Tiếp nhận phương pháp luận xã hội học Mác xít trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trước 1986

Tiếp nhận phương pháp luận xã hội học Mác xít trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trước 1986

Trần Đình Sử

 

Lí luận văn nghệ, mĩ học  mác xít được du nhập từ Liên Xô, Trung Quốc như đã nói trên đối với giới nghiên cứu văn học Việt Nam vừa là ý thức hệ vừa là phương pháp luận nghiên cứu, phê bình văn học, đóng vai trò cơ bản trong việc tạo dựng nền nghiên cứu văn học đương đại Việt Nam, tính từ ngày độc lập năm 1945. Các cuộc “tranh luận” văn nghệ Việt Bắc, cuôc “đấu tranh” chống nhóm Nhân văn Giai phẩm , cuộc “phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại” về thực chất là đấu tranh chính trị nhằm quét sạch mọi tàn dư của phương pháp luận nghiên cứu văn học tư sản, phi mác xít, dọn đường để xây dựng một nền nghiên cứu văn học mác xít tiên tiến Việt Nam. Nền nghiên cứu ấy thực chất là nghiên cứu xã hội học, nó có những thành tựu mà cũng có rất nhiều bất cập ngay từ trong phương pháp luận xã hội học của nó, nhất là khi nó được khẳng định là có vai trò, vị trí độc tôn duy nhất đúng.

