Tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác Lê nin ở Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986

Tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác Lê nin ở   Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986

Trần Đình Sử

Giai đoạn lịch sử từ sau cách mạng tháng Tám 1945  đến năm 1985 là một giai đoạn lớn, bao gồm nhiều thời kì như cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, công cuộc đấu tranh thống nhất Bắc Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, từ 1954 đến 1964 và cuộc kháng chiến chống mĩ cứu nước cho đến khi hoàn toàn giải phóng miền Nam 1965 – 1975, và giai đoạn từ 1976  tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước cho đến khi Đổi mới năm 1986. Đó là một chặng đường lịch sử do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tòan diện và tuyệt đối đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đứng vào phe các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới do Liên Xô đứng đầu. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy tất yếu  nền văn nghệ của chúng ta phải tiếp thu lí luận Mác Lenin nói chung và mĩ học, lí luận văn học Mác xít nói riêng. Lí luận văn học mác xít tuy đều xuất phát từ các nguyên lí cơ bản về bản chất, đặc trưng, quy luật phát triển và vai trò xã hội của văn học, nghệ thuật, được rút ra từ  trước tác của các nhà kinh điển Mác xít, nhưng tùy theo đặc điểm lịch sử của các vùng miền, các quốc gia cụ thể, các truyền thống văn hóa khác nhau mà các nguyên lí được lựa chọn, vận dụng  và phát triển khác nhau, dẫn đến có các lí luận Mác xít khác nhau. Đó là lí luận Mác xít được coi là hệ tư tưởng chính thống của các nước xã hội chủ nghĩa và mác xít phương Tây (được gọi là Mác học[1]), chủ nghĩa mác xét lại cũ và chủ nghĩa Mác xét lại hiện đại.  Lí luận mác xít chính thống của Nga thời Stalin cũng khác thời kì hậu Stalin với chủ trương chống tệ sung bái cá nhân. Lí luận Mác xít Nga cũng khác lí luận Mác xít Trung Quốc với tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông và thời hậu Mao Trạch Đông.  Chính vì thế muốn hiểu rõ sự tiếp nhận lí thuyết Mác xít ở Việt Nam thì trước hết cần điểm qua bối cảnh lí thuyết Mác xít về văn học nói trên. Sau đó tìm hiểu điều kiện lịch sử của Việt Nam, văn hóa Việt Nam  và sự tiếp nhận, sang tạo của Việt Nam, các thành tựu và bất cập của quá trình tiếp nhận ấy.

1.Bối cảnh lí luận văn nghệ Mác xít ở Liên Xô, Trung Quốc và sự khác nhau của  chúng. 1.1.Bối cảnh lí luận văn nghệ của Liên Xô

