Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam

Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam

Trần Đình Sử

Lí thuyết phản ánh (phản ánh luận) là nền tảng nhận thức luận của chủ nghĩa Mác Lênin chính thống ở các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời là nền tảng của lí thuyết nghệ thuật của các nước ấy trong một khoảng thời gian nhất định. Ở Nga nó lưu hành khoảng từ 1930 – 1990, ở Trung Quốc nó lưu hành trong khoảng từ 1949 đến 1990. Sau đó phản ánh luận không còn tồn tại ở Nga như một lí thuyết chủ đạo, Ở Trung Quốc tuy cùng tồn tại với chủ nghĩa Mác, song  vị thế đã thay đổi. Việt Nam đã tiếp nhận đầy đủ về phản ánh luận của Lênin và các nguyên lí nghệ thuật phát sinh từ đó. Chủ nghĩa Mác Lê nin không tự nảy sinh ở Việt Nam, mà do Đảng cộng sản Việt Nam  chủ động du nhập vào để hoạt động cách mạng, cải tạo xã hội, lãnh đạo văn nghệ. Khi du nhập vào phàn ánh luận đã đóng vai trò là lí thuyết nhận thức quan phương để giải thích các quy luật của văn nghệ. Trong chương này chúng tôi điểm lại quá trình tiếp nhận và các hệ quả lí thuyết của phản ánh luận tại Việt Nam  từ những năm 30 cho đến nay vẫn chưa kết thúc.