Từ sau năm 1954 việc vận dụng phương pháp luận xã hội học mới để viết lịch sử văn học Việt Nam là một nhiệm vụ bức thiết trước hết cho công tác giảng dạy đại học. Đầu tiên là cuốn Lược thảot lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn[1], tiếp theo là cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm “Văn sử địa”[2], rồi các bộ lịch sử văn học của Đại học sư phạm[3], của Đại học tổng hợp[4], sách viết chung của hai trường Tổng hợp và sư phạm, sách lịch sử văn học của Viện văn học[5]. Được biên soạn theo quan  điểm mới, xét văn học trong bối cảnh lịch sử, xã hội, ý thức được vai trò sáng tạo lịch sử của nhân dân,tác động của đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa nhân đạo vô sản, cuộc đấu tranh chống áp bức, đòi dân chủ, giải phóng, đòi quyền sống…, các cuốn văn học sử mới có nội dung dày dặn, phong phú, thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và đời sống xã hội, nội dung và hình thức, quy luật phát triển, sự phân kì và giải thích hiện tượng văn học khác hẳn các sách lịch sử văn học trước năm 1945 như các cuôn của các ông Dương Quảng Hàm (1941), Nguyễn Đổng Chi (1942), của các ông Nguyễn Tường Phượng, Bùi Hữu Sũng (1952), của Nghiêm Toản (1949) trong thời kì địch tạm chiếm 1945 – 1954. Lần đầu tiên văn học dân gian có một vị trí xứng đáng và được xem xét qua hầu hết các thể loại.  Lần đầu tiên văn học được xét trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống áp bức bóc lột mưu cầu giải phóng con người. Lần đấu tiên các tác gia kinh điển và tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam được xác định tương đối hoàn chỉnh. Lần đầu tiên văn học Việt Nam được xem xét qua những khuynh hướng tư tưởng xã hội có mạch lạc có thể hình dung được. Về mặt này có thể nói đến những thành công đáng trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam đã có một diện mạo riêng biệt và có một quá trình tiệm tiến ngày càng phong phú. Tất nhiên sự nghiên cứu này cũng còn nhiều khiếm khuyết, . Nếu xét về tiến trình biên soạn thì các sách biên soạn sau ở nhứng năm 80 khắc phục được một số non yếu của giáo trình những năm 1956 – 1970. Chỗ yếu vốn có của phương pháp luận mác xít xô viết và Trung quốc đại lục và Việt Nam là mang nặng tính chất xã hội học, nhiều khi dung tục và giáo điều. Phương pháp luận xã hội học này có cội nguồn từ phương pháp văn hóa – lịch sử của H. Taine, xem văn học là biểu hiện của chủng tộc, hoàn cảnh, thời đại, chỉ có điểm khác với Taine là coi trọng cơ sở kinh tế xã hội, đấu tranh giai cấp, văn học hầu như là biểu hiện trực tiếp của  đời sống chính trị. Nghiên cứu văn học hầu như là nghiên cứu thái độ chính trị đối với đời sống, không xem xét đặc trưng văn học, bản tính thẩm mĩ, tính phức tạp và toàn bộ cấu trúc bên trong của nó cũng như cá tính sáng tạo của nhà văn hầu như không được quan tâm đến. Đặc biệt là chưa quan tâm đến quan hệ văn học và văn hóa. M. Bakhtin có nói: “Văn học là bộ phận không thể tách rời của văn hóa, Không thể hiểu được nó ở bên ngoài ngữ cảnh toàn vẹn của văn hóa thời đại , không cho phép tách rời nó khỏi toàn bộ phận văn hóa còn lại, như người ta vẫn thường làm, là vượt qua đầu văn hóa để liên hệ trực tiếp văn học với các nhân tố kinh tế xã hội. Các nhân tố ấy tác động đến toàn bộ văn hóa, rồi qua văn hóa và cùng với văn hóa mới tác động đến văn học[6].  Câu nói của Bakhtin nhằm phê phán nhược điểm của nghiên cứu văn học xô viết cũng hoàn toàn đúng với nghiên cứu văn học Việt Nam thời trước Đổi mới. Xin nói thêm là khái niệm “văn hóa” như trong Đề cương văn hóa Việt Nam chỉ bao gồm các hệ tư tưởng, thái độ chính trị, văn học nghệ thuật, tức là nghĩa hẹp, mà chưa phải là văn hóa với hệ thống các tâm thức xã hội (mentalitet – phương thức tư duy, hình ảnh thế giới) có tác dụng duy trì, sản sinh con người và các hoạt động của nó, bao gồm sáng tác nghệ thuật. Cách hiểu văn hóa nghĩa hẹp này hiện vẫn lưu hành rất rộng rãi trong xã hội và trong các văn kiện của Đảng, ví như “văn hóa” trong tên gọi của Bộ văn hóa, thể thao, du lịch, báo thể thao văn hóa, tên gọi các mục văn hóa và giải trí, các mục chính trị, kinh tế, văn hóa trên các báo, chưa phải là khái niệm đầy đủ và chính xác, không thể đem dùng vào nghiên cứu văn học. Tính chất xã hội học đó đã ảnh hưởng dến việc biên soạn lịch sử văn học.  Ví dụ trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945) Vũ Đức Phúc đã chia các thời kì theo tiêu chí sự kiện chính trị: 1930 -1935 – văn học trước thời kì mặt trận dân chủ; 1936 – 1939 – văn học thời kì mặt trận dân chủ; 1940 – 1945 – Văn học từ sau thời kì mặt trận dân chủ đến trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Sau đó ông xếp các hiện tượng văn học, sáng tác các nhà văn vào từng ô tương ứng. Phong trào thơ mới được tách ra làm ba phần để xếp vào ba thời kì lịch sử chính trị đó. Và phong trào thơ mới không còn là một phong trào văn học liên tục. Các hiện tượng văn học khác cũng vậy. Cách nhìn như thế biến văn học thành sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào sự kiện chính trị, tách rời văn hóa. Chưa hết , tác giả chỉ nhìn nhận văn học theo nguyên tắc tính giai cấp. Từ chương khái quát mở đầu bằng “Thái độ các giai cấp”, từ sự phân tích giai cấp đi đến nhận định “Sự xuất hiện của trào lưu tư tưởng vô sản và dòng văn học do đảng lãnh đạo là đặc điểm quan trọng nhất của tình hình văn học giai đoạn này” (tr. 43). Nói  tư tưởng vô sản là đặc điểm quan trọng của đời sống tư tưởng giai đoạn này thì đúng rồi, nhưng bảo nó là đặc điểm quan trọng nhất của văn học giai đoạn này là gò gẫm. Các phong trào thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết hiện thực phê phán  đều được coi là đặc điểm thứ hai, thứ ba trong khi chúng mới là sự kiện văn học chủ yếu của giai đoạn. Rồi các tác phẩm của Hồ Chí Minh viết ở Pháp, Nhât kí trong tù viết trong nhà tù Tưởng Giới Thạch năm 1943, văn đàn chưa ai biết,  đều được coi là sự kiện quan trọng của giai đoạn này cũng là gò ép. Bởi vì tác phẩm truyện và kí của Hồ Chí Minh cũng như Nhật kí trong tù phải coi là sự kiện văn học dịch của những năm 60 và 70 thế kỉ XX, bởi chỉ vào những năm đó các tác phẩm ấy mới hiện diện và tiếp xúc thật sự với bạn đọc, và trở thành sự kiện văn học của thời đại. Nhiệt tình tính đảng của tác giả đã chính trị hóa bức tranh văn học. Khi đánh giá tác giả cũng đánh giá văn học theo thái độ chính trị. Tác giả viết : “Một khi đã xuất hiện một trào lưu tư tưởng tiến bộ nhất, trong xã hội, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội thì có thể căn cứ vào đó mà phân biệt đánh giá các trào lưu tư tưởng khác là phản động hoặc tiến bộ ít hay nhiều.” (tr. 45). Và cả cuốn sách là đánh giá văn học theo tiêu chí chính trị đó. Ông này có chỗ tiến bộ, ông kia có chỗ phản động, tác phẩm này có chỗ tích cực, tác phẩm kia là tiêu cực. Như thế, mọi sáng tạo thẩm mĩ về nội dung, thể loại , ngôn ngữ đều không còn là nội dung được bàn kĩ trong lịch sử