Chúng ta biết lí luận Mác xít đã có cuộc “du hành” qua nhiều địa chỉ tiếp nhận và tùy thuộc lịch sử và tình huống qua mỗi nơi đều có sự lựa chọn, hấp thu và vận dụng khác nhau.  Khi Mác mất, trước mộ Mác Angghen nêu hai phát hiện vĩ đại của ông là duy vật sử quan và lí thuyết về giá trị thặng dư[2], nhưng sang Lenin trong bài Các Mác , cống hiến của Mác gồm: chủ nghĩa duy vật kịch sử, duy vật biện chứng, lí thuyết đấu tranh giai cấp, học thuyết kinh tế và chủ nghĩa xã  hội khoa học[3].  Mác và ăng ghen mỗi người chỉ nói một ít câu về phản ánh, nhưng Lenin đã có cả một cuốn sách về phản ánh luận duy vật. Lenin đã vận dụng lí thuyết giai cấp để xây dựng lí thuyết ý thức hệ giai cấp, chuyên chính vô sản, lí thuyết tính đảng, phân biệt hai nền văn hóa dân tộc,  vận dụng lí thuyết phản ánh và thuyết tính giai cấp để phê bình sang tác  L. Tolstoi, biến chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Lenin, làm nền tảng cho lí luận văn học Xô viết. Trước Cách mạng tháng Mười, ở Nga và Tây Âu đã xuất hiện lí luận Mác xít với nhiều tên tuổi nổi tiếng như F. Mering, K. Caoski, P. Laphargue, Plekhanov, V.Lenin,  A. Lunacharski, Stalin, , M. Gorki, N. Bukharin, V. Vorovski, L. Troski… Nhưng với Lenin, ông đã biến chủ nghĩa Mác thành ý thức hệ của nhà nước cách mạng, và từ đó đã ảnh hượng sâu rộng đến các nước có đảng cộng sản cầm quyền. Sau Cách mạng tháng Mười, rồi sau bốn năm nội chiến, đất nước kiệt quệ, từ năm 1921 đến năm 1928, theo chính sách Kinh tế mới (NEP) của Lênin, các hoạt động kinh tế và văn hóa được phần nào tự do, các nhóm phái lí luận và văn nghệ hình thành trước đó vẫn còn tồn tại, được phát triển đa chiều, các quan điểm văn nghệ mác xít cũng rất khác nhau. Văn nghệ  Liên Xô phát triển rực rỡ, lịch sử văn học gọi “văn học những năm 20” là “thế kỉ bạc”  với nhiều tên tuổi nổi tiếng thế giới. Đồng thời, không khí đối địch giữa Mác xít và phi Mác xít cũng bắt đầu gia tăng, diễn ra các cuộc bắt bớ, cấm đoán. Những năm 30, kết thúc kinh tế mới Liên Xô bắt đầu bước vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Lê nin. Tháng 4 năm 1932 nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản (B) Nga quyết định giải tán các nhóm phái văn học khác nhau và thống nhất chúng vào một tổ chức thống nhất. Ban trù bị được thành lập.  Người giám sát là Andrei Zhdanov. Ngày 5 tháng 10 năm 1932, I. M. Gronski, chủ tịch ủy ban trù bị Đại hội nhà văn Liên Xô đề nghị dùng thuật ngữ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.  Ngày 26 thang 10 năm 1932 Stalin trong cuộc trò chuyện với Gorki khẳng định phương pháp sang tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hai năm sau, đến Đại hội nhà văn Liên xô lần thứ nhất 1934  đã nhất trí ghi phương pháp ấy vào điều lệ của Hội. “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với tư cách là phương pháp cơ bản của văn học và phê bình văn học Liên Xô yêu cầu nhà nghệ sĩ phải miêu tả hiện thực một cách chân thực, lịch sử cụ thể trong tiến trình phát triển cách mạng của nố. Đồng thời sự miêu tả chân thực , cụ thể đó phải kết hợp vơi nhiệm vụ đem tinh thần xã hội chủ nghĩa mà cải tạo và giáo dục nhân dân lao động. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho nghệ thuật một khả năng đặc thù để chủ động biểu hiện, sáng tạo, lựa chọn các hình thức, phong cách , thể loại da dạng.”[4] Có thể nói định nghĩa ấy đã bao gồm toàn bộ lí luận văn học Liên Xô về sáng tác: quan niệm về hiện thực cách mạng, quan niệm về nhiệm vụ nhận thức và giáo dục của văn học, tính tư tưởng, tính đảng, sự lãnh đạo của đảng, sự đa dạng của văn học. Trong định nghĩa ấy đã bao hàm sự đối lập với các trào lưu văn nghệ khác: chủ nghĩa hiện thức phê phán, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện đại. Để phát triển lí luận văn học Mác xít từ những năm 20 –  30 đã bắt đầu sưu tầm xuất bản những  sách chính thống. Bên cách các tác phẩm kinh điển của Lênin đã có Mác và Angghen bàn về văn học (Những tư liệu mới) do F. Schiller và G. Lukacs chú thích, Mác va Angghen bàn về nghệ thuật, do Lunacharski chủ biên, do Schiller và M. Lifchitz sưu tập. Ông viết  Mác và Angghen và mấy vấn đề về nghệ thuật . Các sách M. Gorki bàn về văn học. Văn kiện Đại hội nhà văn xô viết lần thứ nhất, xuất bản năm 1934, Lifshitz không hài lòng với chủ biên của Lunacharski nên đã soạn lại.  Bộ  Mác và Angghen bàn về nghệ thuật gồm 2 tập, xb 1937, bao gồm cả các ý kiến thời kì đầu của Mác,  Lenin bàn về nghệ thuật, 1938[5]. Lí luận Mác xít Nga tập trung vào năm điểm: 1. Văn học là một hình thái của ý thức xã hội, tương ứng với hạ tầng cơ sở kinh tế. Từ đây mỏe ra tính giai cấp, tính nhân dân, tính đảng, tình khuynh hướng của văn học. 2. Văn học là sự phản ánh hiện thực bằng hình thức đặc thù. Từ đây mở ra quan hệ văn học và đời sốn hiện thực, chủ nghĩa hiện thực, điển hình. 3. Văn học là một vũ khí trong cuộc đấu tranh giai cấp, là công cụ để giáo dục nhân dân. 4. Có hai di sản văn hóa dân tộc, di sản của bọn thống trị, bóc lột và di sản mang nội dung dân chủ và xã hội chủ nghĩa. 5. Văn nghệ thuộc về quần chúng nhân dân, đi gần với nhân dân, mang tính dân tộc. Từ đây mà suy ra các chức năng của văn học. Từ các nguyên lí này mà hình thành phương pháp sáng tác mới[6].  Khẩu hiệu xây dựng nền văn học, văn hóa vô sản được nêu ra trước đó được thay bằng khẩu hiệu xây dựng nền văn học xã hội chủ nghĩa, lấy phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa làm nền tảng. Stalin còn nêu ra văn học xã hội chủ nghĩa có nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc. Quán triệt tính đảng của Lenin, biến văn học thành công cụ giáo dục, cải tạo  nhân dân theo tư tưởng giai cấp vô sản. Quan điểm chức năng giáo dục này bắt nguồn từ quan niệm văn học là giáo khoa thư về đời sống có từ trong truyền thống cách mạng dân chủ Nga, bây giờ được nâng lên thành “nhà văn là kĩ sư tâm hồn” của nhân dân. Văn học phản ánh  và ca ngợi xu thế tiến lên xã hội chủ nghĩa trong đời sống, lên án, phê phán các kẻ thù giai cấp, bọn tư sản, quý tộc, cu lắc, bạch vệ. Song song với lí luận ấy là các cuộc phê phán các trào lưu tư tưởng duy tâm, tư sản, phản lí tính, thực dụng chủ nghĩa của mĩ học thế giới. Nếu theo quan điểm ngày nay thì nhiều nhà lí luận mác xít hiện đại cho rằng lí luận nghệ thuật mác xít sẽ bao gồm 5 điểm: 1. Văn nghệ là một hoạt động đặc thù của nhân loại; 2. Phản ánh luận và văn nghệ; 3. Văn nghệ là một hình thái ý thức thẩm mĩ; 4. Văn nghệ là một hình thái sản xuất và tiêu dùng; 5. Văn nghệ là một hình thái giao tiếp của nhân loại. Nếu phát triển theo sự tiếp nhận này lí luận văn nghệ Mác xít sẽ có thêm một diện mạo khác[7]. Tuy vậy các nọi dung 1, 4, 5 dưới thời Stalin hầu như không được đề cập tới hoặc nếu có cũng không có vị trí chính thống, ví như lí thuyết về cảm thụ nghệ thuật của Boris Meylak.. Lí luận văn học Liên Xô là sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lenin với thực tiến sáng tác của cả một thế hệ nhà văn Liên Xô. Thực tế cách mạng, con người mới, lí tưởng cách mạng, khát vọng giải phóng giai cấp và nhân loại khiến các nhà văn muốn thay đổi chủ dề , đề tài, nhân vật, phương pháp sáng tác, xây dựng một nền văn học mới của giai cấp vô sản, thích ứng với thời đại cách mạng, đối lập lại với văn học tư sản. Chính khát vọng này đã làm nảy sinh ra nhiều sáng tác kinh điển của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với các tên tuổi như M. Gorki,A.  Fadeev, M. Solokhov, V. Mayakovski, A. Tolstoi, Furmanov, … . Lí luận mác xít lúc đó là một nguồn cảm hứng mới mẻ, có sức hấp dẫn đối với các nhà lí thuyết. Mặt khác, nhà nước xô viết muốn lãnh đạo văn nghệ theo đường lối và quan điểm của mình, do đó chủ nghĩa Mác bị biến thành lí thuyết quan phương chính thống. Các suy nghĩ bị coi là trái với quan điểm chính thống đều bị lên án và trấn áp. (A. Lunrcharski, với tư cách là dân ủy phụ trách giáo dục đã nêu rõ tư tưởng trấn áp đó.). Lí luận Mác xít Liên Xô phát triển theo mạch chính thống nghiệt ngã vào những năm 30 và 40 và về sau. Văn học phải đề cao tính ý thức hệ giai cấp, phải phục tứng chính trị, thể hiện rõ tính giai cấp, tính đảng, tính chiến đấu chống lại ý thức hệ tư sản. Nói khái quát là xây dựng một nền văn nghệ tuyên truyền, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nhân dân.Tình trạng đó khiến cho lí thuyết biến thành xơ cứng, giáo điều. Xuất hiện xã hội học dung tục, đồng nhất văn học với ý thức giai cấp, nhìn nhà văn theo thành phần giai cấp, đặt văn học phụ thuộc trực tiếp vào quan hệ kinh tế, xây dựng sơ lược tiến trình văn học, xem sáng tác là minh họa hình tượng cho các quy luật xã hội học (ví dụ, V. N. Friche, V. F. Pereverzev…). Cuối những năm 40 đầu những năm 50 thịnh hành lí thuyết vô xung đột, sáng tác thiên về tô hồng hiện thực, thiếu sức thuyết phục.  Suốt thời gian chiến tranh chống phát xít cho đến khi Stalin mất năm 1953 lí luận hầu như dẫm chân tại chỗ.  Tại Đại hội lần thứ XIX Đảng cộng sản Liên Xô, Malencov, người kế tục cương vị Stalin còn tuyên bố “Điển hình văn học là phạm vi thể hiện của tính đảng cộng sản trong văn học.” điều đó có nghĩa là sáng tạo điển hình theo quan niệm của đảng. Tuy vậy quan điểm cứng nhắc, giáo điều ấy không thể duy trì lâu mãi được. Sau khi Stalin mất, năm 1954 tại Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ hai (cách Đại hội lần thứ nhất đúng 20 năm!) được triệu tập, nhà văn K. Ximonov  đề nghị gạch bỏ cái vế “kết hợp với nhiệm vụ đem tinh thần xã hội chủ nghĩa để cải tạo và giáo dục nhân dân lao động về tư tưởng” trong định nghĩa về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, vì cái vế này thể hiện lộ liễu yêu cầu giáo huấn của nền văn học. Ximonov cũng đề nghị gạch bỏ yêu cầu miêu tả “một cách lịch sử cụ thể”, vì nó trói buộc sự tưởng tượng của nhà văn cũng các thủ pháp ước lệ.  Đến Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX năm 1956, phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin, thì  bắt đầu “thời kì băng tan”, một không khí dân chủ cởi mở tràn ngập[8].  Tuy vậy thời kì này quan điểm quan phương về văn nghệ vẫn không có nhiều thay đổi, vẫn còn có một số nhà văn bị trục xuất, có tác phẩm văn học bị cấm đoán[9], song cách  quản lí văn nghệ  có phần được điều chỉnh cởi mở hơn. Từ năm 1966 giới văn học Liên Xô được kích động bởi cuốn sách Chủ nghĩa hiện thực không bờ bến của R. Garaudy xuất bản năm 1963, lần đầu tiên nêu mối quan hệ giữa các nhà nghệ sĩ hiện đại chủ nghĩa với chủ nghĩa hiện thưc. Đã đến lúc không thể quay lưng với văn học chủ nghĩa hiện đại trên thế giới. Tác phẩm của F. Kaffka, M. Proust… được xuất bản. Các nhà văn Liên Xô mở Bàn tròn thảo luận về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.  Họ phát hiện thấy văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa không tách bạch khỏi chủ nghĩa hiện thực phê phán, nó có một dòng phê phán  trong lòng nó; lại thấy trong chủ nghĩa hiện thức xã hội chủ nghĩa có cả chủ nghĩa lãng mạn. Đến Đại hội nhà văn Liên Xô làn thứ tư năm 1967, viện  sĩ M. B. Khrapchenco  đề xuất phân biệt văn học xã họi chủ nghĩa với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, cho thấy văn học xã hội chủ nghĩa phong phú hơn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.Lúc này Liên Xô xuất bản sách Chủ nghĩa cấu trúc – tán thành và phản đối, xuất bản sách Lí luận văn học của các nhà lí luận Mĩ R. Wellek và Worren, sách Mimesis của E. Auerbach[10].  Đến đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ 5, 1971, viện sĩ D. Markov đề xuất chủ nghĩa hiện thực  xã hội chủ nghĩa là một hệ thống mở. Trong suốt thời gian ấy, tuy đại hội 5 năm 1971 vấn nêu lấy tính đảng và tính nhân làm nguyên tắc, nhưng chủ nghĩa nhân đạo được khẳng định, đặc trưng của văn học nghệ thuật được đề cao, tính ước lệ của chủ nghĩa hiện thực được chấp nhận.  Các tác phẩm về hình thức chủ nghĩa trước đây bị cấm đoán, nay in lại. In lại các tác phẩm của Bakhtin, , Shklovski, Aykhenbaum, Girmunski, Lotman. Các nghiên cứu về hình thức, kí hiệu học, thi pháp học, phong cách học  được phát triển.  Về chính trị Liên Xô chủ trương chung sống hòa bình giữa hai hệ thống xã hội, một quan điểm bị Trung Quốc  xem là chủ nghĩa xét lại hiện đại. Tóm lại lí luận Mác xít Liên Xô hình thành từ những năm 30 đầu thế kỉ XX đã chọn quan niệm văn học là công cụ biểu hiện ý thức hệ vô sản, do đảng lãnh đạo, thể hiện qua khái niệm phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, trải qua giai đoạn chính trị hóa, giáo điều hóa rồi từ sau khi Stalin mất đã dần dần được dân chủ hóa, học thuật hóa, đa dạng hóa cho đến ngày Liên Xô tan rả năm 1991.

