Tiếp nhận nguyên lí văn học là hình thái ý thức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc

Tiếp nhận nguyên lí văn học là hình thái ý thức xã hội

thuộc thượng tầng kiến trúc ở Việt Nam

Trần Đình Sử

1.Nguyên lí Văn học là một hình thái ý thức xã hội,một hình thái đặc thù, thuộc thượng tầng kiến trúc là một trong những nguyên lí gốc của lí luận văn nghệ mác xít, phân  biệt với các tư tưởng duy tâm, siêu hình về bản chất của văn nghệ. Từ nguyên lí này sẽ suy ra các phạm trù quan trọng như tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính đại chúng, tính quốc tế của văn học.

Như trên đã nói, chúng ta tiếp nhận các nguyên lí này như một vấn đề ý thức hệ, như một lập trường tư tưởng, một niềm tin tuyệt đối, cho nên sự tiếp thu phải trung thành nguyên vẹn, không được cắt xén, nếu không muốn mất lập trường. Đối với các nhà mác xít đây là các nguyên tắc thần thánh dùng để khống chế, đối với tầng lớp trí thức, tâm lí sợ mất lập trường đòi hỏi sao y bản chính, giữ vững lập trường.

Mối quan hệ hạ tầng cơ sở và kiến trúc thượng tầng cũng như  quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là nền tảng để coi văn nghệ là hình thái ý thức xã hội và ý thức hệ, nhưng Marx và Engels chỉ luận bàn về cấu trúc xã hội nói chung mà chưa có ý định giải quyết rốt ráo các vấn đề riêng lẻ này, ví dụ hệ tư tưởng là gì, hình thái ý thức xã hội là gì. Vì thế, khi thì hai ông dùng thuật ngữ ideologie (hệ ý thức, hệ tư tưởng, người Nhật dịch là hình thái ý thức – ishiuki keitai) , khi thì dùng thuật ngữ Bewusstseinsfosmen – hình thức ý thức xã hội. Hệ tư tưởng như trình bày trong Lời nói đầu của Phê phán chính trị kinh tế học, là hình thái quan niệm về chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn nghệ, mà quan niệm về văn nghệ thì không đồng nhất với bản thân văn nghệ. Đồng thời hệ tư tưởng như trình bày trong Hệ tư tưởng Đức có tính hư ngụy, không phải chân lí. Nó tiêu vong cùng với sự tiêu vong của cơ sở kinh tế, trong khi đó văn nghệ thì không, vẫn trường tồn. Theo sự giải thích của Lenin trong Làm gì, ý thức hệ có tính giai cấp, có cái xuyên tạc chân lí, có cái thể hiện chân lí, các hình thái ý thức thống nhất trong ý thức hệ. Lenin và Stalin đều coi ý thức hệ và hình thái ý thức xã hội là hai hiện tượng không tách rời, thậm chí thống nhất làm một. Trong các giáo trình, sách chuyên luận những năm 30 – 40  và sau này đều hiểu như thế. Năm 1951 có người chứng minh văn nghệ là hình thái ý thức nhưng không thuộc thượng tầng kiến trúc; lại có người chứng minh bản chất thẩm mĩ của nghệ thuật, không thuộc thượng tầng, song quan điểm chính thống vẫn không thay đổi. Giáo trình Lí luận văn học của N. A. Gulaiev, xuất bản những năm 70, dich sang tiếng Việt năm 1982 ghi: “Chủ nghĩa Mác Lenin xem văn học và nghệ thuật như là một trong những hình thái ý thức xã hội….bị quy định bởi cơ sở kinh tế, …Mối liên hệ giữa văn học với tư cách là một hiện tượng  của kiến trúc thượng tầng với cơ sở kinh tế thường thường không trực tiếp, mà gián tiếp. Nó được thực hiện qua hệ tư tưởng. Sự xuất hiện những tư tưởng thẩm mĩ mới trong thời đại này hay khác là dấu hiệu chính xác chúng tỏ một giai cấp mới bước ra vũ đài  lịch sử có tham vọng thống trị về tư tưởng và chính trị.” (tr. 154). Bộ sách Nguyên lí mĩ học Mác Lenin xuất bản đầu những năm 60 do Hoàng Xuận Nhị dịch cũng hiểu như thế.  Văn học phản ánh đời sống, không chỉ miêu tả, kể chuyện, mà còn đánh giá, biểu hiện tình cảm yêu ghét, thể hiện khuynh hướng tư tưởng, mà khyunh hướng ấy có tính chất xã hội, trong xã hội phân chia thành giai cấp, thì tư tưởng ấy chính là tư tưởng có tính giai cấp, hoặc là giai cấp này hoặc giai cấp khác, không thể có trung lập. Đó là bản chất tư tưởng hệ của văn học. Văn học là hình thái ý thức xã hội mang bản chất tư tưởng hệ.

Tuy nhiên ở trong giáo trình Nguyên lí văn học của L. I. Timofeev (bản 1959), không có chương trình bày riêng nguyên lí này như một nguyên lí văn học, tính nhân dân trình bày trong chương viết về tính nghệ thuật, tính đảng trình bày qua khi nói về quan hệ giữa thế giới quan và sang tác, và ở chương viết về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa[1]. Trong giáo trình Lí luận văn học của G. N. Póspelov, vấn đề ý nghĩa ý thức hệ của văn học được trình bày trong chương về đặc trưng của văn học như một đặc trưng của văn học, còn tính giai cấp, tính nhân dân, tính đảng được trình bày trong mục phương pháp luân nghiên cứu văn học[2]. Trong sách Dẫn luận nghiên cứu văn học của G. L. Abramovich cũng không có chương về văn học là hình thái ý thức hệ thuộc thượng tầng kiến trúc, mà chỉ có chương Về tính tư tưởng, tính giai cấp, tính nhân dân , tính đảnh và ý nghĩa toàn nhận loại của văn học[3]. Chỉ có sánh Lí luận văn học của N. A. Gulaiev là có chương văn học với tư cách là hình thái y thức xã hội như đã nói trên.[4] Ta thấy các học giả Liên Xô có cách hiểu rất linh hoạt về nguyên lí văn học là hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội.

