Giải mã và các phương diện của nó

Giải mã văn bản và các phương diện của nó

 

D.I. Dubrovski

Trần Đình Sử (lược thuật)

 

     Thời gian gần đây trong giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam, do ảnh hưởng của trào lưu chuyển hướng ngữ học, kí hiệu học đã quan tâm nhiều đến vấn đề mã và giả mã. Không ít tên sách, chuyên luận có từ “giải mã”, tuy nhiên mã là gì và các bình diện của giải mã chưa thấy được đề cập. Bài này muốn góp phần bổ khuyết phần nào  cho khuynh hướng ấy.  

     Xét trên bình diện thông tin, các hệ thống tự tổ chức như cơ thể, xã hội, các quan hệ xã hội …đều có các quá trình thông tin và điều khiển đảm bảo mối liên hệ thống thông suốt cho quá trình tự tổ chức. Các quá trình thông tin đều thực hiện bằng các hệ thống mã và giải mã, vì thế nghiên cứu các hệ thống mã và giải mã là điều kiện không thể thiếu để lí giải các quá trình thông tin. Phạm vi các quá trình trình thông tin rất rộng. Nó bao gồm các quá trình thông tin giữa cơ thể và môi trường, thông tin trong nội bộ cơ thể, trong các điều khiển cơ giới, giữa các chủ thể với nhau trong các phương tiện truyền thông, các quan hệ giao tiếp người với người, thể hiện qua văn bản và con người. Trong bài này chúng tôi chỉ nói đến quá trình thông tin lập mã và giải mã nói chung, chưa đề cập đến mã và giải mã trong văn bản văn học.   

      Mã là những yếu tố cụ thể mang thông tin nhất định, đó là các tín hiệu, kí hiệu, biểu tượng, hình tượng, là nhân tố trung tâm của hoạt động giao tiếp giữa người và người băng văn học nghệ thuật. Mỗi tín hiệu mang thông tin gọi là mối phụ thuộc về mã. Sự phụ thuộc về mã khác với phụ thuộc vật chất là thông tin có tính chất bất biến, có thể truyền đạt bằng các yếu tố mang thông tin có thuộc tính vật lí khác nhau, một hệ thống vật chất có thể mang các thông tin khác nhau. Ví dụ đám mây mang thông tin về mây thì không phải mã, nhưng nếu nhìn mây trắng mà nhớ nhà thì lại là mã. Mây có thể biểu hiện nhiều nghĩa khác nữa tùy theo sự quy ước. Mã tiêu biểu nhất là mã ngôn ngữ tự nhiên (tiếng mẹ đẻ của các dân tộc), trong đó không chỉ âm, từ, cụm từ, câu đoạn, lời nói, văn bản đều có mã của nó. Cách đọc âm, cách tạo từ, ngữ pháp, các kiểu câu, trật tự sau trước…đều là mã. Sự phụ thuộc về mã bao gồm quy tắc lập mã và cách sử dụng mã, được hình thành một cách lịch sử giữa một thông tin và yếu tố tín hiệu, kí hiệu  mang nó. Yếu tố mang thông tin có các thuộc tính như năng lượng, không gian, thời gian, có cấu tạo cụ thể, mang một “ý nghĩa” xác định đối với một hệ thống tự tổ chức, một ý nghĩa chức năng, tức là một thông tin. Do đó yếu tố mang thông tin ấy chính là mã của thông tin đó. Thông tin (ý nghĩa, chức năng) không tồn tại bên ngoài yếu tố mang nó, không tồn tại ngoài mã (code) nhất định. Do đó giải mã tức là hiểu thông tin, chỉ ra thông tin trong mã. Giải mã là một nhiệm vụ nhận thức nói chung, nhận thức thông tin, khác biệt với nhiệm vụ nhận thức của khoa học nhằm phát hiện quy luật của giới tự nhiên hay xã hội.

