Bàn về thuật ngữ cốt truyện

Bàn về khái niệm cốt truyện
Trần Đình Sử
Cách đây không lâu tôi có bài viết về cách dịch thuật ngữ có tên Cần sửa lại một thuật ngữ dịch sai, đăng trên tạp chí Sông Hương và tạp chí văn học. Trong bài đó tôi cho rằng dịch thuật ngữ tiếng Nga siuzhet thành cốt truyện như trong nhiều tài liệu dịch của chúng ta lâu nay là sai, và đề nghị dịch nó thành truyện, truyện kể. Qua một thời gian, tôi thấy bài đó có mấy khuyết điểm sau: 1. Dịch siuzhet thành truyện kể có chỗ chưa sát; 2. Chưa nói rõ được trong trường hợp nào thì dịch và sử dụng thuật ngữ cốt truyện. Trong bài này tôi xin bàn thêm về hai khía cạnh đó.
1. Xét từ cội nguồn thuật ngữ cốt truyện
Cội nguồn xa xưa nhất của thuật ngữ cốt truyện có lẽ là ở trong tác phẩm Thi pháp học của Aristote. Sách này chúng tôi đọc qua các bản dịch Viêt, Nga, Trung. Trong Thi pháp học chương VI khi nói về hành động như là đối tượng mô phỏng của bi kịch ông hiểu nó như là câu chuyện, truyền thuyết, huyền thoại (tiếng Nga dịch là skazanie hay fabula, mif, legenda, prodanie, tức là các truyện có sẵn, truyền thống. Trong các trường hợp này bản tiếng Trung đều dịch thành “tình tiết”, bản tiếng Việt dịch thành “cốt truyện”. Tôi nghĩ, dịch như thế là không hoàn toàn đúng, bởi Aristote nghĩ đến các câu chuyện có sẵn và hiểu chúng là hành động cần mô phỏng, chứ không phải là bộ phận của câu chuyện (cốt truyện hay tình tiết chỉ là bộ phận của câu chuyện). Cũng ở chương này theo bản tiếng Nga ( do M. L. Gasparov dịch, xb. Tại nxb. Khoa học. Mascova, 1978) ông nói “Tôi hiểu câu chuyện là sự tổ hợp (kết hợp, phối hợp ) các sự kiện”. Tiếng Nga là “sochetanie sobytii”. Bản tiếng Việt dịch là “Tôi hiểu cốt truyện là sự kết hợp các sự kiện” (tr. 35, Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long, nxb. Văn học, 1999). Bản tiếng Trung của La Niệm Sinh, nxb Nhân dân văn học, Bắc Kinh, 2000, tr. 20) dịch “tình tiết là sự an bài các sự kiện”. Trong khái niệm câu chuyện hiểu như là hành động này Aristote đã phân biệt hành động với sự kể chuyện (tiếng Nga là povestvovanie), bản Gasparov, tr. 20. Như thế khái niệm câu chuyện ở đây thuần túy là khái niệm về sự kiện, hành động, không gắn với lời kể. Câu chuyện đây cũng là một trong 6 thành phần của kịch, bao gồm: câu chuyện, tính cách, lời nói, ý nghĩ, cảnh bài trí sân khấu và âm nhạc. (tr. 120). Câu chuyện ở đây chỉ thuần túy là sự kiện, hành động, thậm chí không bao gồm ý nghĩa, lời nói, nhân vật (tính cách). Nói thế để thấy câu chuyện ở đây là khái niệm về hành động, sự kiện thuần túy. Tiếp theo sau Aristote nói đến cấu tạo của hành động bao gồm ba phần. Phần mở đầu, phần thân và phần kết thúc. Phân mở đầu là phần mà trước nó không có gì hết. Phần kết là phần mà sau nó cũng không có gì nữa. Như vật hành động – câu chuyện là một cấu trúc phát triển tự than, từ mở đầu cho đến hết. Đây là mầm mống của khái niệm cốt chuyện 5 thành phần, gồm 1. Khai đoan, 2. Thắt nút, 3. Phát triển, 4. Cao trào hay đỉnh điểm, 5. Mở nút (kết