1.Phản ánh là đặc điểm của nhận thức và ý thức con người theo quan điểm triết học duy vật biện chứng. Nhận thức và ý thức được hiểu theo quan niệm này là sự phản ánh, tái hiện các đặc điểm, tính chất của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan, độc lập với ý thức của chủ thể. Quan niệm này do Lênin xác lập trong sách Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909), đã tổng kết và phát triển lí luận nhận thức của Marx và Engels, đồng thời phê phán lí thuyết nhận thức của hiện tượng luận của Max và Avenarius cùng các  nhà nghiên cứu Nga, được mang tên là “Phản ánh luận Lênin”. Quan niệm phản ánh của Lênin còn thể hiện trong  Bút kí triết học và một số bài phê bình sáng tác của L. Tolstoi. Lí thuyết phản ánh của Lenin nhìn trong tổng thể là một quan niệm  đúng dắn, biện chứng, duy vật, tính đến tính phưc tạp, năng động của nhận thức và nó cũng khẳng định ý thức không chỉ phản ánh, mà còn sáng tạo ra thế giới, quá trình phản ánh có nhiều dích dắc, có thể xa rời hiện thực, nhưng về bản chất, con người có khả năng nhận thức chân lí khách quan. Tuy vậy, quan niệm của Lênin cũng còn có nhiều chỗ chỗ khiếm khuyết, mâu thuẫn nghiêm trọng và chưa nhất quán hoàn toàn. Luận điểm cơ sở của ông xem phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi hình thức vật chất cũng như luận điểm xem cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan cho đến nay  đều chưa được các khoa học hữu quan  xác nhận. Luận điểm cái được phản ánh không bị phụ thuộc bởi sự phản ánh cũng tỏ ra không thuyết phục. Tuy nhiên, từ những năm 30 ở Liên Xô quan niệm ấy được giáo điều hóa bởi nhà triết học T. Pavlov, người Bulgari làm việc ở Nga. Các học giả A. Lunacharski, M.  Lifshitz, M. Rosental, I. V. Sergeevski[1]…là những người đầu tiến đưa phản ánh luận Lenin vào lí luân văn học xô viết. Họ đem phản ánh luận  đối lập với mọi lí thuyết nhận thức khác , mọi cách tiếp cận khác về nhận thức và nghệ thuật.  Các mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực”, “cảm giác của chúng ta là những hình tượng chủ quan của thế giới khách quan”, “văn học là tấm gương phản chiếu đời sống hiện thực”, “phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất”  trở thành  các nguyên lí bất di dịch. Cảm giác là hình tượng, là sự phản ánh, sao chép, tái hiện các sự vật đã tác động vào giác quan, do đó phản ánh là sự tương đồng, đồng hình với khách thể trong tính như thật[2]. Từ đó suy ra, phản ánh luận Lênin đem lại các nguyên lí văn học sau.  1. Trong quan hệ văn học với hiện thực văn học là sự phản ánh của nó, phụ thuộc vào nó về đề tài, chủ đề. Văn học phải phản ánh cho được bản chất đời sống, khuynh hướng vận động của xã hội, đặc biệt là các hiện tượng tiên tiến, tích cực. Các nguyên mẫu đời sống, người thật việc thật có vai trò to lớn trong sáng tác nghệ thuật.  2. Về đặc trưng nghệ thuật, nghệ thuật là sự phản ánh đời sống bằng hình tượng, vừa cụ thể, cảm tính, vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mĩ. 3. Về phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực là đỉnh cao nhất của tiến trình nghệ thuật, vì nó phản ánh đời sống dưới hình thức của bản thân đời sống, với tính chân thực, như thật. Các hình thức quy phạm, ước lệ đều xa rời đời sống. Chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng, cổ điển, Khai sáng, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực phê phán đều là các nấc thang từ thấp lên cao để tiến tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại. 4. Trong nghệ thuật sáng tạo điển hình là biểu hiện cao nhất của phản ánh chân lí đời sống trong nghệ thuật,  vì nó phản ánh cái phổ quát, cái bản chất xã hội và con người. 5. Trong phê bình, phản ánh hiện thực một cách chân thực là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá các sáng tác nghệ thuật. Lấy tính hiện thực làm thước đo tính chân thực của nghệ thuật. Xuyên tạc sự thật, bản chất chế độ, tô hồng, bôi đen đều là các lỗi không thể tha thứ của tác phẩm xét về phương diện phản ánh.  6. Thế giới quan và sự phản ánh đời sống trong nghệ thuật. Cải tạo thế giới quan thành thế gới quan vô sản, trau giồi vốn sống là điều kiện tiên quyết để phán ánh chân thật trong nghệ thuật. 7. Chức năng nhận thức của văn học, nghệ thuật.  8. Sự phản ánh đời sống nhân dân tất thể hiện tính nhân dân và tính dân tộc. Từ 8 điểm đó có thể thấy phản ánh luận Lênin  là nền tảng của các vấn đề quan trọng bậc nhất của lí thuyết văn học Mác xít, Leninit. Các quan điểm này thể hiện trong các công trình nghiên cứu và các giáo trình lí luận văn học của G. N. Pospelov, L. I. Timofeev, G. P. Abramovich, N. A. Guliaev, các công trình nghiên cứu của G. Fridlender, G. Nedosivin, V. Kemenov, V. R. Serbina, M. B. Khrapchenco, P. A. Nikolaev[3]…Phản ánh luận có tính hợp lí ở tầm vĩ mô, phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng của Mác,  tồn tại có trước ý thưc, ý thức là tồn tại được ý thức. Quan niệm phản ánh hiện thực có truyền thống lâu đời từ lí thuyết mô phỏng tự nhiên thời cổ đại, lí thuyết văn học là tấm gương đời sống có từ thời Phục Hung. Đề cao vai trò của hiện thực đối với văn học có tính hợp lí sâu sắc, vì hiện thực là cội nguồn của nội dung nghệ thuật. Tuy vậy các nguyên lí trên lại thường bị sơ lược hóa, giáo điều hóa, hạ thấp vai trò của chủ thể nhà văn. Trong quan hệ cụ thể giữa chủ thể nhận thức và khách thể đời sống lại là một khối quan hệ qua lại chằng chịt  rất phức tạp, không thể giản lược vào quan hệ giữa sự phản ánh và cái được phản ánh theo quan hệ nhân quả được, nhưng lại bị thuật ngữ “phản ánh” che lấp mất. Từ “phản ánh” có thể bị đem đối lập với biểu hiện, tưởng tượng, tái tạo, tương trưng, trong khi đó, nghệ thuật không chỉ phản ánh mà còn biểu hiện, sáng tạo, tái hiện, mô hình hóa, phiên dịch  hiện thực; nghệ thuật không chỉ tạo ra các sản phẩm giống như thật, mà con cả những sản phẩm khác xa hiện thực, trừu tượng, thể hiện cách hiểu riêng của chủ thể con người; nghệ thuật lại phản ánh qua một ngôn ngữ mang tính kí hiệu, ước lệ phức tạp. Xét về mặt này phản ánh luận nghệ thuật tuy có xác lập được quan hệ duy vật biện chứng trong quan hệ nghệ thuật đối với hiện thực, là một vấn đề có ý nghĩa cơ bản, song vẫn  sơ lược hóa  mối quan hệ nhiều mặt giưa nghệ thuật với hiện thực, dẫn đến chỗ hiểu sai bản chất của sáng tạo nghệ thuật. Nhược điểm chí mạng của nó là thủ tiêu hay giảm nhẹ vai trò của chủ thể trong sáng tạo. Vai trò của lựa chọn, đánh giá, tưởng tượng, thái độ đạo đức, năng lực kiến tạo đã không được tính đến đầy đủ. Nhược điểm thứ hai của nó là không nói được cơ chế sáng tạo của nghệ thuật. Nếu ý thức chỉ là phản ánh như sự sao chép, thì sự sáng tạo diễn ra như thế nào?  Nhược điểm thứ ba là nghệ thuật biểu hiện bằng ngôn ngữ đặc thù trong hoạt động giao tiếp liên chủ thể. Ngôn ngữ nghệ thuật, như mọi ngôn ngữ, chỉ có thể chỉ ra hiện thực, chứ không thể như tấm gương phản ánh hiện thực. Nói văn bản nghệ thuật phản ánh hiện thực là không đúng.  Nhược điểm thứ tư là nó không nói được lí do tại sao hình thức nghệ thuật phải đa dạng, phong cách nghệ thuật phải độc đáo, không lặp lại. Cũng cần phải nói thêm là , các vấn đề lí thuyết cơ bản ấy cùng các vấn đề liên quan trong suốt thời gian tồn tại mấy chục năm qua đều chưa hề được giải quyết triệt để về mặt lí luận. Chẳng hạn, đâu là tiêu chí đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực? Thế nào là tính chân thực nghệ thuât ? thé nào là điển hình nghệ thuật? Về thuật ngữ, theo nhà triết học Nga V. A. Lectorski “phản ánh” là một thuật ngữ không đạt, nó đề cao tính chủ động của hiện thực, hạ thấp vai trò chủ động của chủ thể, nói lên tính chất thụ động của nhận thức. Dù cho thuyết minh về tính tích cực, năng động, sáng tạo của phản ánh thế nào thì cũng không thể xóa bỏ tính không đạt của thuật ngữ này. Mặt khác Lênin lại khẳng định tính như thật của cảm giác, hình tượng, phản đối tính kí hiệu, tượng trưng của hình tượng, khiến cho một thời gian dài lí luận xô viết “kiêng” không nói về tính kí hiệu của văn học nghệ thuật, không nói về bản chất giao tiếp của nghệ thuật, và dị ứng với mọi nghệ thuật “không như thật”,  do đó lí luận xô viết về văn học nghệ thuật khó tránh khỏi phiến diện[4].  Chính vì vậy mà phản ánh luận không hề được các lí luận triết học và lí luận nghệ thuật thế giới, bao gồm chủ nghĩa Mác phương Tây thừa nhận. Có người nêu, lịch sử là cái hiện thực đã không còn tồn tại, tương lai là cái hiện thực chưa có, vậy nó tác động vào giác quan thế nào để con người phản ánh quá khứ và tương lai? Chính con người chủ động tìm kiếm, kiến tạo mới nhận thức được những hiện thực không tồn tại, chỉ tồn tại dưới dạng khả năng ấy. Tuy vậy dưới áp lực của ý thức hệ và tác động của quyền lực phản ánh luận đã trở thành diễn ngôn chính thống trong hoạt động nghệ thuật ở Liên Xô. Các nguyên lí lí luận trên đều được trình bày thấm nhuần trong các giáo trình lí luận văn học, trong các giáo trình văn học sử, trong hoạt đông nghiên cứu, phê bình văn học, khiến cho nó trở thành hệ hình khoa học chính thống của mọi tư duy về văn học nghệ thuật ở Liên Xô từ khoảng 1930 – 1991. Là nguyên tắc duy vật, phản ánh luận đã nếu vấn đề mới cho nghiên cứu văn học như tính hiện thực, nội dung hiện thực, giá trị hiện thực của văn học. Đó là sự phản ánh các quan hệ xã hội khách quan, các quy luật vận động của xã hội, các điển hình, các trạng thái tâm lí và ngôn ngữ nhân dân… Có quan niệm nghiên cứu gán ghép,dung tục, xem miêu tả hiện thực là quy luât phổ biên của văn học từ cổ chí kim, tác phẩm nếu không miêu tả hiện thực tức là “phản hiện thực” (G. Nedosivin). Một thời gian dài, người ta hình dung lịch sử văn học theo sơ đồ phản ánh hiện thực và phi (phản hiện thực) như vậy. Sau năm 1957, quan niệm giản lược hóa lịch sử văn học  này được khắc phục. xác nhận chủ nghĩa hiện thực là sản phẩm của lịch sử. Nếu văn học nào cũng phản ánh hiện thực, thì đặc trưng của cái văn học được gọi là hiện thực là gì? Có người hiểu miêu tả hiện thực chỉ xuất hiện khi nào phương tiện miêu tả đi gần với đối tượng miêu tả (V. Vinogradov, D. X. Likhachev). Tất nhiên từ sau năm 1956, nhất là từ cuối những năm 60 lí thuyết văn học Liên Xô đã bổ sung các vấn đề mới như cá tính sáng tạo, thi pháp học, phong cách học, kí hiệu học, làm cho cách hiểu phản ánh hiện thực uyển chuyển hơn, bao quát hơn. Các công trình của M. Khrapchen co đã mở rộng quan niệm văn học ra ngoài phạm vi phản ánh, bao gồm tính kí hiệu, sự đa dạng của hình thức, sự tiếp nhận của người đọc. Sau 1991 hầu như không còn ai còn nói đến phản ánh luận Lenin nữa. Theo Khalizev, lí luận văn nghệ Mác Lênin  chỉ tồn tại ở Nga trong khoảng 60 năm , từ 1930 đến 1990.