      Đặc điểm chung của khái niệm mã. Mã thể hiện các quan hệ phụ thuộc giữa một thông tin và yếu tố mang nó. Sự phụ thuộc này là hành vi tự tổ chức của hệ thống. Nó có thể rất bền vững, cũng có thể rất tạm thời, nhưng vẫn có hiệu lực trong hệ thống tự tổ chức như một nhân tố nhân quả và điều khiển. Trong một hệ thống phức tạp thì sự phụ thuộc về mã có nhiều trật tự  trên dưới khác nhau. Ví dụ trong một văn bản có mã của từ, ngữ, mã của câu, của điển cố, mã của bài, mã của hình tượng, mã của các biểu tượng như là những văn bản độc lập của văn hóa được sử dụng trong văn bản, có mối quan hệ liên văn bản, mã thể loại, mã phong cách, mã thời đại, có mã của người tạo văn bản, mã của người đọc văn bản.

     Bản thân mã là một yếu tố tự tổ chức.

     Tính chỉnh thể của hệ thống tự tổ chức là một sự liên kết theo cách riêng của sự trung tâm hóa mối phụ thuộc về mã theo một trật tự trên dưới, với tính tự trị cao độ của các cấp độ tổ chức được đưa vào không chỉ trong các quan hệ hợp tác, mà còn trong các quan hệ cạnh tranh. Tri thức, tư tưởng, khuynh hướng tình cảm, thiện cảm, ác cảm…có vai trò chi phối sự tạo lập mã của văn bản, nhưng tư tưởng là cái phần nhiều tác giả không nói ra, mà được mã hóa trong văn bản, cho nên người đọc thường phải đi tìm mã của nó..

     Khái niệm mã và thông tin liên quan nhau, không thể khám phá cái này mà không có cái kia. Nhưng khái niệm mã vẫn chưa được phân tích, nó bị chìm vào trong bóng tối của khái niệm thông tin. Nếu chúng tôi không nhầm thì hiện chưa có công trình nghiên cứu chuyên về mã, trong khi đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về thông tin.

     Phạm vi vận dụng của khái niệm mã

      Hiện có hai quan niệm. 1. Xem mã là thuộc tính của sự vật, do đó vật nào cũng có thông tin, cũng mang mã. Khái niệm mã bị đồng nhất với thuộc tính, vì vậy mã trở nên không cần thiết. Quan niệm này bị phê phán. 2. Mã chỉ thuộc hệ thống tự tổ chức, mã hóa là  bộ phận tạo thành tất yếu của các quá trình điều khiển, các quá trình cải tạo và truyền đạt thông tin trong mọi lĩnh vực của hiện thực. Giao tiếp là hoạt động tổ chức của con người, cho nên mọi hình thức giao tiếp đều là lĩnh vực vận dụng mã. Dưới một hình thức nào đó, sự mã hóa tồn tại  trong các quá trình nhận thức (Bách khoa triết học  Liên Xô, tập 2, M. 1962, tr. 548.). Mã hóa là sự tự tự tổ chức quan hệ thông tin. Trong khoa học, các tri thức mới được gọi bằng những thuật ngữ, biểu hiện các khái niệm, đó là mã hóa. Trong đời sông thường ngày, các hiện tượng đời sống, tự nhiên lặp đi lặp lại cũng hình thành các mã trong tâm thức. Hoa đào mùa xuân, Cúc mùa thu, Mây vàng báo hiệu gió, mây đỏ báo hiệu mưa, các triệu chứng của bệnh lí, các biểu hiện nét mặt biểu cảm, cách nhận dạng sự vật… Giá trị nhận thức được kí hiệu hóa.

      Khái niệm mã có mối liên hệ logic với cấp độ của các phạm trù triết học Nó có thể dùng để cắt nghĩa hàng loạt các khẳng định triết học về các hình thức vận động vật chất  của sinh vật và xã hội, về tính nhân quả và hợp mục đích, về các quá trình phản ánh, các hoạt động nhận thức và thực tiễn, cho nên các phạm trù, khái niệm triết học có ý nghĩa lớn. Các hoạt động giao tiếp như lời nói, các văn bản,, đặc biệt là các tác phẩm văn học, nghệ thuật đều là phạm vi vận dụng của mã.