1.2. Bối cảnh lí luận văn nghệ Trung Quốc.

Tiếng súng Cách mạng tháng Mười Nga đã mang chủ nghĩa Mác Lenin đến Trung Quốc. Phong trào Ngũ Tứ (4 – 5 – 1919) đã dấy lên phong trào phản phong kiến, chống đế quốc, giới thiệu tiến hóa luận, tư tưởng khai sang, Dân chủ và khoa học, đồng thời cũng giới thiệu chủ nghĩa Mác. Trần Độc Tú là những người Mác xít đầu tiên.  Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921, chủ nghĩa Mác truyền bá khắp nơi. Nguồn truyền bá gồm phương Tây, Nga và Nhật Bản. Từ những năm 1925 đến 1928, các trí thức du học Nhật Bản và từ Nga về đã nói đến văn học vô sản, văn học cách mạng. Các sách của Plekhanov, Lunacharski, Gorki, Bukharin, Troski bàn về văn học vô sản , về lí luận mác xít được dịch sang tiếng Trung. Năm 1930 thành lập Hội nhà văn cánh tả Trung Quốc (gọi tắt là Hội nhà văn Tả liên), Các nhà văn Lỗ Tấn, Cù Thu Bạch, Chu Dương , Phùng Tuyết Phong đều tham gia vào hội này. Các nhà lí luận Tả Liên nhấn mạnh đến bản chất giai cấp của văn học, tính chất công cụ của văn học trong quan hệ với chính trị, văn học là sự  tuyên truyền của ý thức giai cấp. Khái niệm văn học cách mạng được nêu ra từ năm 1925 để chỉ văn học phục vụ sự nghiệp cách mạng, lất đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới, theo thế giới quan giai cấp vô sản. Cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An được tổ chức vào tháng 5 – 1942, và Bài phát biểu của Mao Trạch Đông tại cuộc tọa đàm này đánh dấu sự ra đời lí luận Mác xít mang bản sắc Trung Quốc[11]. Tiếp nhận chủ nghĩa Mác qua chủ nghĩa Lenin, (qua 5 điểm nêu trên) các nhà Mác xít Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất ý thức hệ, bản chất giai cấp của văn học và thái độ của các giai cấp được văn học biểu hiện. Lí luận Mác xít Trung Quốc một mặt học theo lí luận Liên Xô (Mao từng nêu khẩu hiệu Học tập các đống chí Liên Xô), mặt khác có sự cụ thể hóa vào điều kiện Trung Quốc. Mao Trạch Đông khẳng định Cách mạng Trung Quốc do Đảng cộng sản lãnh đạo là cách mạng tân dân chủ, khác với cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp tư sản lãnh đạo, nhưng sau cách mạng Tân Hợi (1911), cuộc cách mạng này do giai cấp vô sản lãnh đạo[12]. Lí luận văn học Trung Quốc dựa vào phản ánh luận của Lenin, vào bản chất giai cấp, ý thức hệ, nhưng đặc biệt nhấn mạnh tới tính chất công cụ phục vụ chính trị, tòng thuộc chính trị của văn học. Chính Chu Dương nêu ra khẩu hiệu văn nghệ phục vụ chính trị.  Quán triệt tư tưởng trong bài báo Tổ chức đảng và văn học có tính đảng của Lênin, Mao Trạch Đông nhấn manh văn học phục vụ nhân dân, cụ thể là phục vụ công nông binh, cán bộ cách mạng. Muốn phục vụ nhân dân thì phải phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của họ, nói tiếng nói của họ. Muốn vậy thì phải đi sâu vào cuộc sống của công nông binh, cải tạo tư tưởng, từ bỏ lập trường tiểu tư sản, xác lập tư tưởng vô sản, thế giới quan cách mạng vô sản, đứng trên lập trường của giai cấp vô sản mà sáng tác. Trong điều kiện cách mạng tân dân chủ, tức là làm cách mạng dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng vô sản, văn nghệ phải đi theo ba phương châm: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa.  Sáng tác văn nghệ phải đi theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, phải sáng tạo điển hình về con người mới, sự vật mới, cuộc sống mới. Phê bình văn học phải đánh giá tác phẩm theo hai tiêu chí. Tiêu chí tư tưởng là tiêu chí số một; tiêu chí nghệ thuật là tiêu chí số hai[13]. Bởi vì nếu một tác phẩm có tư tưởng không tốt mà lại có nghệ thuật cao thời tác hại sẽ rất lớn. Mao Trạch Đông thể hiện một tư duy lí thuyết sắc bén và liện hệ thực tế sâu sắc, đồng thời cũng có biểu hiện cứng nhắc, dung tục. Lí thuyết ý thức hệ giai cấp đối với ông là vũ khí sắc bén để loại trừ các nhóm phái bất động chính kiến trong đảng. Nhấn mạnh tính giai cấp lí luận Mác xít Trung Quốc phủ nhận, bài xích tính người, (chỉ có tính người cụ thể, mang tính giai cấp) chủ trương văn học miêu tả cuộc đấu tranh giai cấp, phản ánh bản chất giai cấp của nhân vật. Thuyết tính người, tình người bị phê phán triệt để. Lấy lập trường giai cấp và ý thức hệ vô sản làm tiêu chí, từ sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh tư tưởng trong giới trí thức, văn nghệ sĩ. Từ năm 1949 trở đi đã có các cuộc đại phê phán do Mao Trạch Đông chỉ đạo gồm phê phán Truyện Vũ Huấn, phê phán nghiên cứu Hống Lâu Mộng (nhằm phê phán tư tưởng tư sản), phê phán tập đoàn phản đảng Hồ Phong, phê phán  (tam phản, ngũ phản ) trong cán bộ, đấu tranh chống phái hữu từ năm 1957, cuộc đấu tranh chống xét lại kéo dài từ năm 1959 đến năm 1965, cuộc đấu tranh này còn mang tính quốc tế, phản ánh mâu thuẫn Trung Quốc với Liên Xô trong chiến lược cách mạng thế giới, có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới. Các cuộc đấu tranh tư tưởng này có tác dụng phân biệt rõ ranh giới giới tư tương vô sản, mác xít  với các tư tưởng phi vô sản, phi mác xít, xét lại, phản động.  Bước sang năm 1966 là bắt đầu cuộc  Đại cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông phát động. Trong các cuộc đấu tranh đó tư tưởng Mác xít được đẩy lên cực đoan, cực tả. trở thành một công cụ bạo lực để đấu tranh tư tưởng, tiến hành “chuyên chính” đối với văn nghệ không theo “đường lối của Đảng”, hàng chục nhà văn tự sát, hàng nghìn người bị hành hạ đến chết. Về sáng tác, yêu cấu sáng tạo điển hình những chiến sĩ cách mạng theo theo tiêu chí cao cả, vĩ đại, toàn diện, kết quả là sinh ra những nhân vật giả tạo, thiếu sức sống. Cách mạng văn hóa là một thảm họa văn hóa đối với người Trung Quốc. Năm 1976 cách mạng văn hóa kết thúc, trải qua ba năm điều chỉnh, minh oan, đến năm 1979 tiến hành đại hội văn nghệ toàn quốc, Đặng Tiểu Bình tuyên bố không tiếp tục nêu cao tư tưởng đấu tranh giai cấp, không tiếp tục quan niệm văn học tòng thuộc chính trị, chủ trương giải phóng tư tưởng, cùng tiến theo thời đại, đề xướng phương châm “thực sự cầu thị”, chống tư duy giáo điều[14]. Năm sau, 1980 bắt đầu công cuộc bốn hiện đại hóa, làm thay đổi hẳn nước Trung Quốc.. Cũng từ đây Trung Quốc từ bỏ chủ nghĩa Lênin, chỉ nói chủ nghĩa Mác, chủ trương khắc phục các ảnh hưởng của Liên Xô, chuyển hướng sang học tập phương Tây, chủ yếu là Âu Mĩ. Một phong trào phê phán các lí thuyết giáo điều trước đây như phản ánh luận, giai cấp luận, công cụ luận, văn học phục vụ chính trị, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa…  Các lí thuyết phương Tây được coi là tư sản phản động, duy tâm, phản động như chủ nghĩa cấu trúc, phân tâm học, kí hiệu học, hình thức luận, phê bình mới Anh Mĩ, lí thuyết hiện đại chủ nghĩa, hậu hiện đại, hậu cấu trúc, giải cấu trúc…hầu như đều được dịch sang tiếng Trung, thay đổi phương pháp luận nghiên cứu văn học, mà năm 1985 được coi là năm phương pháp luận của giới nghiên cứu văn học Trung Quốc. Mặc dù vẫn là nhà nước toàn trị về chính trị, song từ đây Trung Quốc từng  bước chuyển sang thời đại đa nguyên về lí thuyết văn học, bản thân chủ nghĩa Mác cũng được nghiên cứu một cách đa nguyên, nhằm xây dựng một lí luận mang màu sắc Trung Quốc[15]. Tiến trình lí luận mác xít Liên Xô và Trung Quốc tuy có khác nhau, có so le, song có đường nét chung. Đó là từ một nền lí thuyết Mác xít cực đoạn chính trị hóa, giáo điều hóa đến giải chính trị hóa, giải giáo điều hóa. Từ một nền lí luận độc hành, quay lưng lại với hầu như toàn bộ di sản lí luận của nhân loại hiện đại đi đến chỗ hội nhập, đồng hành cùng các trào lưu tư tưởng của nhân loại, và từ trong trào lưu chung đó mà tìm tòi bản sắc dân tộc của diễn ngôn lí thuyết văn học hiện đại trong xu thế toàn cầu hóa. Lí luận  Mác xít từ chỗ là lí luận thống soái đã chuyển thành một trong các lí luận có  ảnh hưởng, chứ không phải duy nhất, độc tôn  của thời đại như trước nữa.