2.Lí thuyết văn học phản ánh, mô phỏng hiện thực truyền vào Trung Quốc từ thời Ngũ Tứ và những năm 20 thế kỉ XX.  Mao Thuẫn là người đầu tiên nói đến “văn học phản ánh hiện thực” trong các bài viết chủ trương văn học vị nhân sinh trong tinh thần của Plekhanov. G. Plekhanov là người đầu tiên nêu quy luật văn học phản ánh đời sống xã hội bằng hình tượng.  Khi Hội nhà văn Tả Liên ra đời những năm 30 lí thuyết phản ánh được phổ biến rộng rãi. Trong các bài phát biểu Cù Thu Bạch, Chu Dương, Hồ Phong  đều nói văn nghệ là sự phản ánh đời sống xã hội, từ đó mà bàn về tính chân thật, phương pháp sáng tác. Trong bài nói chuyện tại Diên An năm 1942 Mao Trạch Đông cũng nói : “Tác phẩm văn nghệ là sản phẩm của sự phản ánh đời sống xã hội nhất định vào trong đầu óc của loài người. Văn nghệ cách mạng là sản phẩm của đời sống nhân dân phản ánh trong đầu óc nhà văn nghệ cách mạng.”, “Đời sống được phản ánh trong văn nghệ lại có thể và cần phải cao hơn, mãnh liệt hơn, tập trung hơn, điển hình hơn, lí tưởng hơn đời sống thực tế, và do đó mà có tính chất phổ biến hơn”[5]Có thể nói đây là quan điểm phản ánh luận năng động và biện chứng. Tuy nhiên trong thực tế quan niệm phản ánh lại được hiểu thô sơ, cơ giới hơn nhiều.Từ năm 1949 lí luận văn học Trung Quốc đều lấy nguyên lí phản ánh  để giải thích bản chất của văn nghệ, coi đó là quan điểm có tính ý thức hệ vô sản, ngược lại là duy tâm, tư sản, phái hữu. Điều này thấy rõ trong các giáo trình lí luận văn học của Dĩ Quần (1950), Sài Nghi (1950). Các nhà lí luận quan phương như Mao Thuẫn, Chu Dương, Thiệu Thuyên Lân.. đều dùng phản ánh luận để định nghĩa bản chất của văn nghệ. Nhà lí luận văn học Dĩ Quần viết: “Văn học là sự phản ánh của hiện thực, đó là một quy định cơ bản. Nếu văn học là một tấm gương, thì đời sống hiện thực ở bên ngoài tấm gương. Chỉ cần tấm gương phản ánh hình tượng của chúng, hình ảnh trong tấm gương đó là tác phẩm văn học”.   Mao Thuẫn nói: “Hạt nhân của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa là căn cứ vào luận để phản ánh để sáng tác nghệ thuật. Đó là cái điểm chung của chủ nghĩa hiện thực qua các giai đoạn.”  Chu Dương nói: “Văn học là hình thái thuộc thượng tầng kiến trúc, là  sự phản ánh của cơ sở kinh tế, là khí quan thần kinh của đấu tranh giai cấp.” Toàn bộ đời sống văn học được nhìn nhận, đánh giá qua nguyên lí phản ánh.  Nhà nghiên cứu Chu Lập Nguyên trong bài Nhìn lại và suy ngẫm có tính lịch sử về quan niệm văn nghệ phản ánh luận(1997) có nói: “Quan niệm văn nghệ phản ánh luận đóng vai trò hạt nhân trong quá trình xây dựng và phát triển của hình thái lí luận văn nghệ hiện đại của Trung Quốc. Từ thời Ngũ Tứ đến nay, hầu như mỗi lần có tranh luận tương đối lớn về văn nghệ  đều lien quan trực tiếp đến phản ánh luận. Có thể nói quá trình xây dựng và phát triển của lí luận văn học Trung Quốc đều đồng hành, cùng vận mệnh  với lí luận phản ánh. Xa rời quan niệm văn nghệ phản ánh hiện thực đều không thể hiểu và giải hích được quá trình hình thành, phát triển, sự cấu tạo, mạch logich, mối quan hệ của nó đói với chính trị, hình thái ý thức xã hội. Do đó sự phát triển của quan niệm phản ánh, thịnh suy của nó, được mất của nó đều có ý nghĩa quyết định diện mạo, số phận của lí luận văn học Trung Quốc. Đó là một sự thật không thể chối cãi.[6]” Quả đúng như thế. Lí thuyết phản ánh là cơ sở để phê phán các thứ lí thuyết tư sản trong đấu tranh chống phái hữu, là cơ sở để đấu tranh chống xét lại hiện đại, là cơ sở để tranh luận về phương pháp sáng tác, về tính chân thật của văn học. Nhưng trong thực tiễn sang tác thì nhấn mạnh chủ nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng, mà hai chủ nghĩa đó thực chất là miêu tả hiện thục theo viễn cảnh cách mạng, tức là lãng mạn hóa, lí tưởng hóa theo lối ý chí luận.  Từ sau năm 1980, lí thuyết phản ánh trong văn nghệ luôn bị phê phán và chất vấn. Không ai là không thấy nhược điểm của lí thuyết này đối với sáng tác nghệ thuật, dù là người muốn bảo vệ nó[7]. Quan niệm văn nghệ biểu hiện tâm tình con người, lí thuyết về chủ thể sáng tạo văn học, lí thuyết bản thể luận văn học, lí thuyết đối thoại – liên chủ thể, lí thuyết diễn ngôn… đều làm lung lay tận gốc quan niệm văn học phản ánh hiện thực chỉ lấy quan hệ chủ thể – khách thể làm nền tảng. Một số người như Tiền Trung Văn, Đồng Khánh Bính phát triển quan niệm “văn nghệ là hình thái ý thức thẩm mĩ của xã hội”, để khắc phục các nhược điểm của phản ánh luận trực quan, cơ giới, chuyển phản ánh luận sang phạm trù hình thái ý thức xã hội đặc thù, một phạm trù của Mác, trên thực tế là  quan niệm phản ánh luận của Lênin đã được thay đổi, mở rộng, phát triển thêm , không còn như cũ nữa. Bây giờ hầu hết giáo trình lí luận văn học của Trung Quốc đều không nói đến phản ánh luận Lenin như cũ nữa, không có chương mục nào nói đến  phản ánh luận hoặc hai từ “phản ánh”[8].

