Hướng tới tiêu chí tính nhân dân trong đánh giá văn học

Hướng tới tiêu chí tính nhân dân trong đánh giá văn học

Trần Đình Sử

Văn học Việt Nam tính từ thời kì Đổi mới đến nay đã ngót 30 năm, tính riêng từ đầu thế kỉ XXI đến nay cũng đã 15 năm.  Đó là thời gian bằng cả giai đoạn văn học  30 năm 1945 – 1975, hoặc bằng giai đoạn văn học 1930 – 1945, giai đoạn văn học rực rỡ của thế kỉ XX. Đó là cả một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam đương đại.  Trong thời gian ấy biết bao tác phẩm đã ra đời, biết bao nhà văn đã xuất hiện, trưởng thành, tự khẳng định tên tuổi của mình. Chỉ xét phần lớn các tác phẩm được giải của Hội nhà văn Việt Nam thường niên, giải các cuộc thi văn học do các báo, tạp chí, do Hội nhà văn phát động trong mấy chục năm ấy, điểm lại các tác phẩm đã gây sóng gió trong tiến trình văn học, nhìn lại các tác phẩm đã được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới và được dư luận quốc tế chú ý, ta cũng có thể nhận thấy  những bước tiến lớn của văn học nước nhà. Chúng ta có thể chưa có tác phẩm vĩ đại, không thể vượt qua, song dứt khoát không hiếm tác phẩm xuất sắc, tài năng. Tuy nhiên cái mà ta có thể gọi là bước tiến lớn, xuất sắc, tài năng  ấy lại phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá. Đánh giá thế này thì nó xuất sắc, đánh giá thế kia thị lại là chuyện khác.

Nói đến sự  đánh giá các thành tựu trong giai đoạn văn học vừa qua chúng ta sẽ vấp ngay vấn đề tiêu chí đánh giá khác nhau, mà trước hết là tiêu chí đánh giá khác nhau về chính trị. Nhiều tác giả tác phẩm được đánh giá cao trong dư luận trong và ngoài nước thường được nhắc đến khá mờ nhạt trong các báo cáo chính thức, trong các văn kiện đại hội nhà văn, thậm chí được đánh giá tiêu cực trên một số báo chí có uy tín. Ngược lại nhiều tác giả tác phẩm được đánh giá cao trên các diễn đàn chính thức, các giải thưởng thì lại ít gây hiệu ứng tích cực trong đông đảo bạn đọc. Thậm chí có những trường hợp gặp ý kiến phản biện gay gắt. Tôi nghĩ đó là chuyện thường thấy trong dư luận đối với những tác phẩm mới. Khi người đọc còn đọc theo quán tính cũ, chưa quen với ngôn ngữ mới của nhà văn, tiêu chí đánh giá khác nhau, việc đánh giá đương nhiên sẽ có nhiều khác biệt, thậm chí đối lập. Nhưng đối với những tác phẩm đã qua một thời gian dài thử thách trong suốt hai, ba chục năm mà hứng thú đối với người đọc vẫn không suy giảm, sách tái bản trên quầy vẫn có người mua, vẫn gây được sự chú ý thì không thể nói là tác phẩm non kém hay ít giá trị, mặc dù đánh giá khác biệt vẫn còn. Tôi muốn nói đến một số sáng tác của các tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh,  Ngyễn Khắc Trường, Dương Hướng,  Nguyễn Ngọc Tư, Hoàng Quốc Hải, Bùi Ngọc Tấn,  Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái, Hoàng Minh Tường…, của các nhà thơ như Lê Đạt, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo,   Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh, và nhiều tác giả khác.