2.Bối cảnh lịch sử và tiếp nhận lí luận văn học Mác xít ở Việt Nam.

Cách mạng tháng Mười Nga hầu như không gây ảnh hưởng đối với Việt Nam trong bối cản thuộc địa (ngoại trừ một mẩu tin trên Nam Phong), nhưng những người yêu nước Việt Nam trên đường tìm phương cứu nước đã bắt gặp chủ nghĩa Mác Lenin, trước hết là Nguyễn Ái Quốc ở Pháp rồi sang Liên Xô, đến Quảng Châu rồi viết sách Đường Cách mệnh (1927). Các hạt giống đỏ được đào tạo  từ Liên Xô như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập…Giới thiêu chủ nghĩa Mác vào việt Nam còn có Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Tryền, Nguyễn An Ninh. Đào Duy Anh còn dịch in Tuyên ngôn Đảng cộng sản. Nhưng những người cộng sản Việt Nam có sự lựa chọn chủ nghĩa Mác như  một kiểu  ý thức hệ. Theo nhận thức của những người Cộng sản Việt Nam, nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn 1945 đến 1985 về cơ bản là đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà và bước đầu tiến hành cải tạo xã hội theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Đường lối này đã được vạch ra trong các nghị quyết của Đảng cộng sản và quyết định phương hướng chỉ tiếp nhận lí luận mác xít của Liên Xô, Trung Quốc, phê phán mọi lí thuyết tư sản, xét lại, các lí thuyết duy tâm, phi mác xít.. Sự tiếp nhận lí luận văn học mác xít ở Việt nam được thực hiện dưới hai hình thái, hai bộ phận. Một là sự tiếp nhận của các nhà lãnh đạo đảng, nhà nước và sự tiếp nhận của các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình giới thiệu, dịch thuật. Hai bộ phận này khác nhau, một bên lãnh đạo, một bên thừa hành, nhưng thống nhất với nhau, mặc dù không đồng nhất. Bộ phận thứ nhất tiếp nhận những gì dung để chỉ đạo,quản lí,  còn bộ phận thứ hai lựa chọn những gì để nghiên cứu, vận dụng và phân tích, đánh giá các hiện tượng văn học. Sự tiếp nhận của bộ phận thứ hai, so với yêu cầu của bộ phận thứ nhất có khi bất cập, cũng có nhiều khi triệt để quá đà. Sự sai lệch thường gây ra các cuộc tranh luận, uốn nắn, phê phán, tạo nên đời sống lí luận phê bình văn học trong suốt bốn mươi năm.