3.Phản ánh luận ở Việt Nam được tiếp nhận khá muộn. Trong các bài viết của Hải Triều tuy có lần xuất hiện từ “phản ánh”, có nói đên chủ nghĩa tả thực, chủ nghĩa tả thực xã hội, nhưng lập luận của ông ở mối quan hệ hình thái ý thức ở thượng tầng kiến trúc với cơ sở kinh tế, mà “cơ sở kinh tế quyết định trực tiếp” (sic), chứ không nói đến quan hệ chủ thể – khách thể. Văn học khái luận của Đặng Thai Mai cũng như Hải triều chủ yếu tiếp nhận các nguyên lí của Plekhanov, Bukharin mà chưa biết đến tư tưởng cuả Lênin. Từ Đề cương văn hóa (1943) đến báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948)cũng chưa thấy rõ nét tư tưởng Lenin. Phải bắt đầu từ Báo cáo trước Đại hội Đảng lần thứ 2 1951, Đại hội văn nghệ lần thứ hai (1957) và đại hội lần thứ ba Hội văn nghệ Việt Nam (1963) thì tư tưởng văn nghệ Mác – Lenin mới được thể hiện ngày càng đầy đủ. Tuy nhiên trong các bài nói chuyện của mình Trường Chinh thường nói đến thuật ngữ “Phản ánh” xen lẫn với thuật ngữ miêu tả, biểu hiện, nghĩa là không dung phản ánh theo nghĩa chặt chẽ về triết học.  Mỗi  khi nói đến quan hệ văn nghệ với đời sống ông đều dùng từ “miêu tả”, “biểu hiện”, rất giản dị mà thích hợp với câu chuyện văn nghệ. Khi dẫn bài Tổ chức Đảng và van học Đảng ông chỉ nói đến văn nghệ tự do, không được cào bằng, san đều, mà không dẫn cái bánh xe và cái đinh ốc. Trường Chinh hầu như không có chỗ nào nói đến phản ánh luận như là lí thuyết nhận thức cả. Ngay khi nói về chủ nghĩa hiện thực ông cũng chỉ nói “chủ nghĩa hiện thực là miêu tả thực tế”. Tuy vậy tinh thần phản ánh luận thấm nhuần vào những gì ông nói về mối quan hệ giữa văn nghệ và đời sống xã hội. Ông chủ trương văn nghệ thể hiện sự thật đời sống, chống chủ nghĩa khách quan, phản đối chủ nghĩa tự nhiên, chống chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa lãng mạn thoát li đời sống xã hội, chống các thứ nghệ thuật suy đồi. Về nhận thức ông yêu cầu nhà văn nghệ phải có tầm mắt con đại bàng, biết nhìn xa trông rộng, không sa vào các hiện tượng bề ngoài mà không thấy bản chất, xu hướng đi lên của xã hội. Từ đó ông hướng các nhà nghệ sĩ đi vào thực tê để  miêu tả con người mới, cuộc sống mới với  những vận động đi lên chủ nghĩa xã hội. Ông kêu gọi các nghệ sĩ ca ngợi những con người mới, những anh hung của xã hội ta, nhân dân ta. Phản ánh luận được dùng làm một cơ sở ý thức hệ cho các quan điểm cơ bản về văn nghệ. Nói cho đúng, phản ánh luận là lí thuyết có tính khách quan, nó như con dao hai lưỡi, một mặt đòi hỏi phải phản ánh sự thật, không che đậy, nhưng mặt khác, yêu cầu của cách mạng chỉ cho phép nói cái tốt, không được nêu những sự thật bất lợi đối với cách mạng, do đó, ông không nói nhiều về phản ánh luận mà nói nhiều đến cải tạo thế giới quan cũng có cái lí của nó. Chính vì vậy, Đảng luôn yêu cấu có một thế giới quan, có tính đảng trong việc phản ánh hiện thực.

3.1.Phản ánh luận với tư cách là lí thuyết về nhận thức chủ yếu được trình bày trong mấy cuốn giáo trình lí luận văn học, như Sơ thảo lí luận văn học của Nguyễn Lương Ngọc (1958), Cơ sở lí luận văn học (1965 – 1969) do ông chủ biên, Nguyễn Vịnh viết; trong sách Mấy vấn đề lí luận văn học, bài do Trần Văn Bính viết, trong giáo trình lí luận văn học Đại học sư phạm do Phương Lựu viết. Nguyễn Lương Ngọc là người viết kĩ nhất. Ông dùng 40 trang lớn để viết về “Văn học phản ánh hiện thực”. Ông nói định nghĩa về văn học mà quên văn học phản ánh hiện thực là không được. Hiện thực đó bao gồm xã hội, tự nhiên phản ánh vào trong ý thức con người, bao gồm tính giai cấp, tính nhân dân, chống chủ nghĩa chủ quan, chống chủ nghĩa khách quan[9]. Các tác giả Việt Nam đã trình bày phản ánh luận  theo đúng nhận thức của các nhà lí luận xô viết, Trung Quốc, khẳng định tính chất biện chứng, năng động, phức tạp của sự phản ánh, nhưng thường ít đi sâu vào phương diện lí thuyết, mà sử dụng nó như là những luận cứ khoa học, những tín điều ý thức hệ để khẳng định hệ thống các quan điểm của Đảng cộng sản về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, khẳng định chủ nghĩa hiện thực, phê phán chủ nghĩa tự nhiên, các trào lưu suy đồi, chủ nghĩa lãng mạn như là các hiện tượng không đúng với quy luật phản ánh hiện thực. Nói một cách khác , các nhà lí luận của chúng ta tiếp nhận lí thuyết phản ánh như là một hệ thống quan điểm tư tưởng, lập trường Mác Lenin có sẵn, một điều mà mọi người đều phải thấm nhuần và quán triệt, cho nên ai cũng nói những điều như nhau,  nếu nói chệch đi thì mất lập trường, rơi vào quan điểm duy tâm, siêu hình, tư sản, phi mác xít. Không ai tiếp nhận nó như là một vấn đề học thuật thuần túy. Điều này là hợp quy luật, bởi vì chủ nghĩa Mác Lenin đã biến thành một ý thức hệ chính trị, thì mọi sự học tập, trình bày, giảng dạy lí luận đều mang tính chất là một vấn đề chính trị, không còn là học thuật nữa. Thứ hai, đã là ý thức hệ thì nó bị sơ lược hóa, công thức hóa cho dễ nhớ, dễ thuộc, dễ vận dụng, áp dụng.