Từ thực tế đó chúng ta khó mà chờ đợi một sự đánh gía thống nhất trong bối cảnh hiện nay. Nhất là từ khi phe các nước xã hội chủ nghĩa không còn, nước xã hội chủ nghĩa láng giềng công nhiên thực hiện chính sách bành trướng thì tiêu chí chính trị bây giờ trước hết phải gắn chặt với lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Chủ nghĩa Mác Lê nin bây giờ cũng đã khác mấy chục năm trước. Các văn kiện của Đảng cũng không nêu đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và tính Đảng như những năm 60. Và cũng không còn là triết lí duy nhất mà nhà văn tham khảo nữa. Nhà văn ngày nay còn có thể tham khảo nhiều triết thuyết khác như hiện sinh, phân tâm học, nữ quyền luận, lí thuyết diễn ngôn, kí hiệu học, chủ nghĩa đối thoại, phức điệu,  nhãn quan hậu hiện đại. Chủ nghĩa hiện thưc vẫn có giá trị, đã không còn độc tôn. Nhà văn ngày nay có thể tham khảo các biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại, độc thoại nội tâm, dòng ý thức, kết cấu phân mảnh, nghịch dị, trào tiếu. Thời đại ta là thời đại nếu không muốn nói là đa nguyên về văn hóa thì cũng là thời đại không còn độc tôn một thứ triết thuyết nào trong đời sống văn hóa. Sự phân tán sâu sắc về lí tưởng đạo đức, về giá trị và ý nghĩa đời sống là hiện tượng phổ biến, nhiều khi thể hiện ngay trong một người. Mặc dù văn nghệ vẫn có cái chung. Văn học ta hiện nay đang nghĩ nhiều về thân phận con người,. số phận dân tộc, tinh thần nhân văn, dân chủ, song cách nghĩ về các nội dung ấy lại rất khác nhau. Trong điều kiện đó muốn đánh giá đúng tiến trình văn học thiết nghĩ cần xây dựng một môi trường dân chủ đối thoại, khoan dung để dần dần nhận ra giá trị đích thực của các sáng tác văn nghệ. Sự đánh giá văn học sở dĩ cần nhiều thời gian là vì vậy.

Trong đánh giá văn nghệ định hướng chính trị, tư tưởng cố nhiên là rất quan trọng. Tuy nhiên, tiêu chí định hướng chính trị trong phê bình văn học nên hiểu rộng và có tầm nhìn xa. Ví dụ như tác phẩm Truyện kể năm 2000 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đương thời được coi là vi phạm cấm kị, đề tài nhạy cảm. Nhưng hôm nay, khi nhà nước ta đang chủ trương cải cách tư pháp, nâng cao trình độ công bằng, chống oan sai, thì cuốn sách chính là nói về thực tế tư pháp một thời có những bất cập. Như thế đối với hôm nay thiết nghĩ nó là tác phẩm nêu cao tư tưởng nhân văn. Hoặc như cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, đương thời bị phê phán chủ yếu là do không miêu tả chủ nghĩ anh hùng một cách chính diện, không ca ngợi chiến tranh chính nghĩa, mà nhấn mạnh mặt đau thương mất mát, khốc liệt của chiến tranh. Nhưng tiểu thuyết không hề chống đối chính trị, nó nêu cao tư tưởng hòa bình, chiến tranh là bất đắc dĩ, nó thể hiện tính khốc liệt, sức phá hoại của chiến tranh, dự báo những hậu quả to lớn mà càng về sau ta mới càng thể nghiệm hết, nhất là trong đời sống của mỗi cá thể, mỗi gia đình. Nó làm được vai trò thức tỉnh lường tri và ý thức đạo đức cho con người khi nhìn nhận về chiến tranh. Như thế nó thống nhất với tư tưởng chính trị lâu dài của Đảng và nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ hòa bình. Chính vì vậy mà từ 2006 tác phẩm đã được cấp phép xuất bản chính thức nhiều lần, coi như giải tỏa sự phê phán trước đấy. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người từng phê phán Bảo Ninh, lúc sinh thời cũng đã kịp công khai tự phê bình và xin lỗi nhà văn Bảo Ninh trước Đại hội nhà văn khóa Tám vừa qua. Như thế, nếu chúng ta có thái độ dân chủ, bình tĩnh, đối thoại, khoan dung thì tác phẩm không đến nỗi phải chịu những búa rìu nặng nề khônng đáng có. Và việc khẳng định thành tựu văn học sẽ giảm bớt khó khăn.