văn học nữa. Rõ ràng đó không phải là lịch sử văn học, mà là lịch sử tư tưởng chính trị theo quan điểm của đảng. Cuốn sách là một biểu hiện của lối nghiên cứu chính trị hóa văn học một cách dung tục. Tiếp theo Vũ Đức Phúc viết cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 – 1954)[7] Mở đầu chương 1 tác giả viết: “Cuộc vật lộn trên mặt trận văn học trong giai đoạn 1930 – 1945  là một bộ phận hữu cơ  của cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt giai đoạn này.” (tr.11). Với góc nhìn ấy các cuộc tranh luận văn nghệ mất đi hết nội dung học thuật. Chẳng hạn theo quan điểm này, cuộc tranh luận gọi là nghệ thuật vị nghệ thuật và vị nhân sinh, trong đó việc nêu lên yêu cầu thẩm mĩ đối với văn học,chống lại quan điểm văn học tải đạo, giáo huấn trung đại còn tiếp diễn không có ý nghĩa gì hết. Cũng vậy vấn đề văn nghệ là tuyên truyền văn nghệ khác tuyên truyền thế nào cũng không có ý nghĩa gì, vì khẳng định đặc trưng thẩm mĩ của nghệ thuật là quan điểm tư sản, dùng nó làm chiêu bài để chống lại quan điểm tuyên truyền của giai cấp vô sản. Kết quả là quan niệm văn học trung đại không được thanh toán, mà lại được tiếp tục trong văn học cách mạng, văn học sa vào minh họa, công thức, sơ lược, xa dần cái đích sáng tạo thẩm mĩ của bản thân văn học. Phải thấy rằng các cuộc tranh luận văn học trước hết nhằm giải quyết vấn đề của văn học, chứ không giải quyết vấn đề chính trị, dù có quan hệ với chính trị thì vẫn là hai phạm vi vấn đề khác nhau. Không đánh đồng làm một được. Do đảng lãnh đạo, nên tác giả cứ lái vào quỹ đạo chính trị, làm nhạt mất vấn đề chuyên môn của nó. Đây là vị dụ cực đoan của việc vận dụng phương pháp luận xã hội học mác xít vào nghiên cứu văn học một cách dung tục. Văn học được xem như một bộ phận của lịch sử xã hội, nó không có lịch sử riêng, không có tính độc lập tương đối. Nói như Bakhtin, nhà nghiên cứu đã vượt qua đầu văn hóa để giải thích tác động trực tiếp của chính trị đối với văn học. Một điểm nữa cũng đáng chú ý, là đối với các nhà mác xít lúc này, văn học nào cũng là văn học, từ văn thơ xô viết Nghệ Tĩnh, thơ Mới, văn xuôi Tự Lực văn đoàn đều là các yếu tố văn học như nhau của thời đại, không có ý thức về chất lượng văn học nghệ thuật. Tình hình này rất phổ biến trong giới nghiên cứu. Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam tập V, giai đoạn 1930 – 1945[8] của nhiều tác giả, Phần khái quát do Nguyễn Đăng Mạnh viết, đại để cũng lấy quan điểm giai cấp và chính trị làm trụ cột. Trong mục đặc điểm xã hội tác gỉa nêu: 1. Sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương và những đặc điểm mới của mâu thuẫn xã hội; 2. Sự phân hóa và thái độ của các giai cấp; 3. Tình hình văn hóa; Mục đặc điểm tình hình văn học lại trình bày ba thời kì như ông Vũ Đức Phúc. Sự ra đời của Đảng tất nhiên là quan trọng nhất về chính trị  rồi. Mục thái độ các giai cấp trình bày  các giai cấp như sách chính trị, theo công thức định kiến có sẵn, tư sản mại bản thì bán nước, tiểu tư sản thì bấp bênh, vô sản thì kiên định…Văn hóa ở đây hiểu là chính sách văn hóa của Pháp ở Đông Dương, chế độ kiểm duyệt, chủ điểm tuyên truyền, các khẩu hiệu ru ngủ quần chúng thanh thiếu niên, thực ra cũng là hoàn cảnh chính trị. Như vậy là chỉ dùng tình hình chính trị và thái độ chính trị của các giai cấp để giải thích văn học. Thiếu vắng quan niệm văn hóa, các tác giả đã không hề nói tới, chế độ thống  trị của thực dân biến xã hội Việt Nam lúc ấy thành xã hội thế nào, lối sống ra sao, mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và phương Tây, tình cảm và hình thức biểu đạt, đại để ít nhất cũng giống như điều Hoài Thanh viết trong Một thời đại trong thi ca[9], thì mới giải thích được sự phát sinh thời đại văn học mới. Cuốn Văn học Việt Nam (1930 – 1945) do Phan Cự Đệ chủ biên[10], trong phần Tổng luận Phan Cự Đệ cũng nêu các vấn đề: 1. Chính sách đàn áp và đầu đọc văn hóa của Pháp và phát xít Nhật; 2. Đảng CS Đông Dương thành lập và ảnh hưởng của Đảng tới văn học; 3. Cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng, tranh luận văn nghệ; 4. Ba thời kì và tác động qua lại của các khuynh hướng văn học. Dày đặc 75 trang với rất nhiều sự kiện chính trị, xã hội, giai cấp để chứng minh văn học giai đoạn này bị chi phối trực tiếp bới ý thức hệ tư sản, đồng thời chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng do đảng lãnh đạo, làm nảy sinh các khuyh hưởng văn học phức tạp. Mà quan hệ giữa các sự kiện chính trị to lớn với văn học vẫn rất xa vời. Cái hỏng nhất ở thời này là quy văn học vào chính trị và giai cấp của những người viết ra nó, hoặc là văn học của khuynh hướng giai cấp mà tác giả thuộc vào. Quy lịch sử văn học vào lịch sử đấu tranh giai cấp, kết quả là thu hẹp văn học sử lại, nhiều nhà văn và hiện tượng văn học do liên quan đến chính trị liền bị gạt ra ngoài, kiêng không nói đến. Đánh giá văn học cũng bị thiên lệch, vì chỉ đánh giá các nội dung theo bình diện chính trị, các nội dung không phải chính trị thì bị coi là xa rời hiện thực hoặc quay vào tháp ngà. Hình thức là yếu tố đen đủi nhất, vì không bao giờ được nhìn nhận thỏa đáng, các hình thức khó bị coi là thiếu đại chúng hoặc là tắc tị, bí hiểm, bế tắc, đồi truỵ.  Khuynh hướng chính trị, giai cấp của văn học là có thực, song toàn bộ hoạt động và nội dung văn học không thể quy gọn vào chính trị và giai cấp. Văn học phản ánh thời cuộc, phản ứng lại với thời cuộc, phụ thuộc vào thực tại và không khí thời đại, đồng thời nó chịu chi phối, phản ứng lại truyền thống cũng như chịu ảnh hướng văn học nước ngoài, do thế, không thể quy vào lập trường chính trị của giai cấp. Thử hỏi cái bản chất tiểu tư sản bấp bênh của các nhà thơ mới có tác động gì đến cái hay của một giai đoạn thơ ca? Mặt khác Tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng thể hiện lập trường giai cấp nào có quan trọng lắm không ? Trong lúc lịch sử văn học phải giải thích vì sao lại phát sinh trào lưu thơ ca, trào lưu tiểu thuyết, khuynh hướng văn học thì thái độ các giai cấp có thể giải thích được tất cả không? Trình bày quan điểm giai cấp ở đây thiết nghĩ chủ yếu là động tác tự dán nhãn lập trường mác xít cho tác giả văn học sử, để tránh xoi mói chứ đâu phải nhằm giải quyết vấn đề học thuật. Ngày nay đọc lại thấy phần thừa thải quá nhiều. Thử đọc phần viết về giai đoạn văn học tương ứng tronng bộ sách của Phạm Thế Ngũ[11] trình bày các sự kiện văn hóa, văn học giản dị hơn, dễ hiểu hơn, giúp người ta hình dung cụ thể sự phát sinh của các hiện tượng văn học giai đoạn đó. Theo tôi, nghiên cứu lịch sử văn học giai đoạn 1930 – 1945 phải giải thích được sự ra đời một giai đoạn văn học mới với các quan niệm văn học, hệ thống thể loại văn học, ngôn ngữ văn học, ý thức về khuynh hướng văn học, có như thế thì mới có lịch sử văn học, một điều mà hầu hết các nhà văn học sử đương thời chưa ai có thể đạt tới, bởi họ chỉ thấy lich sử văn học là một bộ phận trực tiếp của lịch sử xã hội, chính trị.