Nguyên lí này được thể hiện đầy đủ nhất trong các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc. Trong sách Văn học khái luận của Lưu Diễn Văn[5] (Tân văn nghệ xuất bản xã, Bắc Kinh, 1957) có chương trình bày rõ văn học là hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc. Một mặt ông trình bày quan điểm Mác xít về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc; mặt khác không phải mọi hiện tượng ý thức đều là thượng tầng kiến trúc. Ví dụ, chủ nghĩa Mác là sản phẩm  nảy sinh trên cơ sở kinh tế tư bản, nhưng không thể coi chủ nghĩa Mac là thượng tầng kiến trúc của xã hội tư bản. Cũng vậy không thể cói Thủy hữ là thượng tầng kiến trúc của xã hội phong kiến. Ông xem văn học là thượng tầng kiến trúc, nhưng các tư tưởng không phù hợp với cơ sở thì không thuộc thượng tầng kiến trúc. Như vậy quy văn học vào thượng tầng kiến trúc của xã hội có những chỗ cấn cái, vận dụng còn dung tục, do chưa thấy tính mâu thuẫn trong thượng tầng, phản ánh mâu thuẫn của hạ tầng. Cuốn giáo trình Nguyên lí cơ bản của văn học do Dĩ Quần[6] chủ biên (Thượng Hỉa văn nghệ xuất bản xã, 1963) được sủ dụng suốt mấy chục năm, trong phần dẫn luận có mục Văn học là một hình thái ý thức xã hội, dài 13 trang, trích dẫn các ý kiến của Marx, Lê nin, Mao Trạch Đông, khẳng định văn học là hình thái ý thức, thuộc thượng tầng kiến trúc, phải giải thích bằng hạ tầng cơ sở, nhưng có tính độc lập tương đối, có tác dụng trở lại đối với cơ sở, đồng thời phát triển không đồng đều cùng cơ sở. Thượng tầng kiến trúc có mâu thuẫn, phản ánh mâu thuẫn trong hạ tầng. Yếu tố tiến bộ thúc đẩy xã hội phát triển, yếu tố bảo thủ, lạc hậu phát huy tác dụng bảo thủ, duy trì hiện trạng của xã hội. Chính trị là hhatj nhân của thượng tầng kiến trúc. Hạt nhân của chính trị là đấu tranh giai cấp. Giai cấp và đấu tranh giai cấp là nền tảng để xét tính chất thượng tầng của văn học. .

