Tiếp nhận quan niệm về tiến bộ văn học ở Việt Nam

Tiếp nhận quan niệm về tiến bộ của văn học ở Việt Nam

Trần Đình Sử

Vấn đề quá trình văn học nghệ thuật đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu , chí ít từ giữa thế kỉ XIX. Quá trình là sự vận động đi vè phía trước, là sự tiến hóa từ thấp đến cao, sự chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác không thể đảo ngược. Nó gắn với ý niệm về sự tiến bộ của xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật, nhất là từ khi thịnh hành thuyết tiến hóa. Thuật ngữ “progressus” (tiến bộ)  từ gốc La Tinh có nghĩa là vận động đi về phía trước, tiên tiến, mới mẻ[1]. Từ thời nguyên thủy đến thời cổ đại, sang trung đại tiến lên cận hiện đại, văn nghệ nhân loại đã không ngừng phát triển mới có được trình độ nghệ thuật như ngày nay. Sự tiến bộ bao gồm cả vận động thoái lui, thoái hóa, sự suy tàn. Nhiều quan điểm cho rằng văn nghệ có thay đổi, song không có tiến bộ, bởi các sang tác thời cổ xưa vẫn con nguyên giá trị không thể vượt qua. Sự tiến bộ chỉ có ý nghĩa hẹp, xét trên một số tiêu chí nào đó, chứ không  phải là sáng tác thời kì sau bao giờ cũng hay hơn, có giá trị hơn tác phẩm thời kì trước. Tuy nhiên trong lí luận văn học Liên xô chính thống , khái niệm quá trình văn học có điểm đặc biệt. Đó là niềm tin theo học thuyết giai cấp, với thắng lợi của cách mạng tháng Mười, cách mạng vô sản, thì văn hóa và văn học vô sản cũng sẽ đổi thay hoàn toàn và mang những giá trị mới. Một nền văn hóa vô sản xuất hiện thay thế văn hóa tư sản. Và cùng với văn hóa đó, một nền văn học vô sản đang lên sẽ thay thế văn học tư sản đồi bại. Các hiện tượng của nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, hâu hiện đại chủ nghĩa đều nhất loạt bị xem là suy đồi, thoái hóa, thậm chí là cái chết của văn nghệ. Ngược lại nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, được coi là tiên tiến nhất, sâu sắc nhất, đặc trưng bởi phương pháp sáng tác  hiện thực xã hội chủ nghĩa. Do đó khi nói về quá trình văn học, chỉ cần nói đến sự thay thế của các phương pháp sáng tác nghệ thuật trong lịch sử là đủ.  Tình hình đó thể hiện trong hầu hết các công trình nghiên cứu và trong các giáo trình lí luận văn học ở đại học.