3.2.Tuy vậy, là nguyên tắc duy vật phản ánh luận đã nêu ra phương hướng mới cho nghiên cứu văn học, khám phá mối quan hệ văn học và đời sống xã hội, một vấn đề mà các nghiên cứu văn học trước 1945, các tác phẩm như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan , Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm không hề có. Từ sau năm 1954, các nhà nghiên cứu đi tìm nội dung hiện thực, tính hiện thực, giá trị hiện thực của các tác phẩm. Nhiều người đã đi tìm giá trị hiện thực của các tác phẩm cổ diển như Phạm Tải Ngọc Hoa, Trê Cóc, Truyện Kiều…. chỉ ra các quan hệ xã hội đằng sau quan hệ nhân vật, ví dụ quan hệ bọn cường hào và người bị áp bức, bọn quan lại tham nhũng, tác phẩm phản ánh tâm lí nhân vật phản ánh ngôn ngữ nhân vật. Quả tình đó là những nhận thức mới. Tất nhiên cũng có các biểu hiện dung tục, gán ghép thô thiên, như các bài của Minh Tranh, Trần Đức Thảo và đặc biệt là cuốn Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) của Trương Tửu. Trong cách hiểu đó, Kiều là đại diên cho tiểu phong kiến, Từ Hải là nông dân khởi nghĩ, Thúc Sinh là con buôn, Kiều dụ Từ Hải hàng là tiếp tay cho đại phong kiến…Dần dần sự phân tích tính hiện thực văn học được nhuần nhị, sâu sắc, khắc phục các dung tục.  Đã xuất hiện nhiều tác phẩm phân tích sâu sắc như các công trình nghiên cứu về Nam Cao, Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng…Dù vậy, tính hiện thực, giá trị hiện thực chỉ là một mặt, chứ không thể là toàn bộ nội dung của văn học nghệ thuật được. Điều này cũng giống như sáng tác của Tolstoi không thể chỉ là tấm gương của cách mạng Nga.  Nếu chỉ đi tìm sự phản ánh hiện thực thì nội dung quan niệm, tình cảm, giá trị thẩm mĩ sẽ bị coi nhẹ. Tuy vậy, sự sùng tín nguyên lí phản ánh hiện thực một cách trực quan cũng để lại những thói quen tiếp nhận văn học dung tục, bỏ quên tính ước lệ nghệ thuật. Ví như có người hiểu câu thơ “ Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” trong bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến là hoa năm ngoái khô đi còn đeo lại trên cành!  Đó là cách cảm thụ tác phẩm một cách hiện thực ngây thơ.

3.3. Vấn đề văn học phản  ánh hiện thực. Mặc dù thuật ngữ “hiện thực chủ nghĩa” đã do Sanfleury đề xuất từ năm 1857, nhưng sơ lược,  rồi được Engels bàn đến một cách sâu sắc trong bức thư gửi M. Hacknesse năm 1888, song phản ánh luận được coi là cơ sở triết học cho chủ nghĩa hiện thực, bởi vì bản chất của văn học là phản ánh hiện thực. Giorgi Lukacs là người vận dụng lí luận Mác xít để kiến tạo lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực. Tại Liên Xô và Trung Quốc đã có quan niệm mọi văn học đều phản ánh hiện thực, nếu xã rời hiện thực thì đó là văn học “phản (phi) hiện thực”. Từ năm 1957, sau cuộc thảo luận tại Viện văn học thế giới mang tên Gorki, quan niệm ấy được khắc phục, thay vào đó là quan niệm xem chủ nghĩa hiện thực là một sản phẩm lich sử, xuất hiện trên cơ sở những tiền đề lịch sử nhất định. Hầu hết các nhà lí luận ở Việt Nam đều tiếp nhận quan điểm này. Từ Lê Đình Kỵ, Hồng Chương, đến Đỗ Đức Dục, Nguyễn Đức Đàn…đều tiếp nhân quan điểm lịch sử như thế. Tiêu chí chủ nghĩa hiện thực, là phản ánh hiện thực một cách khách quan, chân thực. F. Engels nêu ra “ngoài sự chân thực của các chi tiết, còn đòi hỏi sáng tạo tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” được tiếp nhận phổ biến. Sau này, trong công trình Số phận của chủ nghĩa hiện thưc của Boris Suchkov, tiêu chí chủ nghĩa hiện thực được bổ sung, gồm, sự phân tích xã hội đối với các hiện tượng và quá trình đời sống; tính đa diện trong sự miêu tả tính cách con người; điển hình hoá; nguyên tắc lịch sử, nguyên tắc khách quan[10]. Song trong thực tế vẫn ngự trị quan điểm, xem phản ánh hiện thực một cách khách quan vẫn là giá trị cao nhất trong văn học. “Khách quan” được hiểu là thể hiện sự thật, không phải ngụ ý, không phải huyền thoại, không phải cổ tích, không phải mộng ảo, không phải quái dị, hoang đường khó tin,không li kì ít có khả năng. Vì thế Hồng Chương vẫn xem vở kịch  Oreste của Eschille và Iliade của Homere là phản ánh hiện thực, vì phản ánh sự thắng thế của khuynh hướng phụ  hệ trước tư tưởng mẫu hệ[11]. Lê Đình Kỵ và Đỗ Đức Dục vẫn đi tìm chủ nghĩa hiện thực trong tác phẩm Truyện Kiều, trong sáng tác thời đại Nguyễn Du[12] trong tâm thức xem chủ nghĩa hiện thực bản thân nó là một giá trị trong sáng tác văn học. Chứng mình chủ nghĩa hiện thực trong tác phẩm nào, có nghĩa là khẳng định giá trị cao của tác phẩm ấy. Quyển sách của Lê Đình Kỵ, do tài năng của ông là một đóng góp quý báu vào việc phân tích thế giới nhân vạt trong Truyện Kiều theo thi pháp hiện thực. Sau này Trần Đình Hượu sẽ chứng minh, nhìn hiện thực từ phía tâm, chí thì sẽ không có khả năng phản ánh hiện thực theo chủ nghĩa hiện thực[13].