thúc). Đây là cốt chuyện, cốt của câu chuyện, hay là cấu trúc của câu chuyện. Như thế, câu chuyện, cốt chuyện là khái niệm chỉ cái phần sự kiện, hành động của câu chuyện. Suốt một thời gian dài gần 20 thế kỉ, mọi người đều sử dụng khái niệm cốt chuyện (hay cốt truyện) theo ý nghĩa đó. Thuật ngữ này tương ứng với thuật ngữ tiếng Nga là fabula, với thuật ngữ tiếng Anh là Plot. Tiếng Pháp viết là histoire hay récit đều phản ánh nghĩa truyện kể hay câu chuyện.
2. Sự cách tân của Victor Shklovski và trường phái hình thức Nga.
Tôi chưa biết thuật ngữ siuzhet xuất hiện trong tiếng Nga từ hồi nào, do ai đề xuất, song căn cứ vào tác phẩm Thi pháp học lịch sử của ông A. Veselovski thì có thể luận ra rằng, thuật ngữ cốt truyện bắt nguồn từ Aristote chủ yếu nhằm chỉ cốt truyện kịch. Mọi người đều biết trong hai phương diện trần thuật và mô phỏng mà Platon đã nêu từ thời cổ đại Hy Lạp, Aristote chỉ tập trung nói về mô phỏng (mimesis), mà không nói về trần thuật (diegesis). Đối với ông, mô phỏng hành động có nghĩa là đem các câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết mà chuyển thể lên sân khấu, đó là các câu chuyện có sẵn. Đề đời sau, khi văn học trần thuật phát triển, một mặt người ta sử dụng các cốt chuyện có sẵn rồi biến hóa đi, lien kết với nhau để thành truyện mới, mặt khác người ta sử dụng các sự kiện có sắn trong hiện thực đời sống để tạo ra chuyện mới, quan niệm chuyện kiểu Aristote tỏe ra không thích hợp, người ta nghĩ ra thuật ngữ khác và siuzhet ra đời. Theo Veselovski, Thi pháp học siuzhet (tên một chương trong Thi pháp học lịch sử của ông ) có mục đích là nghiên cứu cách mà các truyền thuyết, thần thoại được các nhà văn sử dụng trong các sáng tác cá nhân. Theo ông các truyện kể của các nhà văn chỉ là sự cải biên, lắp ghép các truyện có sẵn mà thành. Vì thế ông quan tâm đến mối quan hệ gữa mootip và siuzhet. Theo ông motip là đơn vị nhỏ nhất của tình tiết, ví dụ như mụ già độc ác ghét cô gái đẹp, người lấy thú vật làm vợ, anh hung cứu người đẹp. Siu zhets là sự kết hợp các motip khác nhau mà thành truyện mới. Sự kết hợp các motip gọi là tính siuzhet (siuzhethoct’). Đầu thế kỉ V. Shklovski rất thích ý tưởng của Veselovski. Xuất phát từ quan niệm xem nghệ thuật là thủ pháp, siuzhet văn học, tức truyện kể theo V. Shklovski, là sự kết hợp các mootip theo các thủ pháp nhất định. Từ đó, thuật ngữ siuzhet dung để chỉ câu chuyện ở một bình diện khác. Không phải là phương diện hành động, sự kiện như Aristote, mà là phương diện liên kết các motip. Theo cách hiểu của L. Vygotski, nhà tiểu thuyết khi cần có thể tiêu diệt câu chuyện để cấu tạo lại nhằm biểu hiện ý tưởng mới, lạ hóa. Siuzhet của ông là câu chuyện lạ hóa. Từ đó mà Shklovski đối lập siuzhet với fabula, đối lập sự kết cấu truyện với hệ thống hành động nhân quả. Ông hạ thấp vai trò của hành động nhân quả. Có thể nói, shklovski chủ trương một siuzhet không có chuyện. Từ cách hiểu này ta thấy không thể dịch siuzhet là cốt truyện được, vì nó không nói về hành động và