  1. Tư tưởng văn nghệ Mác xít Việt Nam lúc đầu tiếp thu từ phương Tây, Liên Xô, Trung Quốc. Từ Hải Triều qua Đặng Thai Mai đã đem lại các khí niệm cơ sở kinh tế, kiến trúc thượng tầng, giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhưng các khái niệm đó được tiếp nhận bài bản tính từ khi có các sách phổ biến chủ nghĩa Mác và sách lí luận văn học Mác xít vào Việt Nam sau 1954. Điều dễ nhận thấy là do mức độ thấm nhuần sâu sắc trong quá trình đấu tranh tư tưởng, các vấn đề triết học của văn học như văn học phản ánh hiện thực, văn học là hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc đều được trình bày theo từng chương riếng biệt theo tầm quan trọng của nó. Về thực chất là đem nguyên lí triueets học Mác Lenin mà lấp đầy nguyên lí văn học. Giáo trình lí luận Mác xít đầu tiên do người Việt biên soạn sau năm 1954, cuốn Sơ thảo nguyên lí văn học của Nguyễn Lương Ngọc[7] (1958) và các giáo trình tiếp sau cũng do ông chủ biên là một minh chứng. Tác giả đã tham khảo nhiều sách Liên Xô, Trung Quốc và phương Tây (ví dụ như J. Freville, H. Lefèbvre – lúc này ông này chưa bị phê phán là xét lại). Cuốn này chương đầu tiếp nhận một phần trong chương Nhiệm vụ của văn học trong sách của Lưu Diễn Văn nói về nguồn gốc văn học, nhưng Nguyễn Lương Ngọc đã lập chương mới viết về Văn học là  một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc. Văn học phản ánh hiện thực, tính giai cấp, tính chất đảng của văn học, mỗi vấn đề một chương. Tác giả tiếp nhận lí luận Mác xít qua tài liệu tiếng Pháp và tiếng Trung, bao quát nhiều vấn đề lí thuyết đương thời. Nhà nghiên cứu đã phê phán quan điểm không xem văn học là yếu tố thuộc thương tầng kiến trúc, phê phán quan điểm chỉ coi quan điểm về nghệ thuật là thuộc thượng tầng kiến trúc, còn bản than văn học thì không, hoặc phê phán quan điểm dựa vào lập luận củ Stalin, xem ngôn ngữ không có tính giai cấp, không thuộc thượng tầng kiến trúc, do văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, do đó cũng không thuộc thượng tầng kiến trúc. Các phê phán đều dẫn đến khẳng định, cả chính trị, pháp luật và các hình thái ý thức như tôn giáo, triết học, nghệ thuật, đạo đức đều thuộc thượng tầng kiến trúc. Do chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, cho nên chính trị ảnh hưởng quyết định đến các hình thái ý thức, trong đó có văn học. Các hình thái ý thức tác động lẫn nhau và tác động trở lại cơ sở. Cơ sở là nhân tố quyết định các hình thái ý thức xét đến cùng. Ông dẫn lời Mao Trạch Đônng và Trường Chinh để khẳng định mạnh mẽ chính trị lãnh đạo văn nghệ, còn văn nghệ phục vụ chính trị. Chính trị lãnh đạo văn nghệ bằng đường lối và tư tưởng. Sách cũng dẫn lời Lenin khẳng định các hiện tượng mâu thuẫn trong thượng tầng kiến trúc đã phản ánh nâu thuẫn ở hạ tầng cơ sơ, có hai nền văn học trong một nền văn hóa dân tộc. Có thể nói chúng ta đã tiếp nhận các nhận thức đúng đắn về các nguyên lí triết học không sai một li. Lúc này cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn –Giai phẩm vừa xong, giáo trình cũng có những đoạn dẫn và phê phán các luận điệu sai trái của nhóm ấy về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Từ đây về sau trong các giáo trình Cơ sở lí luận văn học (1965) của Tổ bộ môn lí luận văn học của đại học sư phạm Hà Nội, Vinh và Đại học tổng hợp viết chung[8], đều bố cục theo các chương mục của Sơ thảo, có biến đổi chút ít, song đều lấy các vấn đề trọng tâm cả lí luận văn nghệ Mác xít làm chủ đề biên soạn. Các giáo trình sau viết gọn hơn hoặc dài hơn, song tính lí thuyết cũng đại để cũng  giống như sách của Ngyễn Lương Ngọc. Mặt khác các tài liệu sau lưu ý nhiều hơn đến quy luật phát triển không đồng đều, không tương ứng  giữa thượng tầng và hạ  tầng, đồng thời triển khai phê phán các tư tưởng sai trái về quan hệ giữa văn học với cơ sở, với chính trị. với giai cấp, với tính đảng cộng sản. Cũng vào năm 1958 Trương Tửu cho xuất bản cuốn sách Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam.[9]  Có thể coi đây là cuốn lí luận về văn học sử đầu tiên của nước ta. Tác giả ý thức được việc vận dụng phương pháp mác xít vao nghiên cứu văn học ở Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu, chập chững, trứng nước, nên đề xuất một số vấn đề văn học sử, mà vấn đề dầu tiên là Văn học như một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, bộ phận có thể có một lịch sử độc lập tương đối, từ đó nghiên cứu lịch sử riêng, có tiêu chí phân chia giai đoạn riêng, không trùng với giai đoạn lịch sử xã hội. Trong thượng tầng không chỉ có bộ phận bảo về cho cơ sở mà còn có nhiều bộ phận khác, thể hiện những thái độ khác, chống đối đối với cơ sở. Trong mục Khí hậu văn học đề cập tới khái niệm Tâm lí thời đại trong lí thuyết của G. Plekhanov, mục Chính sách văn nghệ của  nhà nước đối văn nghệ, đề cập tới quan hệ văn nghệ với nhà nước và giai cấp thống trị.  Ông khẳng định “Nói chung thì trong xã hội có giai cấp đối kháng thì khí hậu văn học là khí hậu chông lại chính sách của phe lũ cầm quyền nhằm nô dịch, đàn áp và khủng bố văn học. Đây là điểm gawpk nhau giữa văn ọc và đấu tranh chính trị. “ (tr.900). Quan điểm này đươngt hời có thể bị khép vào tư tưởng mập mờ, chống đối, song là một quan điểm đúng đắn, phù hợp quan điểm mác xít và thực tế văn học mọi thời đại.  Vào khoảng năm 1957 – 1960 các tác giả nhóm Văn Sử Địa co xuất bản bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam gồm 5 tập, trong Lời nói đầu ở tập 1 đã nêu rõ cách hiểu về mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc làm cơ sở cho việc phan định các giai đoạn của văn hộc sử. Các tác giả viết : “tương quan giữa sự kiện kinh tế, sự kiện chính trị với sự kiện văn học là một tương quan phức tạp. Sự kiện kinh tế hay chính trị ảnh hưởng đến nội dung văn học hoặc có thể làm cho văn hocjcos một đặc tính nhất định nào. Nhưng lấy sự kiện kinh tế hay chính trị làm tiêu chuẩn để phân định thời kì lịch sử văn học thì không ổn. Là bởi vì trong lịch sử xã hội loài người rất ít khi sự kiện văn học diễn ra đồng thời với sự kiện kinh tế hay chính trị.”[10] Như thế các học giả Việt Nam tiếp nhận lí thuyết về quan hệ cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc của chủ nghĩa Mác khá đúng đắn, linh hoạt và không máy móc. Quan điểm đó đã giúp họ phân định các giai đoạn lịch sử văn học không lệ thuộc vào các mốc chính trị, kinh tế. Vận dụng các quan điểm ấy vào nghiên cứu văn học sử, chứng tỏ tiếp nhận tư tưởng văn nghệ Mác xít đã làm thay đổi hẳn diện mạo và chiều sâu của nghiên cứu văn học Việt Nam.
  2. Tính giai cấp của văn học là sự thể hiện bản chất ý thức hệ và kiến trúc thượng tầng của văn học[11]. Trong điều kiện xã hội phân chia giai cấp thì văn học là biểu hiện của ý thức giai cấp và công cu đấu tranh giai cấp. Các nhà Mác xít đầu tiên như P. Laphargue có nhiệt tình phơi bày bản chất tư sản của V. Hugo (Truyền thuyết về V. Hugo), nhà Mác xít Đức là F. Merring cũng phơi bày bản chất giai cấp của Lessing. Các nhà Mác xít Nga những năm 20 thường phân tích chỉ ra thành phần giai cấp của các nhà văn cổ điển. Các giáo trình Lí luận văn học Liên Xô, sau khi khắc phục bệnh ấu trĩ dung tục, thường chi hiểu  tính giai cấp ở chỗ sáng tác của nhà văn thể hiện ý thức hệ của giai cấp, chứ không phải suy nghĩ thuần túy cá nhân. Tính giai cấp thể hiện ý thức đối kháng của các giai cấp trong cơ sở kinh tế, sự phân hóa thành đối lập tronng mỗi nền văn hóa dân tộc như Lenin nói (Gulaiev); tính giai cấp thể hiện trong sự mâu thuẫn về thế giới quan trong sáng tác của các nhà văn lớn, trong đó có yếu tố tiến bộ, cách mạng và có yếu tố lạc hậu, phản động (Abramovich). Đặc biệt trong sách của các nhà lí luận Trung Quốc, luôn nhấn mạnh tính giai cấp thể hiện ở chỗ văn học là lỗ tai, con mắt của giai cấp, là vũ khí, công cụ đấu tranh giai cấp. Dĩ Quần trích dẫn Lenin để nói rằng, tính giai cấp của một tác phẩm thể hiện ở chỗ, nó không thể vượt ra ngoài cái giới hạn mà sinh hoạt giai cấp đã quy định cho nó. Nhà văn tư sản, dù nói gì cũng không vượt ra ngoài giới hạn của giai cấp mà người ấy thuộc vào. Nghĩa là  một nhà văn có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội và cho con người, nhưng tính chất, chiều âu đều không thoạt khỏi giới hạn giai cấp của họ. Nếu hiểu thế thì tính giai cấp và tính nhân loại không có mâu thẫn. Các giai cấp phong kiến, tư sản, tiểu tư sản đều như vậy. Ví dụ Đỗ Phủ nghĩ đến kẻ sĩ trong thiên hạ, những lí tưởng của ông không thể vượt qua giới hạn của giai cấp và thời đại. Cũng vậy, Nguyễn Du nghĩ đến số phận con người, số phận người phụ nữ, nhưng điều ông nghĩ không vượt qua giới hạn của thời đại và khả năng của một tri thức thời trung đại. Nhưng không ít người hiểu rằng  người thuộc giai cấp nào thì chỉ suy nghĩ vì mục đích, lợi ích của giai cấp mình. Hiểu tính giai cấp là một tính chất vị kỉ, ích kỉ của giai cấp. Trong trường hợp đấu tranh giai cấp phức tạp, một bộ phận giai cấp phản đối lập trường chật hẹp của giai cấp mình, muốn nêu tư tưởng mới cho tiến bộ xã hội, thì người ta vẫn coi đó chỉ là bộ phận của giai cấp ấy, không có gì là nhân loại hay tính người. Những cách hiểu ấy hoàn toàn loại trừ sự tác động qua lại của các giai cấp, hoàn toàn phủ nhận tính người, tình người. Họ cho rằng chỉ có tính người cụ thể, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong xã hội có giai cấp, thì tính người mang tính giai cấp. Họ cho rằng tính giai cấp gắn với quyền lợi ích kỉ của giai cấp, mà không nghĩ rằng các giai cấp vẫn nghĩ đến đồng loại, ngoài tính giai cấp, con người còn có cái chung trong nhu cầu sống còn, ẩm thực, nam nữ, có quan hệ với tự nhiên, quan hệ với cái đẹp, vui buồn giận tủi, yêu đương, tình ruột thịt cha mẹ, con cái, tình bạn bè, khát vọng sinh tồn, no ấm, phát triển…Cho dù có khác nhau về tính giai cấp thì vẫn có cái chung của chủng loài người và trong điều kiện nhất định nó phát huy tác dụng. Phái cực tả trong lí luận Trung Quốc đã hoàn toàn phủ nhận tính người. Có nhà nghiên cứu Bao Trung Văn cho rằng vì phủ nhận, bài bác triệt để tính người cho nên trong Cách mạng văn hóa người ta đã thể hiện đầy đủ thú tính trong đấu tố, hành hạ, giết hại+ đồng chí, đồng loại.