Ở Liên Xô khái  niệm quá trình văn học gắn với quan niệm thi pháp học lịch sử, có những quan niệm rất sâu sắc[2]. Tuy nhiên, xét trong các sách lịch sử văn học và lí luận văn học chính thống  thì quan niệm sự phát triển tiệm tiến từ thời nguyên thủy cho đến văn nghệ vô sản đã được M. M. Gorki phác họa trong báo cáo đọc trước Đại hội nhà văn Liên Xô  lần thứ nhất năm 1934. Theo đó trong văn học phương Tây thế kỉ XIX chủ yếu là miêu tả những nhân vật hãnh tiến, kẻ ăn cắp, đĩ điếm, kẻ cá nhân chủ nghĩa… Chỉ đến văn học xã hội chủ nghĩa thì mới có con người mới, những anh hùng, có con người viết hoa, con người xả thân vì nhân loại…Quan diểm này ngày nay nhìn lại đã có phần thiên lệch, phiến diện. Trong các giáo trình lí luận văn học phần Quá trình văn học bao gồm khái niệm quá trình văn học, sự xuất hiện các thể loại văn học và sự thay  thế các tào lưu và phương pháp sáng tác, các phong cách nghệ thuật. G. P. Abpamovich xem quá trình văn học bắt đầu từ nguồn gốc lao động, quá trình sang tạo không ngừng và ý nghĩa không lỗi thời của nghệ thuật, quy luất kế thừ và cách rân, sự tham gia đấu tranh giai cấp. Các thể loại văn học nảy sinh trong lịch sử, từ sử thi đến truwngf ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, kí thơ trũ tình. Thơ châm bieemscacs thể loại kịch. Tiếp đến là các phương pháp nghệ thuật, từ hủ nghĩa lãng mạn tích cực tiêu cực đến chủ nghĩa hiện thực (Cổ đại, Phục hưng, Chủ nghĩa cổ điển, Khai sang) đến chủ nghĩa hiện thực phê phán, rồi đỉnh cao là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, một phương pháp không đóng khung ở nước Nga mà còn ảnh hưởng rộng rải trong văn học thế giới. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa phải đấu tranh chống các khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa đang tràn lan khắp tây Âu. Chủ nghĩa hiện đại được coi là phản nhân đạo chủ nghĩa, phản lí tính, phản truyền thống, bi quan, yếm thế, không nhìn thấy tương lai nhân loại. Chỉ có chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới có chủ nghĩa nhân đạo mới, thể hiện con người làm chủ thế giới và tràn đầy niềm tin vào tương lai tươi sáng[3]. Trong sách Lí luận văn học của N. A. Gulaiev không có chương về quá trình văn học, mà chỉ có chương về các phương pháp sang tác nghệ thuật. Tác giả sau khi định nghĩa phương pháp đã nêu ra lần lượt các phương pháp như chủ nghĩa hiện thực nhân văn (Phục hưng), chủ nghĩa hiện thực cổ điển, chủ nghĩa hiện thực Khai sang, chủ nghĩa tình cảm,  chủ nghĩa lãng mạn, chr nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa tự nhiên, các trào lưu chủ nghĩa hiện thực trong thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa[4]. Điều đáng chú ý là chủ nghĩa hiện đại phương Tây phát triển song song với chủ nghĩa hiện thực ở Liên Xô, song luôn luôn được trình bày như là xuất hiện trước, còn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trình bày sau, như là sản phẩm mới nhất của nhân loại.  Chủ nghĩa hiện đại được hiểu là phủ nhận văn học phản ánh hiện thực, chống lại chủ nghĩa hiện thực một cách cực đoan, cự tuyệt khám phá nội dung khách quan của hiện thực, là nghệ huật suy đồi, thần bí, thái độ hư vô chủ nghĩa, duy tâm chủ nghĩa.(tr. 448 – 462).  Giáo trình của L. I. Timoffeev Nguyên lí lí luận văn học khẳng định : “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mạng laijkhoong biết cơ man nào tài liệu lịch sử mới mà trước kia chưa hề có và do đó đòi hỏi những hình thức nghệ thuật mới thích hợp với thời đại”[5] Trong sách Lí luận văn học của G. N. Pospelov, tác giả xem quá trình văn học gồm có nhiều giai đoạn phát triển, mà văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển mới của văn học thế giới.[6] Tac giả này cũng như các tacxs giả xô viết khác đều xem chủ nghĩa hiện đại là suy đồi, phản hiện thực, là giai đoạn thấp hợn hiện hực xã hội chủ nghĩa, vì bản chất của nó là tư sản.