Như vậy, muốn đánh giá đúng các thành tựu của văn học từ năm 1986 đến naykhông chỉ  đòi hỏi người đánh giá phải có quan điểm lịch sử, nhãn quan văn hóa, hiểu đúng đặc trưng của văn nghệ và nhất là phải có dũng khí, mà đòi hỏi có môi trường dân chủ, đối thoại trong đời sống văn nghệ. Nhiều bài phê bình gay gắt chỉ vì chưa thấm nhuần đặc trưng của văn nghệ. Chỉ có ai biết nhìn thẳng vào sự thật như tinh thần nghị quyết trung ương Đảng đại hội VI, tháng 12 năm 1986 thì mới đánh giá được. Câu nói “cởi trói” với ý nghĩa là giải phóng tư tưởng do đồng chí lãnh đạo tối cao của Đảng lúc bấy giờ thốt ra trong cuộc gặp gỡ có tính lịch sử với đại diện văn nghệ sĩ Việt Nam đầu năm 1987 là một sự kiện xuất thần, duy nhất, không lặp lại. Nhưng cái xuất thần ấy đã châm ngòi và truyền cảm hứng cho một trào lưu văn nghệ không thể đảo ngược.

Văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, xét từ các tác phẩm ưu tú, đã là một nền văn học hoàn toàn khác biệt so với văn học Việt Nam trước 1975, khắc phục tính tuyên truyền chính trị giản đơn, mà đi sâu vào các tầng vỉa văn hóa. Vẫn gắn bó với số phận của nhân dân, Tổ Quốc, với sự nghiệp của Đảng, song đã mở rộng, đào sâu hơn rất nhiều về đề tài, chủ đề trên các phương diện văn hóa. Nhiều tác phẩm dự báo tình trạng phân hóa xã hội và sự xuống cấp về đạo đức lối sống hôm nay. Nhiều tác phẩm dự báo hậu quả chiến tranh khốc liệt lâu dài mà đến nay chúng ta vẫn phải đối mặt.Không ít tác phẩm đã tư duy lại về tiến trình lịch sử từ phương diện văn hóa, nâng cao tầm suy nghĩ của người đọc đối với các vấn đề đời sống. Nhà văn đã có những câu chuyện của riêng họ để kể cho bạn đọc. Về phương diện nghệ thuật có thể nói văn học đương đại Việt Nam đã có một diện mạo hết sức phong phú, đa dạng, tiếp cận với trình độ của một nền văn học hiện đại. Tôi hoàn toàn lạc quan đối với văn học nước nhà.