3.4.Lí thuyết phản ánh dẫn đến nhìn nhận văn học theo đề tài, con người mới, cuộc sống mới theo nhận thức của lãnh đạo, coi như định hướng cho sáng tác. Quan niệm này  trên thực tế là một sự hạn định đối với sáng tác. Nhà văn Nguyễn Khải có lần nói, định hướng sáng tác như thế, nhưng khi đi vào thực tế thấy khác, nếu viết như mình thấy thì ngược với chỉ đạo, mà gắng gượng viết theo chỉ đạo thì kết quả là giả tạo. Ông đã từng viết bài Cái thời lãng mạn ấy để tự chế nhạo mình. Việc chỉ đạo sáng tác theo nguyên lí phản ánh có hạn định đối với nhà văn Nguyễn Minh Châu là một cái hành lang hẹp, gò bó sức sáng tác. Thực tế cho thấy phản ánh hiện thực theo chỉ đạo tuy đem lại hiệu quả tuyên truyền, song  ít đem lại thành quả  nghệ thuật vững bền. Có sáng tác phản  ánh công cuộc hợp tác hóa như Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm thì với thời gian, giá t rị của nó khó tránh khỏi sự hòai nghi. Các sáng tác theo đề tài như viết về công nhân, nông dân, bộ đội, các lãnh tụ, các anh hùng…trong thực tế sẽ đóng góp về mặt tyên truyền nhiều hơn là về mặt nghệ thuật và thẩm mĩ (Đất nước đứng lên, Dấu chân người lính…). Trong mảng đề tài về chiến tranh, vào những năm cuối 70, nhiều nhà văn và phê bình đã bày tỏ thái độ không hài lòng với thực tế sáng tác né tránh sự thật. Nhà phê bình Thiếu Mai trong bài Sức thuyết phục  mạnh mẽ của sự chân thực viết về Kí Sự miền đất lửa, đã phê phán thái độ né tránh sự thật của nhiều tác phẩm[14].  Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong Sổ tay viết văn (1971) đã nói các tiểu thuyết và thơ ca của ta đã tráng một lớp men trữ tình khá dày, óng chuốt khiến người ta ngờ vực[15].  Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến nói đến “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” vì nó chỉ thiên viết về cái cao cả, viết về cái cần phải có, chứ không phải viết về cái hiện có[16]. Tình trạng đó nói lên sự vi phạm nguyên tắc về phản ánh hiện thực trong thực tế sáng tác.  Điều đó hoàn toàn đúng với thực chất của lí thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, một phương pháp ngay từ đầu đã chủ trương viết về tiến trình cách mạng của hiện thực, nghĩa là viết về cái điều mà hiện thực đang vươn tời, sẽ trở thành, cho nên thực chất văn học hiện thực xã  hội chủ nghĩa ấy là văn học lãng mạn cách mạng, thể hiện lí tưởng nhiều hơn  là phản ánh hiện thực.  Còn nhớ M. Gorki từng nói: “chủ nghĩa lãng mạn là tên gọi khác của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. “. Đó là nghịch lí của phản ánh luận trong cơ chế ý chí luận thuộc các nước do đảng lãnh đạo như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam.

3.5 Vấn đề diển hình trong chủ nghĩa hiện thực. Trong nhiều báo cáo Trường Chih đều nói Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi điển hình hóa cao độ.Ở Việt Nam mọi người đều hiểu điển hình là một quy phạm của chủ nghĩa hiện thực, bát đầu từ ý kiến của V. Bielinski, F. Engels, M. Gorki, Lỗ Tấn. Thuật ngữ điển hình là chiếc cầu nối liện hiện tại với tương lai, hiện thực và lí tưởng. Theo khảo chứng của R. Wellek, thuật ngữ này có một lịch sử phức tạp. Lúc đầu chỉ các nhân vật có ý nghĩa phổ biến, thể hiện trong các nhân vật huyền thoại như Fauste, Hamlet, Prometee, hiểu như một loại hình, mẫu gốc nguyên thủy.sau chuyển thành sự mô phỏng một tính cách xã hội như Oblomov, con người thừa, nhưng cơ sở của nó vẫn là những tính cách cụ thể, không lặp lại trong nghệ thuật. Engels nhấn mạnh điển hình tiêu biểu cho tầng lớp xã hội. Gorki nhấn mạnh diển hình tiêu biểu cho loại người. rường Chinh phân biệt sự thật điển hình và không điển hình. Sự thật cs lợi và không có lợi; điển hình là những nét nổi bật nhất, quan trọng nhất, bản chất nhất trong đời sống được tập trung sáng tạo nâng cao của nghệ sĩ. Điều quan trọng là sang tạo ra những điển hình làm gương mẫu cho lói sống và làm việc cuuar nhân dân ta, làm gương cho hôm nay và cho mai sau. Điển hình gắn với tính khunh hướng, tính tư tưởng, tính đảng. Các diển hình như nhân vật chính trong Bất khuất, Sống như anh đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong thời kì chiến tranh ác liệt. Nhưng tính lí tưởng, sự cường điệu cũng dần dần khiến cho sức thuyết phục bị giảm sút..

3.6..Lí thuyết phản ánh để lại dấu ấn nặng nề nhất trong phê bình văn học. Nhiều tác phẩm bị phê bình là xuyên tạc thực tế, bôi đén chế độ, hoặc thể hiện thế giới quan lạc hậu, xa rời đời sống của quần chúng, như tác phẩm Sắp cưới của Vũ Bảo, Phá vây của Phù Thăng, , Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm,  Vào đời của Hà Minh Tuân, Sương tan của Hoàng Tiến và nhiều tác phẩm khác như Đối mặt, Vòng trắng, Đêm đợi tàu, Cái gốc…Ngày nay đọc lại không thấy các tội lỗi nặng nề mà một thời đã  quy kết cho các tác giả. Trong trường hợp này các nhà phê bình thường nhân danh hiện thực, nhân danh quần chúng nhân dân, nhân danh thời đại  để lên án các tác phẩm, mà không xuất phát từ thực tế.

3.7.Lí thuyết phản ánh làm cơ sở cho chức năng nhận thức của văn học.   Văn học phản ánh hiện thực có vai tò truyền bá kiến thức, giúp con người hiểu hiện thực cả  trong bề rộng lẫn bề sâu, cả chi tiết, sự kiện lẫn tâm tư tình cảm. Các giáo trình đều nêu, văn học giúp con người nhận thức cuộc sống bằng cách phản ánh trung thực những quan hệ xã hội, văn học miêu tả đi sâu từng số phận, cảnh ngộ, tâm tư thầm kín của con người… Nhược điểm ở đây là cái nhìn một chiều, chỉ thấy văn học cung cấp bức tranh xã hội, mà không tính đến khả năng tiếp nhận, lựa chọn, tin hay không tin, hoài nghi và đánh giá riêng của người đọc.  Phản ánh luận chỉ mới xét về việc cung cấp bức tranh hiện thực, mà tiêu chí tính chân thực, thế nào là tính chân thực ghệ thuật vẫn chưa được bàn luận kĩ. Ở Nước ngoài , nhà lí luận Ba Lan

Roman Ingarden trong sách Nghiên cứu về mĩ học (1962) nêu ra 40 cách hiểu khác nhau về tính chân thực. Nhà nghiên cứu Trung Quốc Chu Lập Nguyên trong sách Cảm ngộ về sự thật (1982) cũng nêu ra hàng loạt quan hệ  tạo nên tính chân thực. Vì thế chỉ nguyên lí phản ánh hiện thực ở bình diện triết học, nhận thức luận chưa  làm rõ được chức năng nhận thức của văn học. Các tác phẩm phổ biến một thời như Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, Sống như anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm sung của Nguyễn Thi… phát huy giá trị nhận thức một thời, nhưng xét ra sự nhận thức ấy chỉ ở một số phương diện, thiếu tính chất đa diện, và thiếu bền vững.