Các nhà lí luận văn học Trung Quốc, như đã nói ở chương truwcs, tiếp hận quan niệm lịch sử văn học từ cổ chí kim có hai phương pháp sang tác chủ lưu, đó là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn, đo điều kiện lịch sử, do tế giới quan mà nảy sinh các phương phsp sang tác cụ thể. Theo đó, gắn với thế giới quan vô sản mà nảy sinh phương pháp sang tác xã hội chủ nghĩa. Phương pháp sang tác của họ gắn với cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội hiện đại, đó là đấu tranh giữa vô sản và tư sản, tất nhiên là khẳng định vô sản, phủ định tư sản[7]. Có lần các nhà lí luận Trung Quốc gọi phương pháp sang tác của họ là chủ nghĩa hiện thực dân chủ mới, ứng với thời đại cách mạng dân chủ mới, phản đế, phản phong do đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Nhưng đến thời đại nhảy vọt Mao Trạch Đông lại đề xướng phương pháp kết hợp chủ nghĩa hiện thực cách mạng với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng (hai kết hợp). coi đó là phương pháp của thời đại[8]. Hầu hết các nhà lí luận Trung Quốc thời đó chưa quan tâm đến vấn đề quá trình văn học một cách toàn diện, mà chỉ quan tâm sự thay đổi phương pháp sáng tác như là tiêu chí của tiến bộ văn học. Chủ nghĩa lãng mạn phủ định chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa hiện thực phủ nhận chủ nghĩa lãng mạn, rồi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa phủ nhận chủ nghĩa hiện thực phê phán để tạo ra một phương pháp mới ưu việt. Đến lượt mình, họ đem phương pháp “hai kết hợp” mà khẳng định tư duy mới của mình, thay thế chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của Liên Xô. Nhưng đọc lại các tác phẩm gọi là tiêu biểu của phương pháp hai kết hợp ấy như Sáng nghiệp sử của Liễu Thanh, Dưới ngọn cơ hồng của Lương Bân thì ta thấy gì? Đó là bức tranh đấu tranh giai cấp khốc liệt ở nông thôn, và lí tưởng hóa lớp thanh niên nong thôn theo tư tưởng Mao Trạch Đông, hoàn toàn không có bức tranh hiện thực nào, mà thiên về minh họa. Vở kịch Tuyệt đối không được quên (Thiên vạn bất yếu vong kí), Người lính gác dưới ngọn đèn nêong miêu tả cuộc sống hàng ngày như là cuộc đấu tranh giai cấp, kêu gọi mọi người nâng cao cảnh giác về giai cấp. Đó là minh họa cho học thuyết đấu tranh giai cấp cực đoan của Mao Trạch Đông. Còn những sang tác thời Đại cách mạng văn hóa theo tiêu chí “cao”, “đại”, “toàn”, nghĩa là miêu tả các anh hùng vô sản cao cả, vĩ đại, toàn diện theo tư tưởng Mao Trạch Đông thì là những hình nộm trên sân khấu, được xây dựng để làm chuẩn cho các nhà văn noi theo!

Các nhà lí luận văn học Việt Nam chủ yếu tiếp nhận ảnh hưởng của các nhà lí luận Trung Quốc, chỉ quan tâm sự thay đổi các phương pháp nghệ thuật.  Từ Hồng Chương đến Lê Đình Kỵ cho đến Nguyễn Lương Ngọc, rồi đến các tác giả khác về sau (Xem chương XII), chỉ quan tâm sự thay đổi phương pháp sáng tác văn học và trào lưu văn học tương ứng với phương pháp đó. Lê Đình Kỵ trình bày chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thự phê phá, rồi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hồng Chương cũng trình bày các phương pháp ság tác trước chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực phê phán rồi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đến lượt mình Phương Lựu trong giáo trình Lí luận văn học do ông chủ biên đã viết: “Phương pháp sáng tác như khái niệm then chốt của tiến trình văn học”[9] Với quan niệm tiến bộ lịch sử đơn tuyến, mở đầu chương Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, Hồng Chương viết: Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sang tác tiên tiến nhất trong lịch sử nghệ thuật của loài người cho tới nay, Đó là một bước phát triển mới, cao hơn, của chủ nghĩa hiện thực. So với các  hình thức đã có từ trước của chủ nghĩa hiện thực thì  đó là một phương pháp nghệ thuật hoàn toàn mới về chất”[10] Cùng thời gian đó Trường Chinh khẳng định, chủ nghĩa hiện thực ã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác tốt nhất, khuyên các nhà văn Việt Nam lựa chọn.  Quan điểm nghệ thuật này vừa dựa vào quan niệm thế giới quan tiên tiến của giai cấp vô sản, vừa dựa vào quan niệm về sự tiến bộ tiệm tiến của văn học. Năm 1987 Đỗ Xuân Hà công bố công trình nghiên cứu về sự phát triển của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa dựa trên văn học Liên Xô trong hai chục năm trước đó, từ 1965 – 1985, trên thực tế là phân tích  sự phát triển của văn học Liên Xô trên con đường đi ra ngoài những giáo điều của phương pháp[11]. Trên thực tế là nhà nghiên cứu biện hộ cho một phương pháp sáng tác đã đến hồi rãy chết bằng những khái niệm vốn không thuộc phạm trù hiện thực xã hội chủ nghĩa, lẫn lộn sự phát triển của bản thân văn học với sự phát triển về danh nghĩa của phương pháp có nguồn gốc giáo điều, tạo ra ảo tưởng về sự phát triển của một phương pháp mà trong thực tế nó đang chết dần chết mòn kể từ sau khi Stalin qua đời. Điều đáng suy nghĩ là vào thời điêm (1956) một phương pháp đã bắt đầu chết ở Liên Xô thì lại được tiếp nhận nhiệt tình ở Việt Nam (sau 1954), giống như ta nhìn thấy ánh sáng của một vì sao trên bầu trời khi trên thực tế nó đã bắt đầu tắt, vì xa xôi quá. Các nhà lí luận vẫn tiếp tục bàn cãi như là nó đang tồn tại. Đến lượt mình, điều chua chát là khi các nhà nghiên cứu Nga đã không còn hứng thú nghiên cứu nữa thì nhà lí luận Việt Nam ra sức tìm tòi  trong các lập luận suông nguội lạnh để bảo vệ một học vị. Tác giả không nhận thấy rằng từ các hội thảo năm 1967 các học giả Liên Xô đã phân biệt chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với văn học xô viết, với văn học xã hội chủ nghĩa, nghĩa là trong văn học xô viết và văn học xã hội chủ nghĩa có sáng tác thuộc các phương pháp sáng tác khác, chứ không nhất thiết là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa nữa. Do đó nghiên cứu văn học xô viết những năm 70- 80 để rút ra kết luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là điều không thể thuyết phục.