Tuy vậy đánh giá hết những tìm tòi của nhà văn vẫn đang là một công việc ở phía trước.  Trong tình hình hiện tại việc phân tích, khái quát những khám phá mới, sâu sắc  có thể có khi chưa có lợi cho nhà văn vì có thể gây hiểu lầm. Nhiều trường hợp, đối với tác phẩm chỉ có thể khái quát chung chung vừa phải, chưa có thể đi đến sâu sắc tận cùng. Có thể rồi phải qua một thời gian khá lâu nữa nhà phê bình văn học mới có thể nói hết tầm vóc sáng tạo của nghệ sĩ hôm nay. Khó khăn trong quan hệ phê bình và văn học không chỉ do tài năng, năng lực của nhà phê bình, mà còn do sự cấn cái trong bối cảnh văn hóa, văn nghệ. Theo dõi sự quan tâm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp văn nghệ của đất nước sẽ thấy Đảng bao giờ cũng quan tâm định hướng chính trị. Xin trích văn kiện Trung ương V Đại hội VIII của Đảng : ““Vừa bảo đảm cho văn hóa, văn học nghệ thuật… phát triển đúng định hướng chính trị tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật[1]. Tiếp theo là Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (2004) tiếp tục khẳng định: Bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa (…) tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chân thành cởi mở đối với đội ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng dụng người tài đồng thời chăm lo định hướng chính trị và ý thức trách nhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ (…) cho sự nghiệp phát triển văn hóa…”[2] Tôi hoàn toàn tán thành với Đảng là văn hóa, văn nghệ cần có định hướng chính trị. Có định hướng thì mới xây dựng một nền văn nghệ lớn, hiện đại. Tuy nhiên tôi thấy một khi Đảng đã chú trọng đến sang tạo văn hóa, đặc trứng văn nghệ, thì nhà phê bình và chỉ đạo văn học nên hiểu định hướng chính trị, tư tưởng ấy một cách rộng rãi trong nội dung sáng tạo văn hóa như nghị quyết đã nêu, tránh hiểu  hạn hẹp chỉ là minh họa chính trị như thời trước. Nội dung văn nghệ khó có thể gói trọn trong hai chữ chính trị, tư tưởng. Đánh giá đúng theo định hướng chính trị của Đảng mà hiểu một cách hẹp hòi thì nhiều tác phẩm sẽ không được đánh giá cao hoặc bị phê phán, mà đánh giá theo yêu cầu “đảm bảo  “thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật” thì tác phẩm ấy lại có thể được nhìn nhận theo một cách khác.  Ví dụ tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của  Bảo Ninh và một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Tôi nghĩ rằng, định hướng chính trị, dù rất quan trọng vẫn không đồng nhất với tiêu chí nội dung của văn học, nghệ thuật. Sáng tác văn nghệ là sản phẩm sáng tạo văn hóa, mà giá trị của văn nghệ là thức tỉnh lương tri và ý thức đạo đức cho con người qua các hình tượng thẩm mĩ. Nên chăng trong sáng tác nghệ thuật cần nêu cao định hướng văn hóa, định hướng văn hóa chính trị, giá trị thức tỉnh lương tri và đạo đức, để sự đánh giá văn học nghệ thuật được thuận chiều? Trong lí luận văn học Mác xít có một khái niệm quan trọng mà một thời do đề cao tính đảng mà chúng ta chưa thật sự phát huy nó, đó là khái niệm Tính Nhân dân. Lên nin nói “Nghệ thuật phải thuộc về nhân dân”. Nghệ thuật phải gắn bó với niềm vui, nỗi buồn, hy vọng và thất vọng của nhân dân. Hơn lúc nào hết lúc này nhà phê bình văn học cần vận dụng tiêu chuẩn tính nhân dân để đánh giá các sáng tác. Nhà văn hơn lúc nào hết xuất phát từ lợi ích của nhân dân mà sáng tạo nghệ thuật.

Qua thực tiễn phê bình văn học thời gian qua chúng tôi nhận thấy về lí luận vấn đề mối quan hệ văn nghệ và nhân dân, văn nghệ và văn hóa  vẫn còn chưa được quán triệt sâu sắc, thấu đáo, cần được tiếp tục quan tâm trong thời gian tới. Trong thời đại mà văn nghệ không còn được coi là cái “tòng thuộc chính trị” như trước nữa, không phải là công cụ tuyên truyền trực tiếp cho chính trị,  các nghị quyết Đảng đã nêu ra định hướng văn hóa cho văn nghệ nhân dân, thì phê bình văn học càng nên vận dụng tiêu chi tính nhân dân để đánh giá tác phẩm văn học. Hướng tới sáng tạo một nền văn nghệ phong phú tuy có khó khăn song vẫn nên kiên trì xây dựng một môi trường dân chủ, đối thoại, cởi mở, khoan dung, để cho các ý kiến khác nhau được trình bày, cùng suy nghĩ, có nhiều tiếng nói. Trong viễn cảnh đó các sáng tác văn nghệ sẽ được phơi mở nhiều giá trị sâu sắc, phong phú của nó. Các giá trị văn nghệ đích thực sẽ được khẳng định. Diện mạo của một giai đoạn văn học chắc chắn sẽ được đánh giá toàn  diện.

2.8.20015, TĐS.

[1] Về lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, NXB.CTQG,H,2001, tr. 63.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận của Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm sắp tới – sách Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 – 2004, NXB CTQG, Hà Nội, 2004, tr.245

Đã đăng Văn nghệ quân đội số 331`, cuối thanhg 10 năm 2015

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s