Về việc vận dụng nguyên tắc mĩ học mác xít vào phân tích văn học thì nguyên tắc hàng đầu là văn học phản ánh hiện thực. Lối phân tích tác phẩm của L. Tolstoi là tấm gương phản chiếu của cách mạng Nga của V. I. Lenin được coi là mẫu mực. Từ đây tính hiện thực thể hiện ở đề tài, chủ đề, tính giai cấp của tác phẩm. Quan niệm đề tài như là một cài gì vốn có của hiện thực đã đem lại một cái nhìn mới đối với tác phẩm, nhất là tác phẩm hiện thực, ví như các tác phẩm của Nam Cao với đề tài nông dân và trí thức nghèo, đề tài nông thôn, nông dân, địa chủ, quan lại trong các tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng. So vơi lối nhận xét của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại có thể nói là có một bước tiến vượt bậc. Nhưng lối phê bình của Lenin là lối chính trị hóa, xã hội học tầm thường, cho nên đã đem lại tính chất xã hội học tầm thường cho các học giả của ta.

Đặc điểm thứ nhất là phân tích tính hiện thực của văn học. Mục đích của phê bình này xem văn học phản ánh cái gì của hiện thực, khuynh hướng tư tưởng ra sao. Bởi vì tiêu chuẩn nội dung là số một, mà trong nội dung đó quan trọng nhất là nội dung chính trị.  Khi mới làm quen với phương pháp mới, các nhà phê bình đi phân tích tính giai cấp của các nhân vật Truyện Kiều. Kiều là tiểu phong kiến, Từ Hải là nông dân khởi nghĩa, Thúc Sinh là thương nhâ, Hồ là đại phong kiến… Lối đó dung tục, nực cười quá, đã bi vượt qua. Về sau tinh tế hơn.  Phê binh thơ Tố Hữu thì xem các hình tượng các lớp người trong hiện thực được phản ánh vào thơ, xem tác giả biểu hiện họ thế nào. Ví dụ như hình tượng Bác Hồ, hình tượng anh bộ đội, hình tượng người phu nữ, hình tượng người cộng sản, hình tượng các thiếu nhi, hình tượng các bà mẹ. Qua đó biểu dương các tầng lớp nhân dân cách  mạng. Phê bình Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là dịp để biểu dương lãnh tụ, bao nhiêu phẩm chất cao đẹp của Người được dịp đem ra phân tích để học tập. Những người chê thơ Tố Hữu bị liệt vào hàng phản động, sau này là “Nhân văn – Giai phẩm. Đối với thơ của Bác thì chỉ có thể là đề cao. Một giáo sư danh tiếng khi phân tích bài thơ Ngắm trăng (Vọng nguyết) cho rằng trong tù không rượu cũng không hoa, hoàn cảnh rất thiếu thốn, nhưng Bác Hồ là người cộng sản, người đã “phát huy tính năng động chủ quan, bắt mặt trăng đến với mình”, rất là ý chí luận, làm mất vẻ đẹp của câu thơ : Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Lại có một giáo sư khác lại khẳng định rằng, phương pháp sáng tác trong tập thơ là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng thơ Bác Hồ không có chuyện từ thấp lên cao, thơ Bác từ đầu đã là đỉnh cao, chủ nghĩa hiện thực của Người là đi từ đỉnh cao này sang đỉnh cao khác. Một giáo sư khác nữa thì chứng minh, không chỉ Nhật kí chìm tàu (một tác phẩm đã mất của cụ Hồ, mà tác phẩm đã mất thì làm sao xác định nó thuộc phương pháp gì được) là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, mà ngay cả truyện và kí, rồi cả tập Bản án chế độ thực dân Pháp cũng đã sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hoá ra Hồ Chí Minh đã biết sáng tác khi phương pháp ấy ngay ở Liên Xô cũng chưa hình thành. Đó là lối ca công tụng đức, không theo quy cũ khoa học. Hình thức nghệ thuật cũng có bàn nhưng sơ sài thôi. Cho nên một thời gian dài không ai chỉ ra hình thức cổ xưa của thơ Tố Hữu. Cũng không ai nói hình thức thơ của Hồ Chí Minh là xưa cũ, khó xếp vào văn học hiện đại. Phê bình tính hiện thực là phải theo tiêu chí của Đảng về hiện thực. Ví dụ, phê bình câu thơ của Chính Hữu Bâng khuâng nắng nghiêng mái nhà, nhà phê bình chỉ ra câu thơ “chênh vênh” vì nó không dẫn ta về với hiện thực vui, mà lại dẫn ta đến với một vùng xa vắng trong tâm tư”, thức là hiện thực thì phải vui, mà không vui thì không hiện thực. Tất nhiên nhìn chung thì thơ Chính Hữu rất hiện thực. Phân tích tính hiện thực phải xem lập trường nhà văn. Một thời gian dài, nhà văn Nguyễn Công Hoan rất được đề cao, nhưng đến thời CCRĐ, phát hiện thấy trong truyện ngắn của ông miêu tả các nhân vật người nghèo xấu xí quá, lại thấp kém, có người giành ăn cả cơm của chó, thể hiện thái độ rẻ rúng, thiếu trân trọng, tức là thiếu lập trường giai cấp, vì thế ông bị hạ xuống. Đồng thời đề cao Ngô Tất Tố, bởi vì các nhân vật nhà chị Dậu dù có chết đói cũng không chịu ăn cơm của chó. Kì thực Nguyễn Công Hoan miêu tả con người bị tha hoá, mà đã tha hoá thì đâu còn con người. Nhà văn Ngô Tất Tố chưa nhận ra sự tha hoá, cho nên còn miêu tả mĩ hoá con người. Chị Dậu thà bán con chứ không chụ nhục để cứu con. Vì thế phê bình nói chung còn hời hợt. Cách đánh giá tính hiện thực này hoàn toàn không tính đến yếu tố chủ quan của nhà văn trong cảm nhận hiện thực, không nhìn thấy  cái nhìn nghệ thuật của nhà văn trước hiện thực, không nhận ra tính kí hiệu của hình tượng, chỉ đề cao tính như thật của miêu tả. Ông Trường Chinh không thích biểu tượng hai mặt, không thích hình thức rắc rối như vở kịch Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, tức là chỉ thừa nhận tính như thật.