      Giao tiếp tức là giải mã. Giải mã là phát hiện thông tin trong yếu tố mang thông tin. Chủ thể nhận thức cũng là một hệ thống tự tổ chức có sự phụ thuộc về mã. Việc chủ thể nhận thức khám phá được thông tin bằng cách giải mã phải xem là một tri thức có giá trị thực dụng và có giá trị ngữ nghĩa của thông tin đó. Về giá trị thực dụng chỉ có ý nghĩa đối với hệ thống tự tổ chức nhất định, và chỉ vì vậy nó mới được chủ thể nhận thức khám phá. Giải mã là quá trình và kết quả  giao tiếp của hệ thống tự tổ chức. Giao tiếp là một kiểu liên hệ và tác động qua lại của các hệ thống tự tổ chức.

      Giải mã là một nhiệm vụ nhân thức, thế nhưng thao tác giải mã lại vượt ra ngoài phạm vị hoạt động nhận thức và hoạt động tự giác. Bởi đây là lĩnh vực của giáo tiếp, trong đó có các cơ chế mã hóa, lưu giữ, truyền đạt thông tin, giải mã. Giải mã là một thao tác nền tảng, thể hiện sự hoạt động hợp mục đích và sự phát triển của mọi hệ thống tự tổ chức, nhưng quan trọng nhất là hoạt động giao tiếp trong xã hội dưới mọi hình thức.

       Giải mã là một hành vi hiểu. Hiểu là kết quả tích cực của giao tiếp của con người. Vậy mã hóa gắn với tự ý thức, tự cảm thấy, tự nhận biết.

       Thực chất thao tác giải mã. Giải mã và lập mã (mã hóa) không tách rời với nhau. Hai khái niệm này lúc đầu xuất hiện trong hoạt động làm mật mã (Cryptography). Ở đây lập mã và giải mã có nghĩa là cách thức tạo và giải mã các thông báo được tạo ra nhằm không cho những kẻ không mong muốn được biết. Mã hóa là quá trình lập mã, tức là quá trình dịch thông báo dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống kí hiệu đặc biệt mà  chỉ người nhận được quy ước mới hiểu được. Giải mã là dịch ngược trở lại các kí hiệu mã hóa thành ngôn ngữ thông thường. Tuy nhiên trong đời sống văn hóa của con người thuộc một cộng đồng quá trình mã hóa diễn ra một cách vô thức, theo quy tắc ước định tục thành. Các thành viên của cộng đồng sử dụng các mã chung, “tự nhiên”, nói chung không cần giải mã, bởi vì việc đó diễn ra một cách tự động.  

       Giải mã là chuyển một mã chưa biết thành một mã đã biết. Mã đã biết là mã mà nội dung thông tin của nó đã bộc lộ với hệ thống tự tổ chức một cách trực tiếp (nghĩa là hiểu ngay tức khắc, như là một yếu tố thuộc tính vật chất,  cấu trúc sự vật. Mã đã biết là ngôn ngữ tự nhiên, như tiếng Việt, tiếng Anh …đối với người bản ngữ, là văn hóa của bản tộc. Mỗi hệ thống tự tổ chức có một bộ mã là mã tự nhiên đối với nó, của nó, để tiếp nhân và truyền đạt thông tin của nó, đảm bảo cho hệ thống tồn tại và phát triển. Do đó trong nội bộ hệ thống đó không cần phải giải mã.

     Người ta chỉ cần phải giải các “mã khác lạ”, tức là mã chưa biết. Mã chưa biết bao gồm một phạm vi rộng lớn đối với một cộng đồng. Đó là ngôn ngữ, văn hóa dân tộc khác. Văn bản của người khác, đặc biệt là văn bản văn học, nghệ thuật, thế giới tự nhiên, xã hội mà ta chưa biết.  Giải mã là chuyển mã khác lạ thành mã tự nhiên của hệ thống tự tổ chức và đồng hóa, chiếm lĩnh thông tin đó. Sau khi đã giải mã rồi,  thì mã khác lạ lại trở thành mã tự nhiên của hệ thống.