2.1. Về lí luận văn học Mác xít Hải Triều là người tiên phong nêu ra môi quan hệ văn học và đời sống xã hội quy luật văn nghệ tiến hóa theo cơ sở kinh tế, văn học biểu hiện ý thức giai cấp trong cuộc bút chiến nghệ thuạt vị nhân sinh 1936 – 1939. Tiếp đến Văn học khái luận của Đặng Thai Mai (1944), đã nếu các vấn đề cơ bản như văn học và đời sống xã hội, phương pháp sang tác với lập trường giai cấp, phản ánh hiện thực và cá tính nhà văn, nội dung và hình thức, điển hình và cá tính, vấn đề tự do sang tác, dân tộc và quốc tế.Đó là một hệ thống vấn đề khá toàn diện về lí luận văn nghệ mác xít. Nhưng đó là tiếp nhận của các học giả trên cơ sở lí thuyết duy vật sử quan của Plekhanov, chưa có phản ánh luận và tính đảng của Lênin. Với Đề cương văn hóa năm 1943 do Trường Chinh khởi thảo, các nguyên tắc của văn hóa mác xít trong cuộc cách mạng tân dân chủ. Nhiệm vụ của sự nghiệp văn hóa là phải làm  cho chủ nghĩa duy vật thắng, cho chủ nghĩa tả thực thắng, đã phá các thứ văn học nô dịch, các trào lưu văn nghệ suy đồi, các phương châm dân tộc hóa, đại chúng  hóa, khoa học hóa được xác định. Đề cương thể hiện sự tiếp nhận lí luận Liên Xô và Trung Quốc[16]. Cùng với Các bức thư của Hồ Chí Minh gửi các cán bộ văn hóa, văn nghệ, Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh (1948), Xây dựng văn nghệ nhân dân của Tố Hữu (1949) cho thấy các nhà lãnh đạo Việt Nam đã hình thành một hệ thống quan điểm Mác xít khung vừa khái quát, vừa cụ thể có tính chất chỉ đạo, của nhà nước về văn hóa văn nghệ hoàn chỉnh, tuy còn sơ lược và vận dụng vào thực tiễn kháng chiến mà các nghệ sĩ và người làm văn nghệ phải tiếp thu và quán triệt. Nó cho thấy các nhà lãnh đạo, đặc biệt là Trường Chinh đã vượt khỏi quan niệm sơ lược ban đầu về văn hóa và văn hóa dân tộc trong các bài viết năm 1944, đã nghiên cứu cụ thể nhiều vấn đề lí luận văn học của Liên Xô và Trung Quốc đem vận dụng vào thực tiễn Việt Nam[17]. Đó là quan điểm, nói theo cách diến đạt của Hố Chí Minh, là văn nghệ nằm trong chính trị, văn nghệ là mặt trận, anh chị em nghệ sĩ là chiến sĩ, văn nghệ là vũ khí, công cụ phụng sư sự nghiệp chính trị kháng chiến kiến quốc theo quan điểm Mác Lênin của Đảng, do Đảng lãnh đạo. Từ Đại hội 2 của Đảng năm 1951 (sau chiến dịch biên giới 1950) cho đến 1954 chúng ta tiếp nhận lí thuyết văn học chủ yếu qua Trung Quốc nhưng rất ít ỏi. Sau 1954 cho đến những năm đầu 60 chúng ta bắt đầu dịch xuất bản các sách kinh điển Mác Lenin, Stalin, các giáo trình duy vật lịch sử, duy vật biện chứng và các vấn đề khác như văn hóa, ngôn ngữ, mĩ học, lí luận văn học, giáo trình, chuyên luận, lịch sử văn học xô viết của Liên Xô, của Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Lục Định Nhất, Chu Dương…để học tập, tham khảo. Những năm sau 1954 đế đầu những năm 60 có thể nói là thời kì tràn ngập các sách dịch từ Liên Xô, Trung Quốc, sách kinh điển xen lẫn với các sách có tính chất nhập môn ABC về văn học lẫn thực tiến đấu tranh tư tưởng[18]. Sau Đại hội lần thứ ba của Đảng, Vụ văn nghệ, Ban tuyên giáo trung ương tổ chức nhiều cuộc thảo luận theo 4 chủ đề: 1. Vai trò và chức năng của văn nghệ trong giai đoạn cách mạng mới; 2. Thể hiện con người mới, cuộc sống mới; 3. Không ngừng nâng cao tính đảng trong văn nghệ; 4. Nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc[19]. Đến năm 1964, 1972 với sự công bố công trình Về văn hóa, văn nghệ của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh[20], công trình  Phấn đấu xây dựng một nền văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta của Tố Hữu (1973)[21] , có thể nói chúng ta đã có một hệ thống lí luận văn nghệ mác xít chỉ đạo  nhà nước hoàn chỉnh. Gần gủi với  hệ thống này là ý kiến của các ông Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường, Trần Độ…Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, Đại hội IV của Đảng đổi tên Đảng, tên nước, khẳng định cách mạng miền Nam, kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ đây cho đến trước thời kì Đổi mới chúng ta vẫn duy trì quan điểm đó. Trong giai đoạn từ năm 1954 về sau, trong các bài báo cáo, nói chuyện đã tập trung đề cập vấn đề văn học phản ánh hiện thực, chức năng của văn nghệ, quan hệ nhà văn và chính trị, tính đảng của văn học, văn học chịu sự lãnh đạo của đảng, đối tượng của văn học là con người mới, cuộc sống mới, là các anh hùng chiến sĩ trên các mặt trận, thế giới quan và vốn sống, lập trường chính trị là nhân tố quyết định sáng tác, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp tốt nhất, tiên tiến nhất của nhân loại, mà điểm nổi bật là sáng tạo điển hình hóa cao độ, tính chân thật, tính chiến đấu. Các vấn đề tính đảng cộng sản, sáng tác và phê bình, dân tộc và quốc tế, truyền thống và cách tân, chống lí thuyết tư sản, chủ nghĩa xét lại hiện đại và phê phán văn nghệ thực dân mới ở miền Nam đều được đặt ra một cách bức thiết trong từng thời kì. Nhìn chung tuy vấn đề lí luận có nhiều mặt, song quan điểm chung vẫn là văn nghệ là ý thức hệ xã hội, phản ánh hiện thực, là  công cụ đấu tranh giai cấp, phục tùng chính trị, chịu sự lãnh đạo của đảng, phục vụ chính trị của đảng, không được đi chệch, càng không thể đi ngược đường lối của đảng. Công tác li luận phê bình văn học được coi như là một “nhiệm vụ chính trị”, thuộc lĩnh vực chính trị[22].  Quan điểm đó đã đảm bảo cho văn nghệ thực hiện được chức năng chính trị của mình, đóng góp tích cực cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và bước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội theo định hướng của Đảng. Quan điểm cơ bản này nhất trí với quan điểm lí luận của các đảng cầm quyền anh em ở Liên Xô, Trung Quốc, nhưng không đồng nhất với các quan điểm của hai đảng kía  về chính trị.  Từ sau năm 1954 đến giữa những năm 60 chúng ta theo đường lối chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, nhưng từ nửa cuối những năm 60 chúng ta thiên về học tập lí luận văn nghệ của Liên Xô cho đến thời Đổi mới. Nếu những năm 60 nhịp độ dịch thuật, giới thiệu văn học và lí luận văn học Trung Quốc tương đối dày đặc, thì từ cuối những năm 60 cho đến đầu những năm 80 có những cao trào học tập nghiên cứu các quan niệm của Mác và Lê nin về văn học, sách lí luận Liên Xô được dịch xuất bản và  giới thiệu liên tục trên các tạp chí[23]. Đánh dấu sự hình thành bộ môn lí luận văn học trong nhà trường đại học Việt Nam là sự xuất hiện của các giáo trình lí luận văn học. Đầu tiên là cuốn Sơ thảo nguyên lí  văn học của Nguyễn Lương Ngọc (1958), sau đó là Mấy vấn đề nguyên lí văn học 2 tập do ông chủ biên (1962); Cơ sở lí luận văn học 4 tập, Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, do nhiều tác giả biên soạn (1965 – 1968) và cơ sở lí luận văn học cũng do Nguyễn Lương Ngọc Chủ biên, các tác giả Đại học sư phạm và Đại học tổng hợp biên soạn (1980). Trước đó trường Đại học tổng hợp cũng xuất bản bộ giáo trình do các tác giả Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ biên soạn gồm tác phẩm văn học, Loại thể văn học, Các phương pháp nghệ thuật (1962).  Sau này các tác giả của Viện văn học cũng biên soạn các sách như Mấy vấn đè lí luận văn học, (1970), Văn học, cuộc sống, nhà văn[24](1978),  đều trình bày các tri thức chung về văn học.  Ngoài ra còn có sách về Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Lich sử đấu tranh tư tưởng trong văn học của Vũ Đức Phúc (1973)… Nhìn chung các giáo trình và chuyên luận  đều dựa vào các giáo trình của Trung Quốc, Liên Xô, dựa vào Đường lối văn nghệ của Đảng  để biên soạn, có lưu ý đưa vào các ví dụ của văn học Việt Nam, bên cạnh các ví dụ từ văn học thế giới, gắn liền với đời sống văn học, tư tưởng của nước nhà. Tuy có nhiều cố gắng nhưng dấu ấn chính trị hóa, đơn giản, sơ lược còn rất nặng.