3.8.Lí thuyết phản ánh đề cao chủ nghĩa hiện thực, phê phán các trào lưu nghệ thuật không phản ánh như thật, kết qua là chúng ta bài xích, phê phán hầu hết các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa phương Tây. Việc dựa vào nguyên lí văn học phản ánh hiện thực để phê phán tràn lan tất cả các trào lưu nghệ thuật hiện đại thể hiện sự đồng nhất giản đơn bình diện triết học với các bình diên nghệ thuật, đề cao hình thức phản ánh như thật có từ thời cổ xưa với nguyên tác mô phỏng tự nhiên. Đối lập ý thức và tồn tại, xác lập cái nào có trước, cai nào có sau là yêu cầu của tư duy triết học, còn trong thực tiễn sáng tạo nghệ thuật, ý thức và chất liệu đời sống, hiện thực và lí tưởng, chủ quan và khách quan hòa trộn trong hoạt động hư cấu, sáng tạo, Vì thế áp dụng quan niệm triết học vào phê phán các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa là không thỏa đáng. Theo nghiên cứu của R. Wellek trong bài Khái niệm chủ nghĩa hiện thực trong nghiên cứu văn học khái niệm chủ nghĩa hiện thực có cội nguồn từ lí thuyết mô phỏng tự nhuên thời cổ đại chấu Âu. Tự nhiên, tồn tại, thực tại, chân lí, chân thực là những từ đồng nghĩa. Theo dõi việc sử dụng thuaatjnguwx chủ nghĩa hiện thực từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX Wellek thấy rằng đó là một trào lưu nghệ thuật lớn, có hạn chế, có khuyết điểm, có quy phạm của nố. Các quy phạm như miêu tả  hiện thực một cách khách quan, quan điểm lịch sử, xây dựng điển hình, chi tiết chân thực, tuy đều được nói nhiều, nhưng hiểu khác nhau. Không một nhà văn hay tác phẩm hiện thực chủ nghĩa nào bao hàm đủ các tiêu chí ấy[17] E. Auerrbachs không chấp nhận chủ nghĩa hiện thục mà lại có sự thueeys giáo, dạt đời. Vì thế trong sách của mình ông không nói đến tolstoi và nhiều nhà văn Nga khác. Tuy vậy một thời gian dài có khuynh hướng nêu các tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực quá chật. và cứng nhắc.  Theo nhà nghiên cứu người Anh  Damian Grant trong sách Chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực từ thế kỉ XIX đã có khuynh hướng mở rộng. Theo ông có rất nhiều loại chủ nghĩa hiện thực . Ngoài chủ nghĩa hiện thực phê phán , chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa còn có các thứ chủ nghĩa hiện thực tâm lí, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa hiện thực động, chủ nghĩa hiện thực ngoại tại,  chủ nghĩa hiện thực quái đản,  chủ nghĩa hiện thực quy phạm, chủ nghĩa hiện thực lí tưởng, chủ nghĩa hiện thực hạ tầng, chủ nghĩa hiện thực mỉa mai, chủ nghĩa hiện thực thời chiến, chủ nghĩa hiện thực ngây thơ, chủ nghĩa hiện thực dân tộc, chủ nghĩa hiện thực tự nhiên, chủ nghĩa hiện thực khách quan,  chủ nghĩa hiện thực lạc quan, chủ nghĩa hiện thực bi quan, chủ nghĩa hiện thực tạo hình, chủ nghĩa hiện thực thi vị, chủ nghĩa hiện thực đời thường, chủ nghĩa hiện thực truyền kì, chủ nghĩa hiện thựcchủ quan, chủ nghĩa hiện thực siêu chủ quan,  chủ nghĩa hiện thực châm biếm, chủ nghĩ hiện thực ảo tưởng[18]. Quan niệm này đã phiếm hóa khái niệm chủ nghĩa hiện thực. Cũng giống như R. Garaudy trong Chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến, đã lập luận rằng, mọi nghệ thuật chân chính đều phản ánh hiện thực, đều chân thực. Ông đưa P. Picasso, Sainte Jon Perse, F. Kafka vào hàng chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa là hình thức “thể hiện sự có mặt của con người”. Một quan niệm khá rộng về chủ nghĩa hiện thực cũng được thể hiện trong sách Mimesis của E. Auerbach[19] Đúng như nhà Mác xit người Anh, Terry Eagleton đã nói, khái niệm chủ nghĩ hiện thực không bờ bến là không khoa học. Nếu một con sông mà không có đôi bờ thì nó khác gì cái hồ, biển cả, không có bờ thì đâu còn là con sông. Chủ nghĩa hiện thực mà không có giới hạn thì nó không còn là một khái niệm khoa học nữa. Nhưng khái niệm chủ nghĩa hiện thực cũng có tính lịch sử của nó. Thời của khái niệm cứng nhắc đã qua rồi. Một quan niệm phiếm hóa như thế làm giảm bớt sự đối lập gay gắt giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại.  Ở Việt Nam tiểu thuyết Lâu đài của F. Kafka đã được dịch ra tiếng Việt và được coi như một tác phẩm phản ánh hiện thực tha hóa của con người (quan điểm của Garaudy). Hiện tại, với sự giới thiệu chủ nghĩa hiện đại, văn học phi lí, văn học hiện sinh, văn học hậu hiện đại, có thể không xem là “chủ nghĩa hiện thức  vô bờ bến”, nhưng, sự đối lập như nước với lửa, một mất một còn giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại đã không còn nữa. Trong thời những năm 70, Hà Minh Đức khi nói đến thơ trữ tình trong sách  Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, ông đã nói đến hiện thực khách quan và hiện thực tâm trạng. Nếu tâm trạng cũng là hiện thực thì giấc mơ cũng có thể là hiện thực, dòng ý thức cũng có thể là hiện thực. và như thế khái niệm hiện thực được mở rộng, phiếm hóa. Chúng ta không chấp nhận xóa nhòa các ranh giới, hủy bờ bến, song dần dần không còn thái độ đối lập, thù địch đối với chủ nghĩa hiện đại, tức là khẳng định sự đa dạng trong phản ánh hiện thực. Điều này phù hợp với những gì đã diễn ra ở Liên Xô những năm70, 80 và ở Trung Quốc sau năm 80.

[1] A. Lunarrcharski. Lenin và nghiên cứu văn học (1932), Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (1933), Chủ nghĩa Mác và văn học (1924); Lifshitx, Lenin và vấn đề văn học (1934), Chủ nghĩa Lenin và phê bình văn học (1936); Rosental, Phê bình và phân tích xã hội kiểu mác xít (1936); Sergeevski, Xã hội học và vấn đề văn học sử (1935)…

[2] Xem V. I. Lenin, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960,  tr. 20, 52, 79, 87, 113, 123, 127 – 128, 135, 165, 167, 321, 322…

[3] V. R. Serbina, Lenin và những vấn đề văn học, M., 1961; Vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, 1957; V. I. Lenin và văn học nghệ thuật, M., 1957;

  1. B. Khrapchenco, Lenin bàn về văn học, 1934; Những vấn đề lí luận văn học, 1958; Cá tính nhà văn và sự phát triển của văn học, M., 1970; Sáng tạo nghệ thuật, nghệ thuật, con người, M., 1976…
  2. A. Niclaev, Sự hình thành nghiên cứu văn học Mác xít ở Nga, M., 1970; Nghiên cứu văn học theo quan điểm Mác Lê nin, M., 1983; Chủ nghĩa hiện thực với tư cách là phuwowngphaps sang tác, M., 1975.