Quá trình văn học như một vận động tiến bộ rút gọn vào sự thay đổi phương pháp sáng tác là sản phẩm của nghiên cứu theo định hướng ý thức hệ  cộng sản, không bao quát toàn bộ tiến trình và đánh giá thiện vị. Nó cũng là sản phẩm khi bản thân khái niệm quá trình văn học là khâu yếu nhất trong lí luận văn học xô viết, đồng thời cũng là sản phẩm của tiếp nhận sơ lược của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam, khi trước mắt họ uy tín của nền văn học xô viết to lớn quá. Tiến trình văn học là sự vận động của toàn bộ hoạt động văn học từ sáng tác đến tiếp nhận, sản xuất, tiêu dùng, mà phương pháp sáng tác , nếu được hiểu đúng, cũng chỉ là một yếu tố trong đó. Cuộc vận động văn học là sự chuyển biến, thay thế  văn học từ trạng thái này sang một trạng thái khác biệt về chất, do đó khái niệm của tiến trình văn học bề ngoài là các giai đoạn, thời kì, như người ta thể hiện trong văn học sử, mà bên trong là các kiểu ý thức nghệ thuật, các kiểu văn học bao gồm các thành tố như kiểu tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, thành phần văn học, hệ thể loại, kiểu phong cách ngôn ngữ văn học, được quy định bởi một kiểu văn hóa nhất định. Trong mỗi thời có thể có nhiểu khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, đa tuyến, nhiều dòng, chứ không thể đơn tuyến, một dòng. Sự thay thế văn học từ trạng thái này sang trạng thái khác cũng không có nghĩa là tiến bộ, mà có thể là thụt lùi, sự biến chất, “suy đồi” về mặt này hay mặt khác. Chẳng hạn gia tăng cá tính sáng tạo hay đánh mất cá tính, gia tăng thẩm mĩ hay giảm thiểu tính thẩm mĩ, gia tăng tính xã hội học… Không phân tích trạng thái văn học, chỉ phân tích một vài nguyên tắc siêu hình, thiên về xã hội học thì khó mà nói gì về tiến bộ của văn học.