Ở Việt Nam tiếp nhận chủ nghĩa Mác trước hết là tiếp nhận học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Giai cấp bắt nguồn từ địa vị của nó trong cơ sở kinh tế, dẫn đến thái độ chính trị, đạo đức của nó trong xã hội. Tuy nhiên sự tiếp nhận nguyên lí này có nhiều biểu hiện thô sơ, cứng nhắc. Từ thời 1935 Hải Triều đã hiểu đúng về lí thuyết song vận dụng thì có vấn đề. Hải Triều trong cuộc tranh luận về nghệ thuật đã quy và đẩy các nhà văn phái Hoài Thanh vào giai cấp “tụi giàu,” giai cấp bóc lột. Trong Đề cương văn hóa năm 1943 và trong bài phát biểu của Trường Chinh sau đó đã dựa vào tiêu chí giai cấp đánh giá rất thấp tinh thần yêu nước và tính tiến bộ của văn học 30 – 45, đánh giá thấp các hoạt động trên các tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị. Sau 1954, trong giáo trình của Việt Nam, tính giai cấp của văn học có được do văn học phản ánh đời sống vốn có tính giai cấp, biểu hiện tính giai cấp của nhà văn. Cho nên một thời gian nhiều nhà nghiên cứu đi tìm  tính giai cấp của nhân vật, xác định thành phần giai cấp cho chúng, ví như trong Truyện Kiều theo sự vận dụng của Trương Tửu trong chuyên luận Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) thì Kiều là tiểu phong kiến, Từ Hải là nông dân khởi nghĩa, Thúc sinh là thương nhân, Hồ Tôn Hiến là đại phong kiến. Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc khi phê phán bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán “Yêu ai cứ bảo là yêu, Ghét ai cứ bảo là ghét” đã chỉ ra bài thơ mập mờ, không nói rõ yêu ghét ai, thực chất là “lên tiếng nói hộ cho giai cấp bóc lột” (Sdd, tr. 162). Nhận định này ngày nay xem lại thật khó lòng chấp nhận. Khẳng định trong xã hội có đối kháng giai cấp, các giai cấp có ý thức lợi dụng văn nghệ làm vũ khí đấu tranh cho lợi ích giai cấp của mình, phục vụ chính trị của giai cấp mình. Do đó đặt ra nhiệm vụ : “Nhà phê bình phải nhìn rõ và phải nói rõ, tác phẩm văn học đã giúp gì cho giai cấp; nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật đã tham gia đấu tranh giai cấp như thế nào.” (Sdd tr. 164). Như thế đã từ tính giai cấp, biến phê bình văn học thành thuần túy hoạt động chính trị, mà là thế thì  cũng không còn là phê binh văn học nữa.. Vấn đề tính giai cấp là vấn đề lập trường, cho nên nhà lí luận khi trình bày lí luận buộc phải tỏ rõ lập trường, cho nên phải nói rõ như thế. Không chấp nhận tính người chung chung phi giai cấp, không thừa nhận tính người, tình người, các chủ đề vĩnh cửu…Vạn dụng tính giai cấp máy móc thì không thể hiểu được văn học. Ví dụ như cô Kiều, con một ông viên ngoại cố nhiên thuộc tầng lớp phong kiến, nhưng khi ta đồng cảm với số phận của cô, thương xót tài sắc của cô thì hoàn toàn không có nghĩa là đồng tình với giai cấp phong kiến, mà là đồng tình với sô phận của một con người, không ai nghĩ đến thành phần phong kiến của cô cả. Co là biểu tượng của số phận con người khổ đau, tủi nhục dưới chế độ xã hội áp bức bất công. Đi tìm bản chất giai cấp của nhân vật, vạch thành phần cho nó quả thật là một công việc phi văn học. Việc vận dụng như thế tỏ ra thuận lợi  đối với các tác phẩm hiện thực phê phán như Tắt đèn, Bước đường cùng, nhưng đối với hầu hết tác phẩm cổ diển của văn học Việt Nam và văn học thế giới thì không đúng. Ví dụ như phân tích Sống mòn của Nam Cao mà chỉ đi mổ xẻ tính chất tiểu tư snanr của các nhân vật trong đó thì coi như hủy hoại tác phẩm, vì đã biến nó thành một tài liệu xã hội học thuần túy.  Dần dần, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã thoát khỏi sự nhầm lẫn xã hội học dung tục ấy.