       Mã tự nhiên của đầu óc con người. Hình ảnh chủ quan tồn tại ở trong đầu óc con người như thế nào? Lí thuyết phản ánh giản đơn nghĩ rằng đầu óc con người giống như cái máy chụp ảnh, nó chụp lại bức tranh thế giới xung quanh. Nhưng khoa học ngày nay cho biết, hình ảnh tâm lí tồn tại trong đầu óc, không phải dưới dạng coppy vật thể, mà với tính chất thông tin về khách thể tương ứng. Thông tin này được thể hiện trong một yếu tố mang nó, là hệ thống thần kinh vận động nhất định của bộ não.  Hệ thống đó là mã của hình tượng chủ quan được cảm biết. Quá trình mã hóa này hình thành suốt quá trình hình thành của loài người. Trong óc người chỉ có cái bộ mã ấy tồn tại một cách khách quan mà thôi, cái mã đó về cấu trúc, tổ chức không giống với  hình tượng. Và cá nhân lại cảm nhận một số mã đó  như là các hình tượng chủ quan. Khi tôi nhìn thấy cây nến đang cháy, thì trong thể nghiệm tâm lí đó, cái thông tin đã cấp sẵn cho tôi, dường như là trực tiếp, tự nó. Đó là đặc điểm của bất cứ tri giác có ý thức nào. Nhưng cái thông tin đó cũng tồn tại trong tôi và cho tôi chỉ dước hình thức mã. Nhưng các mã như thế không được chúng ta biết, ta không cảm thấy được. Chúng trong suốt và trở thành một bộ phận trong tổ chức của bản thân ta. Đó cũng là các “mã tự nhiên”. Như vậy người ta không phản ánh, không miêu tả, không cảm thấy được cái mã tự nhiên đó và dĩ nhiên không cần giải mã.

       Mã bên trong và mã bên ngoài. Vận dụng vào con người cụ thể như là một hệ thống tự tổ chức thì mã bên trong là các mã không được cấu tạo thành hình thức trong các hành vi giao tiếp với người khác, nó chỉ tồn tại và hoạt động trong hệ thống tự tổ chức ấy và chỉ để cho nó.

     Khi giao tiếp với người khác đòi hỏi phải cải tạo cái mã nội tại ấy thành các mã bên ngoài, tức là mã tự nhiên của xã hội. Thí dụ như mã tự nhiên bên trong đối với một người là mã trong đầu óc về hình tượng hồi ức mà người đó đã thể nghiệm, người ấy phải nói hoặc viết ra bằng lời những cảm thụ đó, tức là tạo ra mã tự nhiên bên ngoài. Con người là một hệ thống phức tạp, gồm nhiều cấp độ tự tổ chức. Nó có nhiều cấp độ giao tiếp: tế bào, cơ thể, các tổ chức, cá nhân, xã hội. Mỗi cấp độ đều có mã bên trong và mã bên ngoài. Xã hội loài người cũng là một hệ thống tự tổ chức phức tạp không kém. Tâm lí, ngôn ngữ, phong tục tập quán, các hệ thống biểu tượng, các hệ thống văn bản gồm thể loại, thể thức, phoing cách, nói chung là văn hóa với tư cách là hệ thống thông tin và truyền đạt, lưu giữ, cải tạo thông tin, lại càng là hệ thống tự tổ chức rất phức tạp. Ở đây cũng có mã bên trong và mã bên ngoài.

       Mã khác lạ cũng phân biệt thành mã bên trong và mã bên ngoài, mặc dù mã khác lạ chủ yếu là mã bên ngoài. Mã khác lạ bên trong là những cảm thụ, triệu chứng, tín hiệu chủ quan chưa được hiểu, tiêu cực về mặt nghĩa, chúng có nguồn gốc vô thức. Trong quá trình sáng tạo thường có các mã đó. Chúng đòi hỏi phải ngạc nhiên, trăn trở,  để ra những tư tưởng mới mâu thuẫn với những sơ đồ, quan niệm quen thuộc. Mã khác lạ bên trong này xuất hiện trong quá trình cá nhân tự giao tiếp với chính mình. Trong các sản phẩm văn hóa bao giờ cũng bao gồm các mã bên ngoài và các mã bên trong.

     Mã tự nhiên (bên trong và bên ngoài) mang thông tin dưới dạng thuần túy, dưới dạng mở ngỏ đối với sự hiểu, lí giải mà không cần nghiên cứu cấu trúc của tín hiệu, không cần phân tích yếu tố mang thông tin. Ta cảm nhận nụ cười của người khác một cách tức khắc trong ý nghĩa toàn vẹn của nó. Giải mã cái mã tự nhiên không nhằm  lí giải nội dung thông tin của nó, vì nó đã bộc lộ trực tiếp rồi, mà nhằm lí giải cấu tạo của nó (mã), về cấu trúc, tổ chức, thời gian, vật lí, hóa học của nó. Ngược lại, giải mã các mã khác lạ nhằm mục đích hiểu nội dung thông tin của nó. Ta phải nghiên cứu cấu tạo của cái mã khác lạ đó, tức là tìm ra cách lập mã của nó.