chuyện. Trong siuzhet không có chuyện. Nếu vận dụng quan điểm của M. Bakhtin, cho rằng mỗi lời phát ngôn bao hàm một lúc hai sự kiện: sự kiện nói và sự kiện được nói đến, thì khái niệm siuzhet của Shklovski thiên về chỉ phương diện sự kiện nói, sự kiện kể chuyện của truyện kể. Từ cách hiểu này , nên dịch siuzhet là truyện kể hay là cốt truyện kể, nhằm phân biệt với thuật ngữ fabula dịch là cốt chuyện hay cốt truyện, chỉ phương diện hành động, sự kiện.
3. Thuật ngữ siuzhet trong tư tưởng của Iu. Lotman và tự sự học đương đại
Đến Cấu trúc văn bản nghệ thuật (1970), và nói chung trong hầu hết công trình nghiên cứu của mình, Ju. Lotman vẫn dung thuật ngữ siuzhet, song ông trở lại với nội hàm sự kiện, hành động của chuyện. Các nhà tự sự học hiện đại như Lotman, W. Schmid, khẳng định bản chất của tự sự là kể sự kiện, câu chuyện. Không có sự kiện thì không có tự sự. Lotman cho rằng chuyện, sự kiện là sự vi phạm điều cấm, hay nói cách khác là nhân vật bước qua ranh giới không cho phép. Trong văn bản, nếu có nhân vật vi phạm điều cấm, vượt qua ranh giới , thì cói là văn bản chuyện (siuzhet). Nếu văn bản, trong đó nhân vật không làm chuyện gì vi phạm điều cấm, không vượt qua ranh giới nào cả, thì tức là nhân vật khẳng định thế giới của nó, văn bản đó là văn bản không có chuyện, không có sự kiện (bessiuzhetnyi). Ví dụ, trong truyện ngắn Người đàn bà và cn chó nhỏ của Seekhov, trong đó nhân vật nữ và nhân vật nam đều chán cuộc sống trong gia đình mình, họ rong chới bên bờ biển, gặp nhau và yêu nhau say đắm, định sẽ từ bỏ gia đình cũ lấy nhau. Nhưng rồi không ai từ bỏ giai đình cũ, nghĩa là họ vẫn khẳng định gia đình cũ, cam chịu số phận. Đó là chuyện không có chuyện. Truyeenjngawns Hai đứa trẻ của Thạch Lam, kể chuyện hai chị em đêm dêm thức nhìn đoàn tàu đi qua với bao mơ ước thầm kín, nhưng vẫn sống trong thế giới cũ, không đổi thay, đó cũng là truyện không có chuyện. Trong trường hợp nay siuzhet dịch là cốt truyện hay chuyện, và các truyện mang tính chất như hai ví dụ trên gọi là truyện không có cốt truyện.
Tóm lại trong lí thuyết tự sự truyền thống, thuật ngữ fabula , plot dịch là cốt chuyện (hay truyện). Đối với siuzhet trong lí thuyết của trường phái hình thức Nga, hay trong lí thuyết văn học Nga đương đại nói chung sihet nên dịch là truyện kể hay cốt truyện kể, để phản ánh sự nghiêng về sự kiện kể, chứ không phải sự kiện nhân quả. Nhưng đối với lí thuyết tự sự học đương đại, khi vấn đề sự kiện được quan tâm trở lại, cân bằng với sự kiện kể, thì đối với văn bản tiếng Nga, siuzhet vẫn có thể dịch là cốt truyện, tùy theo trường hợp. Khi có ý đối lập với fabula thì dịch là truyện kể hay cốt truyện kể; khi không có sự đối lập ấy, tức là đồng nhất với fabula thì dịch là cốt truyện.

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Bàn về thuật ngữ cốt truyện

  1. Pingback: Tin thứ Năm, 09-10-2014 « BA SÀM

  2. Pingback: Anhbasam Điểm Tin thứ Năm, 09-10-2014 | doithoaionline

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s