Quan niệm về tính giai cấp ảnh hưởng to lớn đến viêc biên soạn các lịch sử văn học. Tư tưởng giai cấp và đấu tranh giai cấp là hạt nhân trong các cuốn văn học sử, trong đó phân biệt rõ ai là giai cấp thống trị, ai là nhân dân bị áp bức, nhà văn đứng về phía nào, thể hiện thế giới quan của tầng lớp nào. Ở Trung Quốc Đường Thao khi biên soạn Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc hoàn toàn lấy tiêu chí giai cấp để phân chia trận tuyến văn học. Các doàn thể văn học được chia theo tiêu chí tiểu tư sản, tư sản, khuynh hướng thoát khỏi tư sản, hướng về giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác. Đánh giá Lỗ Tấn thì theo công thức “đi từ tiến hóa luận đến giai cấp luận”, không hề đánh giá công lao đóng góp của các nhà văn và đoàn thể văn học về phương diện văn học[12]. Các bộ lịch sử văn học cổ do Du Quốc Ân chủ biên, Lich sử phát triển văn học Trung Quốc của Lưu Đại Kiệt, thậm chí Lịch sử văn học nước ngoài do Chu Vi Chi chủ biên cũng đều laayts đấu tranh giai cấp làm cốt. )ử Việt Nam các bộ lịch sử văn học của nhóm Lê Quý Đôn, của nhóm Văn Sử Địa, của các trường Đại học sư phạm và Đại học tổng hợp, thì lấy tư tưởng yêu nước, chống ngoại xâm, tư tưởng chống phong kiến chuyên chế, chống áp bức bóc lột làm trục. Theo đó các tác giả liên quan đến đế quốc thực dân, triều đình nhà Nguyễn sẽ không được có mặt, bị lên án. Các tác giả như Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Vĩnh Ký…vốn có mặt trong sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan hay cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm thì nay đều không có mặt . Các phong trào thơ mới hay dòng văn Tự lực văn đoàn, đều được xem là biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản, yếu đuối, thoát li hiện thực mà được đánh giá thấp. Trong nguyên lí đánh giá nội dung quyết định hình thức, mà nội dung đã thế thì mọi sáng tạo về hình thức cũng không được đánh giá cao. Từ điển văn học[13] xuất bản năm 1983 – 1984, do nxb Khoa học xã hội xuất bản cũng không đưa tên các giả ấy. Mãi đến Từ điển văn học (bộ mới), in năm 2004 bởi nxb Thế giới mới thấy đưa các tác giả ấy cùng nhiều tác giả khác vào. Sự kiện đó cho thấy quan niệm về giai cấp, chính trị đã có phần cởi mở, xét đến đóng góp về văn hóa văn nghệ, tính đến tính phức tạp của hoạt động văn hóa trong điều kiện lịch sử cụ thể.