Đặc điểm thứ hai là suy diễn chính trị. Văn học bị chính trị hoá dẫn đến phê bình phải chỉ ra khuynh hướng chính trị đúng đắn và chính trị sai lầm. Khổ nhất là các nhà thơ vốn xuất than tiểu tư sản trên bước đường tự cải tạo tư tưởng để được đi với công nông binh. Sáng tác của họ luôn  luôn bị xét nét. Nhà thơ Xuân Diệu viết bài thơ  Cao trong tập thơ Riêng Chung có câu: “Cao lên cao xây dựng, Từng bước ta lên cao, …Bốn mươi thước còn vững, Hai bên gió thổi vào, Chọn từng viên gạch đỏ, Đặt ngang tầm mọc sao.” Nhà phê bình Hồng Chương hạch: “Gió hai bên thổi vào là gió gì? Phải chăng là gió cơ hội chủ nghĩa?”. Nhà thơ hãi quá phải sửa lại “Gió bên tai rào rào”.  Phê bình văn học trong cơ chế phục vụ chính trị là vạch ra động cơ, lập trường tư tưởng của tác giả. Ví dụ như nhà văn Nguyễn Khải phê bình tiểu thuyết Sắp cưới của nhà văn Vũ Bão. Phân tích tiểu thuyết dày 203 trang kể chuyện tình trắc trở của đôi trai giá trung nông bị quy sai thành phần để lên án cải cách ruộng đát, nhà văn Nguyễn Khải quy kết Vũ Bảo trong bài  Trách nhiệm của người viết  qua cuốn Sắp cưới như sau: “Lời lẽ chửi bới mới tàn tệ, cay đắng làm sao, không có thù sâu nói sao nổi những lời lẽ ấy. Cũng như muốn tỏ sự xót thương và ý muốn biện hộ cho giai cấp địa chủ mà một số người đã mượn mồm những gia đình bị quy oan trong cải cách để công khai xỉ vả, chế riểu cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn.  Ý định thật của Vũ Bão chính là như vậy đấy.”[12]  Đó là lối phê bình đẩy đồng nghiệp về phía kẻ thù của giai cấp, một điều có ý nghĩa huỷ diệt đối với nhà văn, khiến ai ai cũng khiếp sợ. Sau này nghĩ lại thấy ngượng Nguyễn Khải đã xin lỗi nhà văn Vũ Bão. Ông Tố Hữu, xuất phát từ nhận định : “hình thái đấu tranh hai con dường quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong xã hội miền Bắc là đấu tranh giữa tập thể và cá thể, giữa cái chung và cái riêng” đã phê phán mọi biểu hiện của cá nhân con người. Ông viết :”Dưới ngòi bút của Hoàng Tiến trong tập Sương tan, những ước mơ, dằn vặt của người nữ diễn viên Thuý Lan hay của chị nông dân Lê không có gì khác hơn là những đòi hỏi xác thịt, nguyên nhân của quan hệ nam nữ. Xu hướng này không có gì khác là chủ nghĩa Phơ rớt hiện đại trong văn nghệ.”[13] Thực ra trong truyện của Hoàng Tiến duy nhất chỉ có một chi tiết. Cô Thuý Lan, người diễn viên sau khi biểu diễn ở nhà hát lớn, đứng trên bao lơn, nhìn những người xem ra về từng đôi, từng cặp, liền ôm người bạn nữ diễn viên rồi nói: Đàn ông họ ôm chắc là mạnh lắm cậu nhỉ. Chỉ một câu như thế mà quy kết nhà văn có tư tưởng đồi truỵ thì thật là quá quắt, nhất là quy về chủ nghĩa Phơ rớt. Đó là vì Tố Hữu không thừa nhận tính người mà ông gọi là “chung chung”. Sau này nhà văn Hoàng Tiến đòi kiện nhà thơ Tố Hữu, những chắc không ai xử.