     Khi thực hiện các quá trình nhận thức ta đi tìm các thông tin mà ta quan tâm, hoàn toàn gạt ra ngoài việc xem xét mặt cấu tạo của yếu tố mang thông tin, là cái đã bộc lộ trực tiếp cho ta dưới dạng một mã tự nhiên. Khi ta không nhằm mục đích giải một mã tự nhiên thì chúng ta có thể bằng lòng với thông tin như nó đã có, và không quan tâm đến cấu tạo của mã. Chúng ta sử dụng mã tự nhiên mà không biết cấu tạo của nó, nhưng điều này không gây trở ngại cho việc dịch các mã xa lạ thành ngôn ngữ của mã tự nhiên, thành mã tự nhiên. Mã tự nhiên là không khí của họat động sống của chúng ta.

Mã là một đối tượng nghiên cứu đặc thù.

      Vấn đề dự đoán mã.

    Sự vận dụng mã trong các quá trịnh nhận thức có các tình huống chủ yếu sau đây.

1. Khi ta đã biết ý nghĩa thông tin của mã, nhưng không biết cấu tạo của mã. Ví dụ đọc bài thơ cảm thấy hay, nhưng không biết tại sao hay.

2. Khi ta đã biết cả hai. Ví dụ như khi ta đọc văn bản tiếng bản ngữ và hiểu nội dung thông tin lẫn mã của nó.

3. Khi ta tiếp xúc với mã nhưng không biết thông tin và cấu tạo của mã, ví dụ như giấc mơ. Ta biết giấc mơ, nhưng không hiểu nội dung và không biết mã của nó. Hoặc như khi tiếp xúc với một thứ ngôn ngữ đã chết.

4. Biết cấu tạo của mã mà không biết thông tin. Đó là khi đọc hiểu hết cả đoạn văn mà vẫn không biết thông tin của nó. Đó là trường hợp biết tiếng mà không hiểu văn.

      Nghiên cứu sự phụ thuộc về mã đòi hỏi có năng lực dự đoán mã, tức xác lập  các quá trình nhận thức nhất định, cái gì là đối tượng nghiên cứu (tức là mã). Năng lực tách bạch các khách thể và tạo một tình huống có vấn đề tương ứng đòi hỏi phải có tri thức về toàn bộ lớp khách thể được gọi là mã. Trong toàn bộ các lớp khách thể mã có thể giới hạn bằng việc xác định mã như là một thuộc tính của hệ thống tự tổ chức, như là hình thức tồn tại và hoạt động thông tin (các quá trình gìn giữ,truyền đạt và cải tạo thông tin, sử dụng thông tin,  như là các nhân tố điều khiển).

     Nhiệm vụ điển hình nhất trong việc giải mã nảy sinh trong khi nghiên cứu các hiện tượng sinh vật, tâm lí, xã hội, là như sau: Biết rằng khách thể đã cho là một mã, cần phải giải thích nội dung thông tin của nó. Nhiệm vụ là giải các thông tin bí mật là các ví dụ giản đơn.

Nhiệm vụ phức tạp hơn là giải mã các văn bản cổ xưa.

 Ở đây có khách thể rõ ràng, là một ngôn ngữ đặc thù hay là một mẩu của ngôn ngữ đó. Phải chia nó ra các đơn vị, sau đó tổ hợp lại, tìm chìa khóa để hiểu ý nghĩa của các yếu tố. Ở đây phải biết các đặc điểm của ngôn ngữ nói chung. Cho phép giới hạn phạm vi tìm tòi, cách tổ hợp kí hiệu, phương thức phân loại, giải mã. Trong trường hợp này là quá trình đi từ ý nghĩa trừu tượng của kí hiệu đến các ý nghĩa cụ thể. Ý nghĩa trừu tượng nhất của các kí hiệu là của tông hợp các kí hiệu, tức là mã. Ý nghĩa trừu tượng của kí hiệu tức là mã. Còn ý nghĩa cụ thể là thông tin. Ý nghĩa trừu tượng đó là cái siêu thông tin.