4.Tính giai cấp là nền tảng của lí thuyết tính đảng, bởi vì đảng là đội tiên phong cuả giai cấp. Nếu đã thừa nhận tính giai cấp của văn học thì phải thừa nhận tính đảng như là biểu hiên tập trung, tự giác cao độ của tính giai cấp. Tính đảng được Leenin nêu ra trong bài báo nổi tiếng Tổ chức đảng văn văn hộc có tính đảng (1905). Bài báo này cũng được dịch thành  Tổ chức đảng và xuất bản phẩm của đảng, chữ literatura  không chỉ vưn học mà chỉ xuất bản phẩm nói chung, như báo chí, sách vở tuyên truyền. Xét trong bối cảnh đương thời, bài báo viết nhằm giải quyết tình trạng báo chí của đảng trong thời điểm lịch sử phức tạp thì rõ rang Lenin bàn về xuất bản phẩm nói chung của đảng. Ông phẫn nộ vì các báo đảng đưa những quan điểm khác nhau, và đã nêu khẩu hiệu đã đảo các tác phẩm tự do chủ nghĩa vô tính đảng. Không có lí do gì để vào lúc cách mạng khẩn trương vào lúc ấy Lenin lại có nhu cầu bàn riêng về văn học nghệ thuật. Bài báo nhằm gửi thông điệp cho các đồng chí Plekhanov, Zinoviev, Stalin, Troski, Bukharin và các đồng chí khác… Một bài báo của bà N. Krupskaya, vợ của Lenin viết vào năm 1936 cũng xác nhận điều đó. Tuy nhiên trong bài báo, sau khi nói đến vị trí cái bánh xe, cái đinh ốc của các ấn phẩm của Đảng, Lenin cũng nói đến việc không đồng nhất, san bằng bộ phận ấn phẩm này của đảng với các bộ phận khác, ông chủ trương để một khoảng không rộng rãi cho tư duy và tưởng tượng, hình thức và nội dung, và đó sẽ là một nền văn học tự do, thuộc về nhân dân, không phụ thuộc vào túi tiền của nhà tư sản, thì người ta có thể nghĩ đến những ý kiến nói về văn học có tính đảng. Tính đảng thực chất là nguyên tắc văn học phục vụ chính trị của giai cấp vô sản, phục vụ chính trị của đảng, khắc phục tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược trên báo, chí, sách vở của đảng. Nguyên tắc này được Mao Trạch Đông chuyển thành nguyên tắc, văn học phục vụ chính trị của đảng, cụ thể là văn học cách mạng là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản; nhà văn vô sản phải phục vụ công nông binh, phải kiên quyết đứng trên lập trường của giaic ấp vô sản, do đảng lãnh đạo; nhà văn phải hòa nhập với quần chúng công nông binh thành một khối; sáng tác phải thực hiện quan hệ biện chứng giữa phổ cập và nâng cao. Vào Việt Nam nguyên tắc này được Trường Chinh nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài nói chuyện của mình và cũng được nhị quyết hóa trong các văn kiện yêu cầu nhà văn tiếp nhận sự lãnh đạo của đảng. Ông nhấn mạnh nhà văn được quyền tự do sang tạo để phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân dưới sự lãnh đạo của đảng, theo chỉ đạo của đảng, kiên quyết chống tự do vô chính phủ. Tính đảng đòi hỏi văn nghệ sĩ phải đứng trên lập trường tư tưởng của đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động. Còn như thoát li mục tiêu đó mà tự do sang tạo thì chỉ có thể tự do làm phân bón cho cỏ cây[14]. Trường Chinh đã tổng kết tính đảng của nhà văn thành mầy điểm sau: 1. Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục tùng chính trị, phục vụ đường lối chính sách của Đảng; phải trung thành với lí tưởng cộng sản chủ nghĩa và đấu tranh không mệt mỏi cho sự thắng lợi của nó…2. Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và hoạt động xã hội  của mình cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường và củng cố sự lãnh đạo của Đảng…3.Văn nghệ sĩ bao giờ cũng phải giữa thế tiến công chống những tư tưởng phản động và đồi bại của bọ đế quốc…4.Văn nghệ sĩ của đảng phải phục tùng tổ chức của Đảng[15]…OOngconf quy định tiêu chí tính Đảng của tác phẩm văn nghệ  gồm nhiều điểm, rất dài, chỉ xin nêu yêu cầu tóm tắt: “Nói tóm lại, tính đảng của một tác phẩm văn nghệ của ta chính là ở nội dung tư tưởng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật phong phú, sinh động và trong sang, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân, gây long tin tưởng đối vowisDDangr ta và chế độ ta.”[16] Qua những trích dẫn ta thấy được sự tiếp nhận đúng đắn và rất nhiều sáng tạo của Đảng cộng sản Việt Nam về nguyên tắc tính đảng. Nguyên tắc này đac được thể hiện trong lí luận, phê bình văn học, trong chỉ đạo sáng tác và trong việc tổ chức các hội đoàn văn nghệ trong hệ thống chính trị của Đảng. Tuy vậy nguyên tắc này là nguyên tắc biến văn nghệ thành tuyên truyền, đã quy định khá ngặt nghèo, trên thực tế đã trói buộc rất nhiều cho sang tác, các đồng chí của đảng dẽ dàng can thiếp thô bạo vào sang tác, nhìn nhận văn nghệ thuần túy theo nhãn quan chnhs trị, khiến cho đông đảo văn nghệ sĩ cảm thấy gò bó và sang tác thiếu tính chân thật, khó tránh khỏi cực đoan, minh họa. Từ năm 1986, với tinh thần cởi trói, các văn kiện và phê bình cũng đã hầu như không nói đến tính đảng.

