cả con người lẫn văn chương. Đối với những nhà văn không thực sự xuất sắc, tác phẩm chưa phải đối tượng của phê bình thì chân dung là phương diện thuận lợi nhất để nói về họ. Trên lĩnh vực này anh Mạnh chuyên viết chân dung những nhà văn có thành tựu, đang sống mà anh có tiếp xúc trực tiếp, đối với những nhà văn đã mất ( Nam Cao, Vũ Trọng Phụng chẳng hạn) thì anh lấy tài liệu gián tiếp qua người thân, bạn bè. Anh có biệt tài chọn lọc những chi tiết rất đắt để dựng chân dung nhà văn, điểm xuyết những nhận xét hóm hỉnh về tính cách người sáng tác, nhờ thế, tuy dung lượng không lớn, nhưng nhiều chân dung văn học của anh có khả năng khái quát một cách truyền thần dáng dấp, cử chỉ, tính cách và diện mạo tinh thần của nhà văn cụ thể theo cách hình dung của anh, khiến người đọc thú vị. Người ta thú vị về chân dung một phần, phần nhiều thú vị về cách nhận xét.

Đọc văn anh nguời ta nhận ra anh là nhà phê bình có cá tính rất mạnh mẽ. Văn anh như con người anh, thể hiện cách nói chuyện hóm hỉnh, ánh mắt trẻ trung nhấp nhánh nheo cười. Anh luôn luôn có lối suy nghĩ riêng khá phóng túng, táo bạo với những nhận xét sắc sảo, và nhiều khi cũng không hiếm những ý kiến tuỳ tiện, dễ dãi đối với đồng nghiệp. Phải chăng đó là đặc điểm của kiểu nhà phê bình chủ trương công khai thể hiện niềm yêu ghét riêng của mình trên trang viết, nhiều lúc để cho thiện cảm, ác cảm của mình lấn át tư duy khách quan, khoa học ?

Cho dù chưa thể nói là mọi khái quát của anh về phong cách đều đạt được mức sáng tỏ và được mọi người thừa nhận, nhưng con đường nghiên cứu chân dung, phong cách nhà văn của anh là con đường đúng đắn và là một đóng góp có dấu ấn riêng trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của anh thể hiện những khái quát, nhận xét của một người có tư duy độc lập, và chính vì thế mà chúng đã và sẽ còn góp phần kích thích phát hiện, đối thoại và phản biện trong nghiên cứu văn học Việt Nam hôm nay và ngày sau. Nguyễn Đăng Mạnh là gương mặt không thể thiếu trong phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX.

 

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2009

 

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s