[4] Bản then Leenin, cũng như L. Tolsstoi, rất thù địch với các nghệ thuật hiện đại. Ông nói với Klarra Setkin00: “Nếu một vật là đẹp thì cần phải giữa gìn nó. Lấy nó làm mẫu mực, phỏng theo nó, dẫ nó có cũ đi nữa, . Tại sao lại ngoảnh mặt đi không muốn nhìn một vật thật sự là đẹp,  tại sao lại không lấy nó làm xuất phát điểm của bước tiến triển tương lai chỉ vì sự vât ấy đã cũ? Tại sao lại tôn thờ tất cả những cái gì “mới” như một vị thần linh mà người ta sẽ vâng theo chỉ vì nó mới? Thật là ngu xuẩn. , hoàn toàn ngu xuẩn. Trong chỗ đó ta thấy những sự giải dối,  về nghệ thuật,  và có lẽ là vô ý thức mà người ta đã quá tôn sung cái “môt” nghệ thuật đang ngự trị ở phương Tây. Chúng tôi là những người cách mạng tốt,  nhưng tôi không hiểu tại sao ở chúng tôi người ta lại phải tỏ ra rằng mình  cũng có một trình độ chẳng kém gì nền  văn hóa hiện đại. Về phần  tôi, , tôi có can đảm tự nhận mìn là “dã man”. Tôi không làm sao có thể xem các  tác  phẩm của phái biểu hiện chủ nghĩa, của phái vị lai chủ nghĩa, của phái lập thể chủ nghĩa và  của nhiều thứ chủ nghĩa khác nữa, là biểu hiện cao nhất của tài năng nghệ thuật được. Tôi không hiểu được những tác phẩm đó. Các tác phẩm đó không làm tôi thích thú một chút nào cả ( Lê nin. Bàn về văn học và nghệ thuật. NXB Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 230-231 )

[5] Mao Trạch Đông bàn về văn nghệ, Hồ Tố NGọc dịch, nxb. Văn học, Hà Nội, 1959, tr 108 – 111.

[6] Chu Lập Nguyên, Lí giải và đối thoại, nxb Sư phạm Hoa Trung, Vũ Xương, 2000, tr. 297.

[7] Lưu Tái Phục cho rằng Phản ánh luận văn nghệ có bồn khuyết điểm: Một là khoonng giải quyết được vấn đề cơ chế nội tại của sự phản ánh năng động, sang tạo; hai là không giả quyết được khả nawnng phản ánh nhiều chiều; ba là phản ánh luận cơ giới chỉ quan tâm các thuộc tính tự nhiên của khách thể mà không thấy tính giá trị của khách thể do chủ thể phú cho nó, không chú ý khả năng lựa chọn giá trị của chủ thể;; bốn là khi nói đến khách thể , phản ánh luận chỉ thấy khách thể mà không thấy tính chủ thể của khách thể, cũng vaayjkhi nói đến chủ thể chỉ thấy tính chủ quan mà không thấy tính khách thể của chủ thể. Do đó bỏ qua vấn đề tình cảm trong nghệ thuật.  (Bàn về tính chủ thể, Tạp chí Văn học bình luận, số 5 – 1985)

[8] Xin nêu một số giáo trình sau: Vương Nhất Xuyên, Lí luận văn học, Tứ Xuyên Nhân dân xuất bản xã, 2003; Đổng học Văn, Trương Vĩnh Cương, Lí luận văn học, Đại học Bắc Kinh, 2001; ; Lỗ Khu NGuyên chủ biên, Lí luận văn học, Đại học sư phạm Hoa Đông, 2006; Ngô Trung Kiệt, Văn nghê học đạo luận, Đại học Phúc Đán, 2002; Dương Xuân Thời, Văn học lí luận tân biên, Đại học Bắc Kinh, 2007; Vương Nhất Xuyên, Lí luận văn học, tu đính bản, Đại học Bắc Kinh, 2011; Nam Phàm, Lưu Tiểu Tân, Luyện Thử Sinh, Lí luận văn học, Đại học Bắc Kinh, 2008…

[9] Xem Tuyển tập Nguyễn Lương Ngọc, nxb ĐHQG HCM, 2004, tr 109 – 149.

[10] B. Suchkov. Số phận của chủ nghĩa hiện thực, Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hải Hà dịch, nxb. Tác phẩm mới , Hà Nội, 1980

[11] Hồng Chương, Phương pháp sánh tác trong văn học nghệ thuật, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962.

[12] Lê Đình Kỵ. Truyện Kiều và chủ nghĩ hiện thực của Nguyễn Du, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1970; Đỗ Đức Dục, Chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du, nxb. Văn học, 1990.,

[13] Trần Đình Hượu, Thực tại, cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn hộc trung đại Việt Nam, tropng sách Văn học và hiện thực, nxb. KHXH, Hà Nội, 1990.

[14] Thiếu Mai, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 8 năm 1979, tr. 119 – 125.

[15] Nguyễn Minh Châu, xem trong Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5, nxb Văn học, 2001.tr. 35 – 49.

[16] Hoàng Ngọc Hiến, Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật của nước ta  giai đoạn vừa qua. Tuần báo Văn nghệ, số 23 năm 1979,  tr. 2 – 3.

[17] Xem: R. Wellek. Các khái niệm của phê bình, Trương Kim Ngôn dịch, nxb Học viện mĩ thuật Trung Quốc, Bắc Kinh, 1999, tr. 244. Ví dụ, sáng tác của Tolsstoi thiên về thuyết giá, tức là không tôn trọng khách quan; ông lại miieu tả nhân vật theo quan điểm tự nhiên cử Roussseau, ttức  là thiếu quan điểm lịch sử. Nhưng không thể gạt ông ra khỏi chủ nghĩa hiện thực được. Theo Wellek, lí thuyết chủ nghĩa hiện thực là một thứ mĩ học tồi, tầm thường, bởi vì mọi  văn học đều là sang tác, đều là hư cấu, tuộng tượng và dung hình thức biểu tượng để biểu hiện ra, chứ không phải phản ánh hay tái hiện nào cả. (tr. 245.

[18] Xem : Adamian Grant. Chủ nghĩa hiện thực, Chu Phát Tường dịch, nxb. Côn lôn, Bắc Kinh, 1989. Tr. 91.

[19] E. Auerbach. Mimesis, Phùng Kiên dịch, nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam

  1. Giáo Sư tự do nói:

    Viết dài quá, muốn hiểu Mác Lê là gì ngắn gọn nên đọc cuốn CỬU BÌNH.

  2. Giáo Sư tự do nói:

    Giáo Sư tự do xin gửi giáo sư nghiên cứu sự thật về Các Mác để bài viết phong phú hơn. Đây là công trình khoa học ,khách quan nhé, cứ từ từ tìm hiểu.
    Thư viện giải mật về Karl Mark
    http://www.karlmarxleaks.com/

  3. Pingback: Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam | CÓP NHẶT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s