      Siêu thông tin là tri thức biết rằng khách thể ấy là mã thuộc về các hiện tượng đời sống hoặc văn hóa con người. Tóm lại các tri thức về khách thể đã cho mang một thông tin nào đó, có ý nghĩa (có nghĩa là một cái gì đó dùng để làm cái gì đó). Chỉ xuất hiện khi nào ta tin chắc có thể xếp khách thể đó vào lĩnh vực các hiện tượng sinh vật.

      Việc mở rộng liên tục của siêu thông tin về sự phụ thuộc của một khách thể mã nào đó vào một lớp mã hẹp nào đó là điều kiện quan trọng để giải một cách căn bản cái mã đó. Còn việc thu hẹp phạm vi tùy thuộc sẽ dẫn đến lí giải nội dung thông tin của nó.

       Văn hóa con người không biết đến các mã độc đáo một cách tuyệt đối. Bất cứ mã nào, dù ở dưới dạng nào,  dù là vật độc đáo mà nhà khảo cổ tìm ra, bao giờ cũng có những cái tương đồng có thể xác định được. Phán đoán về sự tương đồng nhờ vào trực giác để giải mã. Đồng thời văn hóa con người cũng không biết tới các mã dư thừa một cach tuyệt đối. Ngay các mã phù hợp một cách chặt chẽ nhất mà khoa học biết tới, cũng có thể hoàn toàn loại trừ độ thừa đó.

       Độ thừa của mã cho biết mức độ lí giải ý nghĩa của nó, khi nó được xem là đã giải. Mức độ này được xác định bằng nhu cầu và mục đích của chủ thể nhận thức, mặc dù những nhu cầu và mục đích đó do điều kiện lịch sử xã hội quy định, thể hiện trình độ phát triển cụ thể của hệ thống tự tổ chức.

Khi nói tới trình dộ phát triển của chủ thể nhận thức là nói tới trình độphát triển  của xã hội do thực tiến quy định. Xác định một khách thể nào đó là mã  có nghĩa là  có một siêu thông tin về nó.

      Hai bài toàn giải mã: giải mã xuôi và giải mã ngược.

1. Giai thích thông tin của một mã sau khi đã biết mã, nhiệm vụ xuôi.

2. Khi có một thông tin nhưng  mã của nó chưa biết, đi tìm mã đó là nhiệm vụ ngược.

3. Tìm giải mã là xác định sự phù hợp giữa các kí hiệu, cấu trúc,  thuộc tính của khách thể mã (các đặc điểm lí, hóa của nó) và cái mà chúng có nghĩa là gì đối với hệ thống tự tổ chức đó (hay là lớp các hệ thống đó). Bài toán ngược khó hơn. Đó là khi ta nhận ra một thông tin nhưng không rõ bằng cách nào ta nhận ra được điều đó, mà chưa biết có những ý nghĩa, 1. khi yếu tố mang thông tin, (tức là các phương tiện) chưa được biết tới; 2. khi yếu tố mang thông tin (tức là   phương tiện mà qua đó ta nhận biết được thông tin), về bản chất đã biết rồi, nhưng vẫn chưa biết bằng cách nào mà  các phương tiện ấy truyền thông tin cho ta (tức là quy tắc lập mã),  Sự phụ thuộc về mã đối lập với hệ hình vật chất của yếu tố mang thông tin.

      Trên  đây giới thiệu tầm quan trọng của mã trong các hệ thống tự tổ chức và các bình diện của việc giải mã.

 

Nguồn: Tạp chí Những vấn đề triết học, số 12/ 1989, tiếng Nga.

 

Advertisements

About Trần Đình Sử

Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Giải mã và các phương diện của nó

  1. Pingback: Tin Chủ Nhật, 30-03-2014 « BA SÀM

  2. Pingback: Tin Chủ Nhật, 30-03-2014 – LIỆU MỸ CÓ TRỞ THÀNH ĐỒNG MINH CỦA VIỆT NAM? | Dahanhkhach's Blog

  3. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN CHỦ NHẬT 30-3-2014 | Ngoclinhvugia's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s