Đặc điểm thứ ba là do chống chủ nghĩa cá nhân, chống cá thể nhân danh tập thể mà không đánh giá đúng cá tính sang tạo của nhà văn, nhà thơ. Mọi cái tôi, cá tính của nhà văn đều bị hiểu, đồng nhất với cá nhân chủ nghĩa, là phần hạn chế, tội lỗi. Khi nói đến cá tính nhà thơ, nhà văn người ta vận dụng tiêu chí “không dễ lẫn” với người khác; “không bắt chước được”.  Khi nhận định một tác giả có tiến bộ trong sáng tác thì có nghĩa là nhà thơ đã vượt ra khỏi cái tôi của mình. Ví du khen Huy Cận đã “bước ra khỏi mình”, “Thơ Vân Đài đã hướng về cái chung nhuwg vẫn không quên trở về với cái rieng.”; Thơ  Lê Anh Xuân hoà quyện cái chung và cái riêng, cái tôi và cái ta”, Thơ Nguyễn Đình Thi mang dấu ấn đi từ trang sách đến với cuộc đời.”; “Xuân Quỳnh đã cố gắng vượt lên mình để đến với cuộc sống chung của đất nước.”[14]. Trong các bình luận ấy, cái tôi, cái mình bị đồng nhất với cá nhân chủ nghĩa,  luôn luon đều là cái hạn chế, cái tiêu cực mà nhà văn phải vượt lên, phải khắc phục thì mới đến được với sáng tác có giá trị chân chính. Do khẳng định yêu cấu đi thực tế, cho nên khi phê bình một tác giả điều đầu tiên là khẳng định “anh (chị) đi khoẻ, viết khoẻ”, “bám sát đời sống”. “Sáng tác của anh (chị) ngồn ngộn chất sống, tươi rói chất thực tế”.Chỉ tiêu chí ấy cũng đã đáng được khẳng định rồi. Thay vì khẳng định giá trị của văn chương người ta thiên về khẳng định những biểu hiện bên ngoài, miễn là tác giả không vi phạm lập trường tư tưởng.