5.Gắn với khái niệm tính giai cấp là khái niệm tính nhân dân của văn học. Thời Khai sang châu Âu J. G. Herder là người đầu tiên nêu ra tính nhân dân, nhưng J. J. Rousseau là người giải thích rõ về nhân dân. Nhân dân theo Rousseau là cộng đồng người rang buộc nhau bằng các quy ước (Kế ước xã hội). Lenin hiểu nhân dân trên cơ sở tính giai cấp. Ông viết: “Chủ nghĩa Mác khi dùng khái niệm nhân dân không hề có nghĩa là xóa nhòa sự khác biệt về giai cấp của nó, mà là dùng nó để đem những giai cấp có khả năng tiến hành cách mạng đến cùng lien kết thành một khối”[17] Với cách hiểu trên, nhân dân là phạm trù cận đại, nó có nội dung xã hội, dân chủ, tiến bộ, cách mạng.Trong lí luận văn nghệ Mác xít, tính nhân dân gần như đồng nghĩa với tính cách mạng, tính chiến đấu, tính chính nghĩa, tính đạo đức.Theo nhà lí luận Liên Xô Gulaiev, tính nhân dân về tính cách mạng thì thấp hơn tính đảng, trong xã hội xã hội chủ nghĩa khi các giai cấp bóc lột đã bị thủ tiêu thì tính đảng và tính nhân dân thống nhất làm một[18] Do quan niệm về sự thống nhất này mà một thời gian dài trong các nước xã hội chủ nghĩa người ta bỏ quên tính nhân dân. Nhưng sự phát triển của văn học cho thấy, trong xã hội xã hội chủ nghĩa nhân dân và Đảng cũng không thể hoàn toianf thong nhất, do đó giữa tnhs Đảng và tính nhân dân có sự sai biết và cần phân biệt hai khái niệm đó. Tính nhân dân trong nghệ thuật thể hiện ở chỗ văn nghệ phải biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhân dân, được nhân dân ưa thích, yêu chuộng. Tuy vậy trong Nhân dân có hai cực, một cực là toàn thể, chỉnh thể, và cực khác là cá nhân, cá thể, người công dân, giữa hai cực này có nhiều mâu thuẫn phức tạp, tạo nên sự phong phú, đa dạng của tính nhân dân. Nêu chỉ hiểu tính nhân dân theo tính cộng đồng sẽ dẫn đến đè nén tính cá thể và làm nghèo sáng tác văn nghệ. Tiếp nhận khái niệm tính nhân dân, theo nghĩa của Lenin, chúng ta chủ yếu nhấn mạnh đến phương diện cộng đồng, tập thể, mà không quan tâm nhiều đến cá nhân, cá tính. Đề cương văn hóa năm 1943 đã nêu ra định hướng đại chúng hóa theo kiểu Mao Trạch Đông. Đương thời dưới hình thức ngắn gọn, Đề cương chưa nói rõ, nhưng những năm 1948, 1949 trong các cuộc thảo luận văn nghệ ở Việt Bắc, yêu cầu đại chúng hóa đã được nêu ra trong thực hiện. Nghệ sĩ phải thực hiện chức năng tuyên truyền, thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bị phê phán. Nhà văn phải học tập quần chúng nhân dân, không được đứng trên nhân dân, nghe nhân dân phê bình. Tố Hữu đã đọc báo cáo Xây dựng văn nghệ nhân dân Việt Nam[19]  năm 1951 tại Đại hội lần thứ hai của Đảng lao động Việt Nam tại Việt Bắc đề ra khảu hiệu văn nghệ phục vụ cách mạng và kháng chiến, sử dụng vốn văn nghệ truyền thống, xây dụng phong trào sang tác của quàn chúng, văn nghệ sĩ học tập quần chúng, vai trò lãnh đạo của Đảng.  Trải qua hai cuộc kháng chiến chông Pháp và  chống Mĩ, qủa là tính nhân dân và tính đảng thống nhất làm một trong thực tế. Từ thời đổi mới đến nay, đặc biệt là từ khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ ngày văn học đổi mới đến nay thì thấy có hiện tượng tính đảng và tính nhân dân không còn thống nhất như trước. Nhiều tác phẩm có tính nhân dân mà thiếu tính đảng, hoặc nhiều tác phẩm có tính đảng thì thiếu tính nhân dân. Tính nhân dân đang ngày càng nổi lên trong đời sống văn nghệ hiện đại. Mặc dù cả khái niệm tính đảng lẫn khái niệm tính nhân dân đều hầu như không thấy được nhắc đến.

Đối với các nhà nghiên cứu văn học, nhất là những người nghiên cứu văn học quá khứ, khái niệm tính nhân dân có ý nghĩa để xác định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của các sáng tác quá khứ.  Các tiêu chí của tính nhân dân trong văn học truyền thống dân tộc thường là nội dung yêu nước, chống ngoại xâm, khuynh hướng trào phúng hê phán các hiện tượng xấu xa, vô đạo trong cuộc sống, khuynh hương hiện thực thể hiện tâm tư nguyện vọng của con người như chống chiến tranh, chống áp bức, bất công. Khi chuyển sang nghiên cứu, phê bình văn học đương đại nhà nghiên cứu lại dùng tiêu chí tính đảng.

  1. Trong lí luận văn nghệ Mác xít Liên Xô, vấn đề tính dân tộc của văn nghệ nằm trong vấn đề tính nhân dân. Trong tiếng Nga từ narod cũng có nghĩa là dân tộc. Do ở Việt Nam và Trung Quốc chủ nghĩa Mác được tiếp nhận như là con đường giải phóng dân tộc, cho nên vấn đề tính dân tộc nổi bật lên. Từ năm 1940 Mao Trạch Đông trong bài Bàn về chủ nghĩa tân dân chủ đề ra khẩu hiệu dân tộc hóa. Từ năm 1943 Đề cương văn hóa đã đề ra phương châm văn hóa “dân tọc hóa”, với nội dung phát huy bản sắc dân tộc, chống mọi biểu hiện lai căng, bắt chước nước ngoài, chống văn hóa nô dịch. Sở dĩ nói “dân tộc hóa” là bởi vì đã đánh giá văn nghệ trước 1945 đã xa rời quỹ đạo dân tộc, cho nên cần phải “hóa” để trở lại với dân tộc. Về sau sự đánh giá có khác cho nên khẩu hiệu này không nêu lại. Trong báo cáo Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chr nghĩa xã hội (1957) Trường Chinh nhắc lại tư tưởng Stalin “xây dựng một nền văn hoasxax hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức”[20]  Với tinh thần đó ông chủ trương tìm tòi phát huy truyền thống cũ của dân tộc. Đến báo cáo trước Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba năm 1963 Tăng cường tính đảng đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa, Trường Chinh nhắc lại sự thay đổi cách nói thể hiện trong thư của Ban chấp hành trung ương đảng lao động Việt Nam gửi đại hội vă nghệ  : “phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa, và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc.”[21]Đến nghị quyết 5 Đại hôi đảng lần thứ 7 năm 1996, khẩu hiệu vawnngheej sẽ là xây dựng nền văn nghệ tiên tiến, đạm  đà bản sắc dân tộc.Ta thấy diễn ngôn về tính dân tộc trong văn nghệ đã thay đổi từ dân tộc hóa theo ngon ngữ Mao Trạch Đông, sang hình thức dân tộc theo kiểu Stalkin, đến tính dân tộc và bản sắc dân tộc kiểu Việt Nam. Về tính dân tộc và bản sắc dân tộc trong mấy chục năm đã có nhiều chuyên luận, nhiều hội thảo thảo luận về vấn đề này, có nhiều ý kiến và ý tưởng sâu sắc trong nhiều lĩnh vực văn hóa văn nghệ, từ âm nhạc, sân khấu, hội họa, đến văn học.  Có thể nêu một số công trình như  Về tính dân tộc trong văn học của Thành Duy (1982), Về một nguyên lí văn chương của Phương Lựu (1983), Về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam (1972), Tính dân tộc của văn học của Nam Mộc(1978) , Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc (1998), Bản sức dân tộc, nhiều tác giả, Mai Quốc Liên chủ biên, (2001)…Nhìn chung tinhdaan tộc hay bản sắc dân tộc văn học Việt Nam được xem xét trong các quan hệ giữa nội dung và hình thức, truyền thống và hiện đại, bản sắc và sự phát triển, thống nhất và đa dạng.