2.2.Sự tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác xít từ nguồn Liên Xô,Trung Quốc là rõ rang, song trong biểu đạt cũng có những  điểm điều chỉnh, cụ thể hóa theo ngữ cảnh lịch sử cụ thể, nhưng rất ít, không quan trọng, không căn bản. Ví dụ, về tính chất nền văn nghệ  mới, theo cách nói của Stalin, là  có nội dung xã hội chủ nghĩa và hình thức dân tộc, Mao Trạch Đông cũng nói thế, trong Đề cương văn hóa năm 1943, cũng nói y như thế. Song, trong Báo cáo tại Đại hội văn nghệ lần thứ hai, 1957, Trường Chinh đã thay đổi thành  “nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc[25]. Về nguyên tắc tính Đảng Lênin đã  nói những vấn đề nguyên tắc, không ai có thể vượt qua.  Trường Chinh cụ thể hóa thành tiêu chí tính đảng của nhà văn và tính đảng của tác phẩm. Trường Chinh cũng cố gắng đưa ra định nghĩa của mình về điển hình hóa, về thơ. Về căn bản lí luận Mác Lênin Việt Nam không khác gì so với lí luận văn học chính thống của  các nước anh em, chỉ có điều đi sau họ. Sự tiếp nhận lí luận Liên Xô, Trung Quốc không thay thế được các vấn đề lí luận đặt ra trong thực tiễn Việt Nam. Thực tiễn đòi hỏi có những vấn đề phải cụ thể hóa, thảo luận them cho thấm nhuần, đồng thời cũng bộc lộ những khiếm khuyết  sâu sắc. Theo dõi trên Tạp chí nghiên cứu văn học, ngoài các bài giới thiệu, dịch thuật từ các tác giả kinh điển và các học giả Liên Xô, Trung Quốc, chúng ta còn đặt ra và bàn luận về một số vấn đề như tô hồng, bôi đen, về thể kí, hư cấu trong kí, viết lịch sử văn học, xây dựng nhân vật anh hung, vấn đề tính đảng….Các công trình nghiên cứu vẫn nằm trong cái khung đề cao chủ nghĩa hiện thực, coi như là thành tựu cao nhất của nghệ thuật của nhân loại. Ví dụ Hà Minh Đức, Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, 1961; Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1966), Đỗ Đức Dục, Balzac bậc thầy của chủ nghĩ hiện thực phê phán (1966), Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây, (1981), Chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du (1990); Nguyễn Đức Đàn, Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, 1973…;  còn văn học lãng mạn (trừ lãng mạn cách mạng) đều thuộc loại xa rời cuộc sống, thoát li thực tại, có nhiều tác hại, ví như Phong trào thơ mới của Phan Cự Đệ, 1966. Nghiên cứu thể loại văn học là lĩnh vực ít được đề cập, song vẫn có một số công trình đáng chú ý, ví dụ như Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, 2 tập của Phan Cự Đệ (1974, 1975); Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, 1974 của Hà Minh Đức. Công trình của Phan Cự Đề nghiên cứu tiểu thuyết qua giác độ phương pháp sáng tác , các phép điển hình hóa hiện thực và điển hình hóa lãng mạn chủ nghĩa; công trình của Hà Minh Đức chủ yếu nghiên cứu thơ trong các quan hệ với đời sống, đặc biệt là thơ với hiện thực. Cả hai công trình đều  có hướng vận dụng tổng hợp các vấn đề lí luận văn học, tuy ít đi sâu vào đặc trưng thể loại. Các trào lưu hiện đại chủ nghĩa thuộc loại suy đồi, bế tắc chỉ là đối tượng của phê phán.  Các công trình khẳng định văn học cách mạng, về văn xuôi, về thơ ca, về thể kí đều nằm trong nhu cầu khẳng định thành tựu của văn học cách mạng, được đánh giá về các mặt tính hiện thực, tính chiến đấu, tính lí tưởng, lãng mạn cách mạng. Do bị ràng buộc với nhu cầu của việc phản ánh đời sống cách mạng trước mắt, các cuộc bàn luận cũng chưa có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ về lí thuyết, trái lại có chỗ sơ lược hóa lí thuyết, dung tục ví như quan niệm “đề tài, chủ đề, cách thể hiện rõ ràng là một biểu hiện của tính đảng” khiên cho văn học đồng nhất với tuyên truyền, trở nên đơn nghĩa, thiếu sự phong phú, đa dạng. Việc vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp để miêu tả các cuộc đấu tranh tư tưởng văn nghệ trong quá khứ  thường có xu hướng cực đoan, chụp mũ “troskit”, “đội lốt mác xít”, “tư sản phản động”…Nhìn chung các  cuộc tranh luận  về lí thuyết hầu hết đều kết thúc bằng việc khẳng định quan điểm đúng đắn của đường lối của Đảng lãnh đạo hoặc tư tưởng khoa học mác xít chính thống. Khiếm khuyết lớn nhất trong lí thuyết văn nghệ Mác xít Việt Nam là đồng nhất văn nghệ với công tác chính trị, xem văn nghệ là một bộ phận của chính trị, là vũ khí (công cụ) sắc bén  của chính trị (văn nghệ nằm trong chính trị – Hồ Chí Minh), giới hạn đề tài chủ đề, xung đột, nhân vật trong phạm vi chính trị, đấu tranh địch ta, mới cũ, giới hạn trong khuynh hướng ngợi ca chế độ, biểu hiện con người mới, cuộc sống mới của chế độ, ngợi ca sự lãnh đạo của đảng , biểu hiện các nhân vật anh hùng, chiến sĩ, lãnh tụ  của đảng và dân tộc,  khiến cho nhà văn cảm thấy gò bó, văn học không tránh khỏi đơn điệu, sơ lược. Việc hiểu sơ lược nguyên lí phản ánh hiện thực theo lối phản ánh “như thật”, văn học phản ánh các phong trào, các cuộc thi đua, các chiến dịch, các loại đề tài công nhân, nông dân, phụ nữ, coi trọng người thật việc thật, lấy người thật làm nguyên mẫu…khiên cho văn học gần với báo chí, nhiều “lượng thông tin”, mà ít rung động tâm hồn, thẩm mĩ. Những cách tiếp nhận có phần lệch lạc ấy về quan hệ văn học với chính trị và văn học với hiện thực, khiến cho lí luận đã góp phần hạn chế sự phát triển tự nhiên của văn học. Khiếm khuyết này trong lí luận Mác xít Việt Nam cũng tương đồng với lí luận Mác xít ở Liên Xô, Trung Quốc trong  những thời kì nhất định của họ. 2.3.Sự tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác xít chính thống của các nước xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là từ chối, hay đúng hơn là chống lại các lí thuyết được coi là duy tâm, tư sản, xét lại, phi Mác xít. Đây là đực điểm của Mác xít chính thống, không có trong Mác xít phương Tây.  Hầu hết trong các văn kiện, bắt đầu từ Đề cương văn hóa năm 1943 cho đến các báo cáo bài viết về sau của Trường Chinh, Tố Hữu, cho đến các giáo trình lí luận văn học, các chuyên luận nghiên cứu các vấn đề văn học, việc phê phán đấu tranh chống các trào lưu tưởng phi Mác xít, phản Mác xít ở trong nước và ngoài nước luôn luôn là nhiệm vụ thường trực. Tiêu biểu cho thái độ chống đối các tư tưởng thù địch là các bài viêt lên án nhóm Nhân văn – Giai phẩm của Trường Chinh, Tố Hữu cùng đông đảo văn nghệ sĩ trong sách Bọn Nhân văn Giai phẩm trước tòa án dư luận ( tiến hành năm 1956 – 58, nxb. Sự Thật, Hà Nội 1959), Chống quan điểm phi vô sản của ông Trương Tửu về văn nghệ , Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, 1957; hoặc bài phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại của Tố Hữu năm 1964.  Theo dõi Tạp chí Nghiên cứu văn học,( sau đổi thành Tạp chí văn học) có thể thấy tạp chí từ khi ra đời cuối năm 1959 một mặt giới thiệu, phiên dịch các tài liệu lí luận văn học Mác xít của các nước Liên Xô, Trung Quốc, tình hình văn học Trung Quốc được theo rất sát, mặt khác, không quên các di sản văn học thế giới từ thời cổ đại đến chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX, đồng thời thường xuyên viết lên án hoặc phiên dịch các bài viết lên án chủ nghĩa tự nhiên, các trào lưu văn nghệ và lí luận của chủ nghĩa hiện đại, coi đó là kẻ thù của lí trí (A. Egorov), phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại.  Trên tạp chí tính từ năm 1962 đã có các bài đấu tranh tư tưởng qua cuốn sách Các phương pháp nghệ thuật của Lê Đình Kỵ[26], phê bình các tác phẩm thiếu tính đảng và có xu hướng xét lại như Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, Sương tan của Hoàng Tiến, Vào đời của Hà Minh Tuân, phê phán thuyết “phá vỡ lôgich cuôc sống” của Mai Thúc Luân, phê bình  sự phi lí trong tiểu thuyết Camus, chủ nghĩa hiện sinh J. P. Sartre, phê bình Võ Phiến và văn học phản động tại đô thị miền Nam, phê phán quan điểm sai trái của R. Garaudy về chủ nghĩa hiện thực không bờ bến, trao đổi ý kiến về ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn văn học và đời sống[27] (Nguyễn Văn Hạnh), phê phán chủ nghĩa cấu trúc, vạch mặt phản động của nhà văn Liên Xô Sogenitxyn, phê phán văn nghệ thực dân mới, phê phán luận điểm của Hoàng Ngọc Hiến về văn học phải đạo…[28]… Tư liệu trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn cũng cho thấy kết quả tương tự[29].  Ngoài ra còn có những công trình chuyên luận tập trung phê phán các tư tưởng thù địch. Ví dụ như cuốn Bàn về phương pháp luận nghiên cứu văn học của Vũ Đức Phúc (1973) phê phán hết thảy các phương pháp nghiên cứu của phương Tây, cuốn Chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn học nghệ thuật một số nướ của Hoàng Xuân Nhị, nxb. Trường đại học tổng hợp, Hà Nội, 1974, tập trung phê phán Vitma ở Nam Tư, H. Lefèbre ở Pháp, “bọn Mác luận” tiêu biểu là R. Garaudy ở Pháp và  G. Lukacs ở Hung gary, Phise ở Áo. Đỗ Đức Hiểu viết cuốn Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, nxb Văn học,1978  với nhiệt tình thực hiện nghị quyết của Đại hội đảng lần thứ tư, phê phán các tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, trong đó phê phán tư tưởng hiện sinh của Kierkega, Nitse, J.-P. Sartre, Simon de Bauvoi, Kafka, Camus, Francoise Sagan, các kịch phi lí;  Hoàng Trinh viết Phương Tây văn học và con người, 2 tập, nxb KHXH, Hà Nội,1969,  1971, đã phê phán hầu hết các trường phái văn học phương Tây tư sản. Sau giải phóng miền Nam có phong trào phê phán văn hóa thực dân mới của đế quốc Mĩ. Nhiều bào báo và cuốn sách thực thi nhiệm vụ này. Có thể kể  cuốn sách của Lữ Phương: Cuộc xâm lăng về văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1981, Trần Trọng Đăng Đàn, Nọc độc văn hóa thực dân mới của Mĩ, nxb TPHCM, 1983, Trần Trọng Đăng Đàn, Văn hóa thực dân mới của Mĩ, KHXH, Hà Nội, 1987,, Văn hóa văn nghệ miền Nam Việt Nam 1954 – 1975, nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1993;  Lê Đình Kỵ, Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mĩ Ngụy, nxb TPHCM, 1987;…Các công trình nói trên đã vạch một đường ranh giới tư tưởng cứng rắn, không thể vượt qua giữa văn nghệ theo quan điểm Mác xít và văn nghệ theo quan điểm tư sản, phi mác xít, phản động hiện đại. 2.4. Bước sang giữa năm 1979 trên Tạp chí văn học  Viện văn học cũng như trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam đã thấy những dấu hiệu mới. Đó là Hoàng Trinh giới thiệu lí thuyết thông tin, Vương Trí Nhàn trích dịch ý kiến của Bakhtin, lược thuật khái niệm thi pháp ở Liên Xô, Lê Sơn, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân  giới thiệu về văn học so sánh, Nguyễn Lai  nếu quan hệ văn học và ngôn ngữ, nêu khả năng phân tích văn học từ ngữ nghĩa học, giới thiệu lí thuyết tiếp nhận, Lại Nguyên Ân giới thiệu vấn đề nhịp điệu, không gian thời gian trong nghệ thuật, Trần Đình Sử  đăng bài nghiên cứu thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều, Phan Ngọc công bố một số nghiên cứu theo lối cấu trúc, Trần Thị Mai Nhi viết về chủ nghĩa hiện đại phương Tây… Một không khí cởi mở dần dần đối với li luận văn học  phương Tây bắt đầu. Năm 1979 cũng là năm Hoàng Trinh cho xuất bản công trình Kí hiệu, nghĩa và phê bình văn học ở nxb Văn học, đánh dấu một thái độ mới đối với mĩ học hiện đại phương Tây. Bức tường ngăn cách giữa lí luận văn học Mác xít với lí luận văn học thế kỉ XX của nhân loại bắt đầu loảng ra, le lói những ánh sáng mới, bào hiệu một thời đại lí luận văn học mới ở nước ta sẽ đến. Chỉ mấy năm sau Đại hội VI của Đảng chủ trương Đổi mới, “cởi trói”, một thời đại mới trong văn học dân tộc và tiếp nhận lí luận văn nghệ  bắt đầu. Tóm lại, chủ nghĩa Mác và lí luận văn nghệ Mác xít không nảy sinh ở Việt Nam, mà được du nhập vào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Đảng đã chủ trương tiếp nhận chủ nghĩa Mác và  lí luận văn học Mác xít chính thống của Liên Xô, Trung Quốc đẻ làm vũ khí cách mạng, kiên quyết chống lại mọi thứ lí thuyết phi, phản mác xít chính thống, khẳng định văn học là vũ khí sắc bén của ý thức hệ xã hội, văn học phản ánh đời sống, văn học phục vụ chính trị, do đảng lãnh đạo, nêu cao tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc của văn học. Chúng ta tiếp hận Mác xít như một hệ thong nguyên tắc, tín điều để vận dụng, chứ không nhằm phát triển nó, chúng ta không có những nhà mác xít lỗi lạc, nổi tiếng thế giới như các nước khác. Tuy vậy lí luận ấy đã có tác dụng to lớn trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, đã hình thành một nền văn nghệ mới giàu sức chiến đấu, đóng góp cho sự nghiệp cách mạng và đấu tranh thống nhất nước nhà.  Trong không khí đấu tranh tư tưởng ngặt nghèo lí thuyết ấy khó tránh khỏi khuyết điểm giáo điều, xơ cứng, ít có điều kiện để phát triển, tỏ ra sơ lược và nghèo nàn so với thực tế văn học. Có thể đối với nhiều nhà sang tác, nó vẫn có tính chất ngoại lai, thiếu ăn nhập. Trong thời đại xây dựng đất nước trong hòa  bình, lí thuyết ấy tỏ ra không theo kịp đời sống văn học. Trong điều kiện Đảng vẫn lãnh đạo đất nước và sự nghiệp văn nghệ, nguyên tắc ý thức hệ vẫn duy trì, song toàn bộ các mối quan hệ văn học và đời sống cần phải được tư duy lại, đòi hỏi phải thay đổi, bổ sung, làm lại. Đó sẽ là nội dung của giai đoạn lí luận văn học sau.