Trong văn học Xô viết thời kì những năm 20 – 30, đồng thời, bên cạnh các nhà văn tiêu biểu như Gorki, Betnưi, Maiakovski, Fadeev, Furmanov, Serafimovich, Sholokhov, Kataev, A. Tostoi, N. Óstrovski…có sáng tác của S. Esenin, A. Akhmatova, Svetaeva, Bulgakov, …Cho dù đã thành lập hội nhà văn Liên Xô năm 1934, những không phải mọi nhà văn đều sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn cuối những năm 50 trở đi các nhà văn sáng tác đi chệch ra ngoài phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ngày càng nhiều. Simonov, Pautovski, Ovechkin, Dudinsev, Pasternak, Sogenitsyn, Suksin, Tendriakov, Vampilov, Aitmatov…Có thể nói văn học Liên xô sau khi Stalin mất đã dần dần thoát khỏi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tính ra phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Nga chỉ tồn tại trong khoảng thời gian những năm 20 và 30. Những năm 40 chiếm chủ đạo là văn học yêu nước chống phát xít, sau chiến thắng 1945 cho đến 1955 văn học rơi vào sự ca tụng một chiều, tô hồng, văn học suy thoái. Văn học Liên Xô bắt đầu có lại sinh khí từ sau 1956, nhưng lúc này các nhà văn đã đi theo phương pháp khác, không còn theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nữa. Đồng thời từ những năm 60 xuất hiên dòng “nghệ thuật xã hội chủ nghĩa” (sotx – art) chảy ngầm mà sau này trở thành nghệ thuật hậu hiên đại sau khi Liên Xô sụp đổ. Rõ ràng tiến trình văn học trên thực tế không hề là một sự độc tôn của một phương pháp như các nhà lí thuyết hiên thực xã hội chủ nghĩa đã từng mô tả. Đồng thời trong tiến trình văn học các nhà văn luôn thay đổi phương pháp, một phương pháp nhiều lắm chỉ gây hứng thú được khoảng mười năm là nhiều, sau đó chuyển sang những tìm tòi khác.

Đơn vị của tiến trình văn học có thể là kiểu ý thức nghệ thuật, kiểu văn học dựa trên một loại hình văn hóa. Theo sự phân tích của một nhà nghiên cứu Ukraina, GS E. Chernoivanenco, dại học Odessa, văn học xô viết những năm 20 – 50 thuộc văn học tu từ suy diễn, bởi hệ tư tưởng Mác Lenin là suy diễn từ tác phẩm kinh điển, toàn  xã hội từ trên xuống dưới tư duy bằng các trích dẫn của kinh điển, lấy tập thể thay thế cá thể, đem thẩm mĩ đồng nhất với đạo đức, hiện thực bị đồng nhất với lí tưởng, tư tưởng đấu tranh giai cấp chi phối tất cả. Đối với họ tư tưởng là cách mạng xã hội chủ nghĩa, đời sống chỉ là chất liệu chứ không phải đối tượng để nhận thức mà sáng tác. Mô hình văn hóa ấy tạo ra văn học ấy, mà tác phẩm từ xung đột đến nhân vật, tâm lí, tính cách, ngôn ngữ đều mạng nhiệt tình khẳng định giai cấp và cách mạng. Chiến bại của Fadeev thể hiện sự chiến bại là do phần tử tiểu tư sản Mechik phản bội.

[1] Từ điển mĩ học rút gọn, Politizdat M., 1964, Từ điển mĩ học, Politizdat, 1989, tr. 273.

[2] Viện hàn lâm khoa học Nga, Viện văn học thế giới mang tên Gorki, Thi pháp học lịch sử, nxb. Nasledie, M., 1994.do các nhà khoa học nổi tiếng viết.

[3] Abra movich G. P. Dẫn luận nghiên cứu văn học, nxb Giáo dục, M., 1976, tr. 204 – 316.

[4] N. A. Gulaiev. Lí luận văn học, nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1982, tr. 331 – 504

[5] Timofeev L. I. Nguyên lí lí luận văn học, nxb Văn hóa, Hà Nọi, 1962, tập 2, tr. 253.

[6] Pospelov G. N. Lí Luận văn học, nxb. Cao đẳng, M. 1978, tr. 310.

[7] Lưu Diễn Văn. Văn học khá luận. Văn nghệ xuất bản xã, Bắc Kinh, 1957.tr. 178, 195.

[8] Dĩ Quần. Nguyên lí cơ bản của văn học tập 1, nxb Văn nghệ Thượng Hải, 1964.

[9] Lí luận văn học, nhiều tác giả, nxb Giáo dục,  in lần thứ tư, Hà Nội, 2004, tr. 469.

[10] Hồng Chương.Phương pháp sang tác trong văn học nghệ thuật, nxb ST, Hà Nội, 1962, tr. 289.

[11] Đỗ Xuân Hà. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, nxb Giáo dục, Hà Nội, 1987.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s