Tổng quan lại có thể nói, tính gai cấp, tính đẩng, tính nhân dân, tính dân tộc hay tính chất thượng tầng kiến trúc của văn học đều là các diễn ngôn, dựa vào khung tri thức của thời đại, bản chất ý thức hệ và tính chất quyền lực của nó trong thời điểm mà có sứ chi phối tư duy nghiên cứu, nhận thức văn học và đồng thời biến đổi theo thời gian.

[1] Timofeev L. I. Nguyên lí văn học, nxb. Giáo dục, in lần thứ 5, có bổ sung vf sửa chữa, Matscva, 1976, tr. 76, 125, 411.

[2] Pospelov G. N. Lí luận văn học, nxb Cao đẳng, Mascova, 1978.tr. 75, 164.

[3] Abramovich G. L. nxb. Giáo dục, Matscova, 1975, tái bản lần thứ 6, bổ sung, sửa chữa., tr. 70.

[4] Gulaev N. A. Gulaiev. Lí luận văn học, nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Lê Ngọc Tân dịch, Hà Nội, 1982.

[5] Lưu Diễn Văn. Văn học khái luận, Tân văn nghệ xuất bản xã , Bắc Kinh, 1957.

[6] Dĩ Quần. Nguyên lí cơ bản của văn học, nxb Vă nghệ Thượng Hải, Thượng Hải, 1963.

[7] Xem: Tuyển tập Nguễn Lương Ngọc, Đại học quốc gia thph Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2004.

[8] Tổ bộ môn lí luận văn học các trường đại học sư phạm Hà Nội, Vinh và đại học tổng hợp. Cơ sở lí luận văn học, tập 1, Phần nguyên lí chung. Các tác giả ghi cuối các chương là Trần Văn Bính, Nguyễn Vịnh, Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Văn Hạnh,Lê Bá Hán, Hà Minh Đức.nxb Giáo dục, Hà Nội, 1969. 220 trang.

[9] Trương Tửu. Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1958. Trong sách Trương Tửu. Tuyển tập nghiên cứu phê bình, Nguyễn Hữu Sơn, Trịnh Bá Đĩnh sưu tầm, nxb Lao Động, Trung tâm văn hóa Đông Tây, Hà Nội, 2007.

[10] Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan. Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển 1, nxb Văn Sử Dịa, Hà Nội, 1957, tr. 13.

[11] Thuật ngữ giai cấp do người Nhật dịch,  Lương Khải Siêu đưa về Trung Quốc cuối thể kỉ 19, ông Đặng Thai Mai dịch là giiai tầng, sau đó theo Trung Quốc dều dịch là giai cấp.

[12] Đường Thao. Trung Quốc hiện đại văn học sử, Tập 1, Nhân dân văn học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1961. Tập 2 sách này phải đợi đến năm 1978 mới xuất bản.

[13] Từ điển văn học, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu chủ biên, nhiều tác giả, nxb KHXH, Hà Nội, tập 1, 1983, T. 2, 1984.

[14] Trường Chinh. Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948). Trong sách : Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Về văn hóa văn nghệ, nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 105.

[15]  Trường Chinh, Tldd, tr. +271 – 272.

[16] Trường Chinh, Tldd, tr. 256.

[17] Lenin V. I. Hai chiến lược của Đảng xã hội dân chủ trong cách mạng dân chủ, Tuyên tập, Tập 1, nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1972, tr. 621, tiếng Trung.

[18] Gulaiev N. A. Lí luận văn học, Tldd, tr. 180.

[19] Tố Hữu. Xây dựng một nền văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta. Nxb Văn học, Hà Nội, 1973, tr. 60 – 102

[20] Trường Chinh, Tldd, tr. 129.

[21] Trường Chinh, Tldd, tr. 231.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Tiếp nhận nguyên lí văn học là hình thái ý thức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc

  1. – Hình thái ý thức xã hội bao gồm rất nhiều hình thái phản ánh tồn tại xã hội hiện thực khách quan. Nếu đúng thì tiếp nhận nguyên lí văn học chỉ là một trong số nhiều hình thái ý thức xã hội.
    – Ý thức xã hội không thuộc kiến trúc thượng tầng. Nó là kết quả của việc phản ánh khách quan và chủ quan tồn tại xã hội hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người. Và từ đó kiến trúc thượng tầng ra đời.

  2. Pingback: Một góc nhìn: Tiếp nhận nguyên lí văn học là hình thái ý thức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc | CÓP NHẶT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s