Đặc điểm thứ tư là coi trọng nội dung, coi nhẹ hình thức, chống hình thức chủ nghĩa. Xem văn học như là sự phản ánh đời sống xã hội, nghiên cứu văn học chính thống thời kì trước Đổi mới chỉ quan tâm nội dung tác phẩm, tức là “cái gì” của hiện thực được phản ánh vào trong văn học, còn phản ánh như thế nào , tức là phương diện sáng tạo thẩm mĩ là chuyện phụ. Tuy vậy phương diện sáng tạo thẩm mĩ này cũng bị ràng buộc bởi quan niệm nghệ thuật rất thô sơ. Chỉ cần xem lại các cấm kị về hình thức mà Tố Hữu và Trường Chinh đã phát biểu thì sẽ thấy. Điều quan trọng là nhà phê bình phải chỉ ra nhà văn phản ánh gì trong tác phẩm, nói gì với người đọc. những cái ấy có lợi hay có hại cho cách mạng.  Vì thế, từ sau khi chịu ảnh hưởng tiêu chí phê bình văn học của Mao Trach Đông, tiêu chí nội dung tư tưởng là thứ nhất, tiêu chí nghệ thuật là thứ hai, trong phê bình nghiên cứu liền tạo thành công thức: 1. Giá trị tư tưởng; 2. Giá trị nghệ thuật trong hầu hết các bài phê bình, các công trình nghiên cứu văn học sử, trong các luận án. Đó chính là lối phê bình tách nội dung và hình thức ra khỏi nhau, vì phải quan tâm nội dung trước nhất, sau đó mới nói qua về hình thức. Mà nội dung thì trước hết thể hiện ở đề tài, chủ đề, khuynh hướng tư tưởng. Cách phê bình này rấ thuận lợi đối với sáng tác văn xuôi, tiểu huyết, truyện ngắn hiện thực chủ nghĩa, nhưng nói chung không thích hợp với các loại hình tượng nghệ thuật khác. Ví dụ dễ dáng chỉ ra đề tài, chủ đề trong các sáng tác của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan…Đề tài các sáng tác lãng mạn, thơ ca như Lời kĩ nữ của Xuân Diệu, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân thì khó hơn. Vì kĩ nữ ở đây không phải là đề tài của Xuân Diệu. Dựa vào tính tương đồng của hình tượng văn học với hiện thực để xác nhận đề tài, do đó ví dụ xác định đề tài phụ nữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã là không chính xác. Bởi vì mĩ nhân ở đây không chỉ là biểu tượng của phụ nữ, mà con biểu tượng của người tài nói chung. Phê bình theo quan điểm mác xít đương thời chủ yếu là phê bình nội dung chính trị như kiểu mẫu Lenin phê bình L. Tolstoi, ngoài nội dung chính trị, thường không nói được nội dung nghệ thuật. Ví dụ, khái quát thơ mới là thoát li đời sống xã hội, chỉ đúng với cái nhìn bề ngoài chứ không đúng với nội dung xã hội thẩm mĩ của thơ mới. Vì nội dung này là nhu cầu giải phóng cá tính, giải phóng cái tôi, sự thất vọng, tan vỡ lí tưởng.

Do cách hiểu nội dung thiên về xã hội học chính trị hoá, thiếu nội dung đời thường, chỉ thiên về đấu tranh giai cấp, đấu tranh hai con dường và theo quan niệm phản ánh hiện thực như thật như thế cho nên bình luận về hình thức cũng rất hời hợt. Miêu tả chân thật có nghĩa là giống như thật. Giống thất quá, mà lại là những chỗ không phù hợp, tức là phạm vào chủ nghĩa tự nhiên. Ngôn ngữ nhân vật như thật, phù hợp với địa vị xã hội, giai cấp của nhân vật thì là sinh động, có cá tính. Ngôn ngữ người kể chuyện nhìn chung chưa troewr thành đối tượng nghiên cứu. Điểm nhìn, dòng ý thức, giễu nhại, nghịch dị, kì ảo  lại là những đề tài chưa được đưa vào phạm vi xem xét. Hình thức thơ như của Chế Lan Viên bị chê là cầu kì, xa lạ. Nhìn chung phê bình văn học mác xít chưa xem hình thức nghệ thuật là một đối tượng cần phải nghiên cứu, bởi vì khuynh hướng chính lúc ấy là chống hình thức chủ nghĩa. Và điều đó là đúng quy luật, bởi vì phạm vi sáng tạo thẩm mĩ nằm ngoài xã hội học, xã hội học bất lực không thể nghiên cứu, giải thích gì về hình thức được. Phương pháp luận ấy chỉ xử lí được đề tài và chủ đề, giải thích bằng tiểu sử, lí lịch, lập trượng, địa vị xã hội của nhà văn  mà thôi. Những gì mà xã hội học không xử lí được thì người ta xem như nằm ngoài xã hội, bởi vì không gắn với đấu tranh giai cấp, với khuynh hướng chính trị. Và vì phạm vi sáng tạo thẩm mĩ chủ yếu thuộc phạm vi hình thức, phạm vi mà xã hội học không kiểm soát được, cho nên nảy sinh tâm lí sợ hình thức, sợ những gì mà người ta tưởng tượng rằng vượt quá khả năng kiểm soát của cán bộ quản lí, vì thế mà thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh dai dẳng chống hình thức chủ nghĩa. Cho nên chống chủ nghĩa hình thức chỉ là chủ trương của phương pháp xã hội học. Trên thế giới không có nước nào chống chủ nghĩa hình thức cả, ngoại trừ chủ nghĩa Mác. Và chủ trương đó đã làm nghèo nàn, nhợt nhạt nền phê bnhf, nghiên cứu văn học một thời.