[1] Các nhà Mác xít phương Tây không coi chủ nghĩa Mác là hệ tư tưởng. Louis Althusser (1915 – 1990) trong sách Bảo vệ Các Mác đã viết tại lời Tựa rằng: “Bản thân trước tác của Marx là khoa học, thế mà người ta cứ bắt chúng ta coi nó là hệ tư tưởng nói chung. Do đó chúng ta phải rút lui, và từ trong tình trạng hỗn loạn đó phải bắt đầu ôn lại những kiến thức cơ bản”.. Xem bản dịch Trung văn, Thương vụ ấn thư quán,  Bắc Kinh, 1984, tr. 2.

[2] Mác và Angghen toàn tập, tập 19, nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995.

[3] V. I. Lenin. Mác , Angghen và chủ nghĩa Mác, nxb. Sự thật, Hà Nội,1957, in lần thứ 3. [4] Timofeev L. I. Turaev  S. V. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong Bách khoa thư rút gọn, Tập 7, nxb Bách khoa xô viết, Matscva, 1972.  Theo mục từ “Đại hội lần thứ nhất Hội nhà văn Liên Xô” trong Vikipedia mở tiếng Nga cho biết, Trong Hội nghị, nhà văn Alexandr. Fadeev đã băn khoăn,  như thế thì phương pháp này rồi sẽ tạo ra những tác phẩm giả tạo. Con Nikolai Bukharin thì nói nhà văn nhà thơ cố gắng thoát khỏi sự sang tác theo mệnh lệnh.. chứng tỏ phương pháp này khi vừa được thông qua, đã gây lo lắng cho không ít nhà văn.