Tóm lại, lí luận văn học mác xít vì bản chất là xã hội học, tuy có đem lại một ít sinh khí, khí thế trong đấu tranh xã hội, nhưng nhìn chung đối với phê bình văn học nghệ thuật, một lĩnh vực thẩm mĩ, nó có rất nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Trong điều kiện xã hội học mác xít độc tôn thì các khiếm khuyết ấy càng phát huy tác dụng tiêu cực. Chỉ đến thời Đổi mới người ta mới dám nhìn thẳng vào các tiêu cực ấy, dám phê bình nó, vượt qua nó để vươn tới phát triển nền lí luận, phê bình văn học phong phú, đa dạng, giàu sức sống. Tất nhiên con đường còn chông gai, gập ghềnh, không hề bằng phẳng chút nào. Nhưng đó là công việc của giai đoạn sau.

[1] Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, gồm 3 tập,  nxb Xây dựng, Hà Nội, 1956. Nhóm nghiên cứu văn học Lê Quý Đôn gồm các ông Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Vũ Đình Liên, Đỗ Đức HIểu, Lê Thước, Trương Chính. Tự gọi mình là nhóm, họ muốn tạo thành trường phái nghiên cứu, nhưng không thành.

[2] Nhóm Văn Sử Địa gồm các tác giả của Ban Văn Sử Địa, gồm các ông Văn Tân, Lê Hồng Phong, Vũ NGọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Hoài Thanh. Cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nxb. Sử học,  Hà Nội, 1957.gồm 5 tập..

[3] Lịch sử văn học Việt Nam tập 1, 1961 nxb Giáo dục của các tác giả Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Hữu Tấn, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân. Tập 2 của Bùi Văn Nguyên Phan Sĩ Tấn, tập 3 của Lê Trí Viễn , Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam, Tập 4 của Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam, Phan Côn, Nguyễn Đình Chú; tập 5 (phần 1 và 2) của Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, tập 6 của Huỳnh Lý, Trần Văn Hối; Các năm sau biên soạn lại có thêm các tác giả Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Đoàn Trọng Huy, Hoàng Ngọc Trì, Nguyễn Sĩ Cẩn.

[4] Sách Lịch sử văn học Việt Nam gồm văn học dân gian và văn học viết qua các thời kì  của các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nguyễn Lộc, Phan Cự Đệ, Bạch Năng Thi, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Hà Văn Đức, Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân…

[5]Sở thảo lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945) của Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đức Đàn, nxb Văn học, Hà Nội 1964;  Lịch sử văn học Việt Nam tập 1 của Nguyễn Văn Hoàn, Phan Đăng Nhật, nxb. KHXH, 1983, không có tập 2.

[6] Bakhtin M. M. Mĩ học sáng tạo ngôn từ, nxb Nghệ thuật, M., 1989, tr. 329.

[7] Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại (1930 – 1954), nxb KHXH, Hà Nội, 1971.

[8] Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1973, tái banr1978.

[9] Hoài Thanh. Thi nhân Việt Nam,

[10] Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, 2 tập, viết chung với Hà Văn Đức, Nguyễn Hành Khung.

[11] Phạm Thế Ngũ. Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Sài Gòn, Quốc học tùng thư, 1965, tập 3.

[12] Xem Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 9 tháng 9 năm 1958, tr. 67.

[13] Tố Hữu. Xây dựng nền văn nghệ lớn xúng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta, nxb Văn học, Hà Nội, 1973, tr. 319, 356.

[14] Xem: Nhà thơ Việt Nam hiện đại, nhiều tác giả, Phong Lê chủ biên, nxb. KHXH, Hà Nội, 1984, Bài phê bình của Trần Đình Sử, Tạp chí văn học, số 1, năm 1986.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to Tiếp nhận phương pháp luận xã hội học Mác xít trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trước 1986

  1. Pingback: 40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG GÌ CÒN VỚI MAI SAU-Bùi Công Thuấn | CHÚT TÌNH TRI ÂM

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s