[5] Thư mục dẫn theo E. Kovalchik trong bài Văn học vô sản và xã hội chủ nghĩa trong Thư viện điện tử nền tảng về văn học và Folklor Nga

[6] Xem: Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Nguyên lí mĩ học Mác – Lenin, tập 3, Hoàng Xuân Nhị dịch, nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1963. C. M. Petrov. Sự nảy sinh và hình thành của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nxb. Giáo dục, Matscva, 1976.

[7] Xem:  Đồng Khánh Binh, Nền tảng của lí luận văn nghệ Mác xít, Tạp chí Đông cương học san, soos10 – 2004 quyển 21, kì thứ 4

. [8] Trong Đại hội Đảng, nhà văn Sholokhov đã phê bình A. Fadeev từ một nhà văn tài năng tự biến thành người ngồi bàn giấy, khiến cho văn hộc 20 năm qua phần lớn không có mấy giá trị, tác phẩm có giá trị chỉ đếm bằng ngón tay. Cũng năm này sau đó ít lâu  Fadeev tự sát.

[9] Năm 1958, sau khi tiểu thuyết Bác sĩ Givago của B. Pasternac xuất bản ở Italia, rồi được giải thưởng Nobel,  Hội nhà văn Liên Xô đã coi nhà văn là phản bội, khai trừ nhà văn ra khỏi hội và sau đó được sự đồng ý của N. Khrutshev,  nhà văn có thể rời khỏi Liên Xô vào tháng chạp năm 1958

[10] Các sách này ở Việt Nam sang đầu thế kỉ XXI mới được xuất bản.

[11] Mao Trạch Đông bàn về văn nghệ, Hồ Tố Ngọc dịch, nxb. Văn học, Hà Nội, 1959. Trước đó Nam Mộc dịch, xuất bản  1955.

[12] Lí Phu Sinh. Diễn ngôn lí luận phê bình Mác xít Trung Quốc giai đoạn 1919 – 1949. Nxb Hồ Nam nhân dân xuất banbr xã, 2010.

[13] Từ ý kiến này mà sau đó thịnh hành công thức phân tích sáng tác văn học: “1. Giá trị tư tưởng; 2. Giá trị nghệ thuật” mà ngày nay ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam vẫn được nhiều người ưa chuộng.

[14] Đặng Tiểu Bình. Lời chúc mừng. Trong sách: Trung Quốc tân văn nghệ đại hệ, 1976 – 1982, Lí luận, Tập thượng, nxb Văn Liên, Bắc Kinh, 1988. Tr. 1 – 4.

[15] Trần Đình Sử. Một nền lí luận văn học hiện đại, Nhìn qua thực tiến Trung Quốc, nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội, 2012.

[16] Xem: Đề cương văn hóa Việt Nam, chặng đường 60 năm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004., tr.  15 – 21.

[17] Xem: Phương Lựu. Thử tự giải đáp một đôi điều. Tạp chí văn học, số 10 năm 2001, tr. 13 – 20. Xem them. Phương Lựu. Nhìn lại nửa thế kỉ Lí luận hiện thực xã hội chủ nghiaxowr Việt Nam (1936 – 1986). Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, 182 tr.

[18] Có thể kể Mao Trạch Đông bàn về văn nghệ (Văn học, 1955, 1959), Mác , Angghen  bàn về văn học và nghệ thuật, ST, 1958, Chủ nghĩa Mác và những vấn đề ngôn ngữ, Stalin, (1955, 1958); Mác, Angghen bàn về văn học  và nghệ thuật của Jean Freville (1962),Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, Lục Định Nhất,( ST, 1956); Văn hóa xô viết là văn hóa tiên tiến nhất thế giới, (ST, 1956); Tự do sáng tạo trong văn nghệ, Kudnetxov, Lukin, (ST. 1957); Tổ chức Đảng và văn học Đảng, V. Lenin, (ST, 1957); Văn nghệ là gì, G.. Nicolaeva,( 1957); Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là gì, Kudnetxov, Trofimov,( 1958); M. Gorki, (1958); Một cuộc tranh luận lớn trong văn nghệ, Chu Dương, (1958); Giới văn nghệ Trung Quốc chống phái hữu, Thiệu Thuyên Lân, Lục Định Nhất, (1958); Giới thiệu cuộc đấu tranh chống phái hữu và cao trào thi đua tự cải tạo tư tưởng của trí thức Trung Quốc (1958); Nội dung và hình thức trong  nghệ thuật, Vanslov, (1959); Hình tượng nghệ thuật, Radumnyi,Bagienova (1960); Bàn về văn học, nghệ thuật, Lenin, (1960); Tính nhân dân của nghệ thuật, Vaslov, (1960); Phê phán các khuynh hướng chủ yếu trong nghệ thuật và mĩ học phản động tư sản hiện đại (ST, 1960); Nguyên lí lí luận văn học, Timoffeev, (1962); Hình tượng nghệ thuật (An. Dremov, (1964)… [19] Xin xem: Văn nghệ vũ khí sắc bén, nxb Văn học, Hà Nội, 1962; Không ngừng nâng cao tính đảng trong văn nghệ, nxb. Văn học, Hà Nội, 1962

[20] Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ NGuyên Giáp, Nguyenx Chí Thanh. Về văn hóa văn nghệ, nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1972, in lần nhất  năm 1864, thứ ba có bổ sung.

[21] Tố Hữu, Xây dựng một nề văn nghệ lớn, xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta., nxb. Văn học, Hà Nội, 1973.

[22] Hồng Chương. Lí luận phê bình văn học và nhiệm vụ chính trị. Tạp chí văn học, số 6 – năm 1973.

[23] Trong thời kì này chúng ta dịch và giới thiệu các công trình lí luận của M. Khrapchenco, B. Suchkov, A. Bocharov, D. Markov, D. Likhachev, E. Sidorov…

[24] Cuốn này dự báo sẽ xuất bản hai cuốn nữa, nhưng không rõ vì lí do gì mà không  viết tiếp được..

[25] A. Fadeev giải thích hình thức dân tộc như sau: “Thế nào là hình thức dân tộc trong nghệ huật? Đó trước hết là ngôn ngữ dân tộc. Như thế cũng có nghĩa là tinh thần và lối nói độc đáo của mỗi dân tộc đã được thể hiện trong văn học dân gian hang trăm năm. Điều đó có nghĩa là truyền thống văn học cổ điển của dân tộc, nhất là trong thi ca. Điều đó có nghĩa là, cuối cùng, cái khí chất, tính cách dân tộc không lặp lại, các đực điểm tâm lí, cảm xúc,  củ nhân dân, là cái đã tạo ra mùi vị, hương thơm của mỗi nền nghệ thuật dân tộc.” Theo cách giải thích này thì nói tính chất hợp hơn là nói hình thức. Xem: S. M. Petrrov. Những vấn đề lí thuyết cơ bản của chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực phê pohans, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nxb. Giáo dục, Mascva, 1976, tr. 260.

[26] “Lỗi” của Lê Đình Kỵ là nói đến phương pháp sang tác độc đáo, coi nhẹ phương pháp chung; là xem điển hình văn học là cái có ý nghĩa toàn nhân looaij theo quan niệm của S. Petrov đương thời. Có thể xem như xung đột giữa tiếp nhận Liên Xô và tiếp nhận Trung Quốc.

[27] Đây là lần đầu tiên trong lí luận Việt Nam nêu ra vấn đề tiếp nhận văn học, nhưng rất tiếc đã bị bỏ qua.

[28] Xem Tổng mục lục Tạp chí Nghiên cứu văn học, nxb. Văn học, Hà Nội, 2013.

[29] Xem : Biên niên hoạt động văn học Hội nhà văn Việt Nam, 1957 – 1975, Tập 1, nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2013.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to Tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác Lê nin ở Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986

  1. Pingback: Tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác Lê nin ở Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986 | CÓP NHẶT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s